Home Khảo cứu Đức Phật và Tăng đoàn đầu tiên có ăn thịt không?
Đức Phật và Tăng đoàn đầu tiên có ăn thịt không? In Email

Nền tảng của việc ăn chay dựa trên hai nguyên tắc đạo đức Phật giáo: thứ nhất, lòng từ bi, không làm tổn hại đến sinh vật khác; thứ hai, nguyên tắc duyên sinh: cái này tồn tại thì các kia tồn tại. Sự phát triển của Phật giáo qua nhiều văn hóa và quốc gia đưa đến tình trạng phức tạp là không phải tất cả các Phật tử đều ăn chay.

Tăng ni ở các nước theo Phật giáo nguyên thủy hiện vẫn còn duy trì cách hành trì khất thực nên khi được đại chúng cúng dường món ăn nào thì ăn món ăn đó, không được chối từ. Theo lòng tin thông thường, khi có cơ hội được cúng dường chư tăng, Phật tử có thể có thêm ‘công đức’ để kiếp sau có thể sinh vào một cảnh giới khác tốt đẹp hơn. Chưa cần phải bàn luận xem quan niệm này có khả năng hiện thực đến mức nào, là chánh tín hay mê tín, nhưng ít nhất đây cũng là một động cơ khuyến khích Phật tử hành thiện: làm điều lành, tránh điều dữ, thanh lọc tâm ý …và xây dựng nền luân lý cho nhân sinh. Chỉ trừ khi muốn trừng phạt những thành phần Phật tử đặt những điều gian dối nói xấu tăng đoàn, mỗi khi đi khất thực tăng đoàn phải lựa một lộ trình mà tất cả mọi người đều có cơ hội đồng đều cúng dường chư tăng  Có lần một số chư tăng trong giáo đoàn đầu tiên cố ý tránh những khu nhà giàu và đi khất thực ở những khu nhà nghèo, vì muốn có thêm nhiều nghèo có dịp nhận được công đức do việc cúng dường hơn. Khi hay biết điều này, Đức Phật khiển trách và nói là các chư tăng phải đi khất thực theo một lộ trình cho mọi giới đều có cơ hội cúng dường chu tăng, không phân biệt giàu nghèo.

Giới luật cấm các tỳ kheo trữ hay nấu thức ăn vì sợ trong quá trình trồng trọt, sản xuất hay nấu nướng, một số các sinh vật có thể bị tổn hại. Ngay cả khi dùng nước sinh hoạt hàng ngày tăng ni cũng phải cẩn thận, phải để tránh làm tổn hại đến các vi sinh vật sống trong đó. Ăn chay do đó không phải chỉ phản ảnh một lối sống mà còn thể hiện nền tảng đạo đức căn bản của Phật giáo: bất bạo động. Vấn đề là, Đức Phật và tăng đoàn đầu tiên có tôn trọng và giữ được giới không làm tổn hại đến sinh mạng của các loài hữu tình không?

Các tăng già Nguyên thủy vì vẫn còn giữ lối hành trì cũ nên không bị lâm vào trường hợp phải ‘chọn lựa’. Họ vẫn tiếp tục nhận thực phẩm cúng dường một cách không phân biệt. Chỉ có các nhà sư Đại thừa là phải ‘chọn lựa’, mặc dù đa số chấp nhận việc ăn chay. Ngay cả các cư sĩ tại gia cũng chọn lựa việc ăn chay trong giới hạn có thể làm được, ăn chay trong những ngày rằm hay các ngày vía lớn. Hiện nay chỉ có các tăng sĩ Tây Tạng xem việc ăn thịt là chuyện ‘đương nhiên’, như một nhà sư Tây tạng tuyên bố: ‘Chúng tôi dân Tây tạng ăn thịt’.

Dĩ nhiên có một số tăng ni Đại thừa ‘phá giới’ và dựa vào các sự kiện lịch sử này để biện chính cho hành động ăn thịt của mình. Trong một chuyến đi thăm Úc, một nhân viên phục vụ dọn cho Đức Đạt Lai Lạt Ma một dĩa thịt, sau đó xin lỗi và định đổi lại một món chay, Đức Đạt Lai Lạt Ma từ tốn cám ơn và nói: “Đại chúng cho chúng tôi ăn gì, chúng tôi ăn đó”.

Trong kinh Jivaka Sutta (Chuyện tiền thân của Đức Phật, không phải là chính kinh) có một đoạn cho thấy ít nhất là Đức Phật biết các tỳ kheo ăn thịt nhưng không quở trách: “Có ba trường hợp (Phật tử) được phép ăn thịt là khi không nghe, hay không thấy và không biết người đó giết súc vật để đãi mình”.

Nhiều học giả nghi ngờ đoạn này do một số nhà sư thèm ăn thịt thêm vào, tuy nhiên có nhiều đoạn khác cho thấy Đức Phật thực sự biết một số tỳ kheo ăn thịt nhưng Ngài không khiển trách. Và chính Đức Phật trong 45 năm hành trì  cũng ăn thịt. Thay vì né tránh, chúng ta phải giải thích sự kiện này ra sao?

Giai thoại Đức Phật nhận cúng dường sữa, bỏ con đường khổ hạnh để theo con đường trung đạo và nhờ đó mà giác ngộ. Nhưng ăn thịt có đi ngược lại với nguyên tắc không làm tổn hại sinh vật không?

Chúng ta phải đi ngược lại hoàn cảnh xã hội Ấn Độ khi Đức Phật còn tại thế, và cách thức tăng ni thực hành chánh pháp, chúng ta mới hiểu tại sao Đức Phật cho phép tăng đoàn đầu tiên ăn thịt.

Thứ nhất là tăng đoàn luôn luôn di động, không ‘trụ trì’ ở một ngôi chùa cố định nào, cách thức có thể mô tả là ‘Đem chùa đến với Phật tử’ thay vì  ‘chờ Phật tử đến chùa’. Tăng đoàn chỉ ‘an cư’ vào mùa mưa, khi mặt đất có nhiều côn trùng chui ra và các vị sư không muốn vô tình ‘phạm giới’ sát sính bằng cách dẫm lên trên các côn trùng này.

Giới luật cũng cấm tăng già trữ thức ăn do đó họ phải đi khất thực hàng ngày và dựa vào sự cúng dường của đại chúng để sinh sống. Số lượng dân chúng ăn chay thời đó chắc không nhiều và tăng già không có sự chọn lựa nào khác hơn.   Không phải chỉ có Phật tử mới ăn chay. Tín đồ Jain còn nghiêm minh hơn trong việc cấm ăn thịt và theo một vài tài liệu trong giáo sử, cũng gặp khó khăn trong việc cử ăn thịt.

Tuy nhiên giới cấm sát sinh là tuyệt đối. Tăng già nào cố ý làm tổn hại đến sinh mạng của một chúng sinh hữu tình khác  là phạm trọng giới. Tăng già nếu gặp thú rừng đang mắc bẫy có thể tự thay thả các con thú mắc bẩy ra, dù trên nguyên tắc đó là đã phạm giới ‘nhận những gì không cho’ (trộm cắp). Vì cần đem giáo pháp đến tận nhà Phật tử, Đức Phật cũng như tăng già phải đi từ làng này sang làng nọ và những người cúng dường không quen biết, nên không có cách nào biết họ là có ăn thịt hay không.

Tăng đoàn phải cho tất cả mọi người, dù Phật tử hay không, có cơ hội tích lũy ‘công đức’ để họ có thể tái sinh trong một cảnh giới khác tốt đẹp hơn. Nếu không, tăng già đã can thiệp vào nghiệp báo của họ một cách không cần thiết.  Vì thế một nhà sư được cúng dường,  có bổn phận về mặt luân lý phải tiếp nhận phẩm vật cúng dường. Có một trường hợp khác, các nhà sư chỉ được phép ăn thịt khi họ mắc bệnh.

Trong phần giáo huấn các cư sĩ, Đức Phật cũng nhấn mạnh đến nguyên tắc bất bạo động: “Ta nói cho các con nghe về phẩm hạnh của một người cư sĩ để trở thành một Phật tử tốt: “Không bao giờ làm tổn hại đời sống, không khiến kẻ khác làm tổn hại đời sống; không chấp nhận việc làm tổn hại đời sống. Không áp đảo đời sống của chúng sinh hữu tình khác, dù chúng mạnh hay yếu”.

Lời dạy này rõ ràng khuyến khích Phật tử kiêng ăn thịt và không giết hại thú vật để ăn thịt. Tình trạng nghịch lý là trong khi tăng già ăn thịt, Đức Phật lại khuyến khích cư sĩ kiêng ăn thịt để tránh làm tổn hại đến sinh mạng của các chúng sinh hữu tình khác. Hy vọng là nếu con số Phật tử tại gia tăng lên, thành phần cúng dường thức ăn chay cũng sẽ tăng lên. Đức Phật và tăng đoàn  lo sợ là khi đến thăm một làng, dân chúng có thể hùa nhau giết thú vật để cúng dường chư Tăng, trong ‘kinh’ Jikava Sutta cũng có một đoạn khác ngăn cấm việc Phật tử giết mổ thú vật để cúng dường chư tăng, vì như thế có khác gì lễ hội ‘hy sinh’ của Bà La Môn mà Đức Phật cực lực chống đối:

Nếu người nào mổ thịt để cúng dường Như lai, công đức có được sẽ đều mất hết. Làm thú vật đau đớn khi giết mỗ, bao nhiêu công đức cũng đều mất cả (dẫn lại theo Bodhipaksa, tr 82).

Một thế kỷ sau sau jhi Đức Phật nhập niết bàn, Đạo Phậtphát triển mạnh mẽ tại Ấn Độ. Hoàng đế Asoka khắc một hịch trên trụ đá, đề cập đến việc bớt mổ thịt, khuyến khích cư sĩ ăn chay:

Hàng trăm súc vật bị mỗ thịt hàng ngày trong nhà bếp của hoàng gia. Khi bài hịch này được khắc, mỗi ngày chỉ được mỗ thịt hai con nai và một con công. Và không được mổ nai thường xuyên. Trong tương lai, không được mổ ba con thú trong một ngày.

Asoka lúc làm hoàng đế chưa xuất gia, còn là một cư sĩ bình thường. Bài hịch của Asoka cho thấy mức quần chúng Phật tử ăn chay lúc bấy giờ có thể tăng lên rất nhiều và thức ăn chay dành cúng dường cho chư tăng do đó cũng tăng nhiều. Trong hồi ký hành hương của một nhà sư Trung Quốc, Pháp Hiền, cho thấy mức độ ăn chay trong quần chúng Phật tử ở Ấn. Pháp Hiền có nhắc đến hình ảnh “dân chúng ở nước này (Ấn)  ít giết súc vật. Không thấy heo, gà vịt được nuôi dưỡng, không thấy gia súc đem ra chợ bán. Không có người bán thịt hay rượu trong chợ, chỉ trừ nhóm người hung dữ Chandalas (Untouchables?) làm nghề biển và làm thợ săn thú”.  Một vài hình ảnh do Pháp Hiền vẽ lại có thể thêm thắt quá đáng, nhưng chứng tỏ quần chúng Phật tử ăn chay đã nhiều.  Và chúng ta có thể suy đoán là tăng đoàn cũng có thêm thức ăn chay do Phật tử cúng dường.

KInh Lăng Già ngược với kinh Jikava chống đối việc ăn thịt:

“Cho rằng vì mình không giết mổ thú vật, hay không ra lệnh cho người khác giết mổ súc vật vì lạc thú, nên cho mình được phép ăn thịt, là một điều không đúng.” (Bản dịch của Suzuki)

Chống đối việc giết thú vật, Kinh Pháp Cú dùng những hình ảnh sống động hơn: “Những ai muốn làm thương tổn đến sinh vật khác vì lạc thú, sẽ không bao giờ tìm thấy hạnh phúc”

Đức Đạt Lai Lạt Ma tuyên bố là ai cũng muốn có hạnh phúc. Chúng ta có thể nới rộng thêm áp dụng cho chúng sinh hữu tình như súc vật. Không con vật nào muốn bị ‘người khác’ ăn thịt. Cũng như con người, chúng run sợ khi gặp nguy hiểm. Có một hôm chứng kiến một số các đứa bé dùng cây gậy đánh vào mặt ao nước để khủng bố con cá trong ao, Đức Phật hỏi: “Các con có sợ đau không? Các con có không thích bị đánh đau không?”

Kinh Pháp cú có nhắc đến một hình ảnh sống động:

Chúng sinh nào cũng đều run sợ trước nguy hiểm. Khi một người biết như thế, anh ta không bao giờ giết (người) hay gây tổn hại cho người khác.

Chúng sinh nào cũng đều run sợ trước nguy hiểm, đều trân quý đời sống, khi một người biết điều này anh ta sẽ không giết người hay gây ra chuyện giết người.”

Có cung thì có cầu. Vì có người ăn thịt nên có đồ tể xẻ và bán thịt. Chính vì chúng ta ăn thịt nên đưa đến những bạo động trong lò sát sinh.

Công nghệ nuôi súc vật ăn thịt hiện đại

Trước khi cầm một miếng thịt đưa vào miệng, nên biết một số chi tiết của công nghệ chăn nuôi hiện đại như sau.

Trẻ con ở các nước Âu Mỹ đều biết bài hát “Old MacDonald has a farm. Í í a a ồ” Chúng ta cũng có những hình ảnh thơ mộng như bò đủng đỉnh gặm cỏ trên đồi cỏ non!

Tuổi thọ thiên nhiên của trâu bò chừng 20 năm nhưng trong công nghệ nuôi bò thịt, tuổi thọ của bò chừng 4 tuổi. Trung bình bò sữa sản xuất hang năm chừng 1000 lít sữa. Tuy nhiên vì lựa giống bò tốt và kỹ thuật trong công nghệ nuôi bò sữa, mỗi con bò công nghệ mỗi năm được vắt từ 6000 lít tới 10,000 lít!

Để đạt chỉ tiêu này, bò bị vắt sữa quanh năm, chỉ trừ vài tuần trong khi đang có mang gần sinh nở. Khi gần sinh con, bò không thể nào chịu nổi sức nặng của con bò sắp sinh trong bụng và vừa phải cung cấp sữa. Bò sữa thường bị triệu chứng thiếu ăn, thiếu chất vôi và magnesium và đến lúc phải sụm vì không chịu nổi sức nặng của thân mình. Bò sữa thường thụ thai nhân tạo với các giống bò ‘tốt’ to lớn. Có nghĩa là bò sinh con lớn hơn là vòng xương chậu của bò mẹ và thường phải sinh bằng cách mổ. Và vì thế tuổi thọ của bò càng giảm. Bò sữa phải sinh con  mỗi năm để có sữa cung cấp cho người tiêu thụ. Bò con (calf) ngay sau khi sanh chỉ được nuôi bằng sữa tổng hợp, không được uống cà sữa mẹ! Sữa mẹ dành cho con người. Và sau khi sanh không bao lâu, bò con không được gần mẹ, bị bắt được nuôi riêng trong công nghệ ‘bò non’ (veal). Vì bị vắt sữa quá mức và bò thường bị đau khớp cho đến khi không còn đứng được nữa. Không còn cung cấp sữa nữa bò trở nên vô dụng đối với trại chủ và con đường độc đạo là con đường vào lò sát sinh. Chừng 42 % bò non ‘được’ xẻ  thịt trong vòng 18 tháng.

Bò thịt bị thiến và cắt sừng mà không có thuốc mê hay thuốc tê dù sừng là nơi có nhiều dây thần kinh và mạch máu. Nông gia không dại gì tốn tiền thuốc mê hay tê, không phải vì nông dân ác độc, nhưng vì lý do kinh tế. Bò non thường có thịt màu xanh và rất mềm. Một ngày sau khi sanh, bò non bị bắt sống xa bò mẹ và được giữ trong một chuồng nhỏ, không có chỗ vận động, đi lại, để giữ thịt mềm! Các con bò non này không được ăn thức ăn đặc mà chỉ được uống sữa tổng hợp (không được uống sữa mẹ vì sữa mẹ đắt, chỉ dành cho người tiêu thụ). Đây là phương cách cố ý làm bò non trong tình trạng thiếu máu để giữ màu thịt xanh theo đúng ý của khách tiêu thụ!

Các con bò non được chuyên chở đến các lò thịt trong tình trạng chật chội và chen chúc trong nhiều tiếng đồng hồ, nhiều khi đến 28 tiếng đồng hồ không được ăn hay uống. Vào năm 1995 dân chúng Anh biểu tình chống đối cách chuyên chở này. Luật chuyên chở bò đến lò thịt thay đổi ở Anh nhưng ở các nước khác cũng vẫn giữ nguyên như vậy. Phục vụ kinh tế thị trường quan trọng hơn là an sinh của súc vật.

Khi cúm gà bùng nổ ở Hồng Kông nhiều người chép miệng cho rằng có lẽ những ‘nạn nhân’ không tiếng nói đã trả thù thái độ ác độc trong công nghệ nuôi gà hiện đại. Không ai biết được vế thứ nhất có đúng không, nhưng vế thứ hai thì chính xác vô cùng!

Khi được xem một video về cách nuôi gà công nghệ, Đức Đạt Lai Lạt Ma đề nghị là chúng ta nên ăn các con thú lớn vì có nhiều thịt để chia xẻ với nhau. Nên nhớ chư tăng Tây tạng ăn …thịt và phần lớn là thịt cừu. Từ chân núi Hy Mã lạp sơn đến đỉnh núi, không có đồng bằng hay rừng rậm để nuôi loại thú nào khác, trừu là thức ăn căn bản của dân Tây Tạng.

Đề nghị của Đức Đạt Lai lạt ma không phải là một giải pháp, nếu không hiểu hoàn cảnh của Tây Tạng, còn là một giải pháp ..buồn cười. Chúng ta đang bàn luận về ăn chay dưới góc độ từ bi và trừu là một súc vật thượng đẳng, có thể có hệ thống thần kinh và óc não cao hơn gà vịt, nghĩa là đau đớn về thể xác nhiều hơn khi bị mổ xẻ thịt.  Gà Free range (dịch giả đại chúng xuất sắc nào đó dịch từ này là ‘Gà chạy bộ’) tuy nhiên tên gọi này chỉ d8e63 dối gạt người tiêu thụ vì thật ra gà ‘chạy bộ’ cũng bị nhốt trong chuồng như gà chuồng (Caged chicken). Tưởng tượng một con gà đứng trên một diện tích bằng một cuốn sách mở ra không có chỗ vươn cánh, không đi lại được, không ấp trứng…Chân cẵng gà tê bại, không nhúc nhích được, đôi khi da thịt bị dính vào lưới quanh chuồng (trung bình có chừng 30 ngàn con trong một chuồng, có công nhân nào để ý!) TRong khung cảnh sống đó gà đôi khi nổi cơn điên, dùng mỏ gà mổ thịt láng diềng. Vì thế công nhân thường cắt mỏ gà để tránh tình trạng này xảy ra. Gà không phải là loại chim hung dữ!

Gà trứng thường bị mổ thịt trong vòng một năm, phần lớn là gà mái. Gà trống đã bị giết một ngày sau khi sinh ra, vì lý do là không đẻ trứng được. Gà trống bị giết tập thể, nhiều khi bằng hơi ngạt, hay bị chết ngộp trong các túi ny lông, hay nhiều khi bị vất nguyên con vào các máy xay để lam thức ăn cho các gia súc (mèo, chó…) Các loại gà thịt (broilers) được nuôi trong một nhà kho lớn nhiều khi chứa tới 10 ngàn con, gà phải đứng trên một sàn bằng thảm đầy phân gà. Nhà kho không thoáng khí nên các vi khuẩn trong không khi truyền nhiễm bệnh tật một cách dễ dàng. Có thể đây là nguyên nhân gây cúm gà. Và chuyện ‘gà trả thù’ chỉ là câu chuyện mua vui, không ai có bằng chứng gì để biết thực hư ra sao!

Các nhà nghiên cứu các trại gà công nghệ cảnh báo công nhân và chủ nhân đừng ở trong trại quá lâu vì có thể bị nhiễm khuẩn và nếu bất đắc dĩ phải vào trại gà, thì phải mang khẩu trang. Chẳng thấy ai ‘kiến nghị’ mang khẩu trang cho gà.

Heo

Trư bát giới thường bị mắng với nhiều tên, nhưng có một lời mắng không đúng là ‘ngu như heo’. Thực ra heo là một loại thú ‘thông minh’ trên mức trung bình, ngang với chó, và cũng giống như các loài thú thông minh khác, thích đùa bỡn. Cũng như gà, heo được nuôi trong trại nuôi heo lón như nhà kho nhưng diện tích dành cho mỗi con heo chỉ đủ chỗ đứng, không đủ chỗ để heo quay đầu lại, dĩ nhiên là không có chỗ nằm. Chỉ khi nào làm tình để sinh con heo mớ được rời trại, làm tình với heo nọc giống đã được chọn lựa kỹ càng. Khi sinh được vài ngày, một công nhân bắt con heo vừa mới sinh và bẻ gãy răng (an toàn cho các công nhân về sau này) cắt đuôi (để các heo khác khỏi nghiến và nhai đến tận gốc đuôi khi chúng nổi điên)  và thiến heo (Bổn phận làm tình sinh con là của heo giống). Khi nổi điên heo cắn bộ phận sinh dục của nhau. Không phải bản tính heo hung dữ vì không thấy các hành động hung dữ này trong các heo rừng. Cũng như gà vì ở trong chuồng chật chội, heo dễ bị các bệnh truyền nhiễm, nhất là bệnh sưng phổi hay các bệnh truyền nhiễm về đường phổi khác (Cúm heo?).

Không giống như người heo không thể đổ mồ hôi để hạ nhiệt độ thân thể. Heo phải lăn lộn trên nền đầy phân và nước tiểu của chính mình. Giả sử con người bị nhốt trong hoàn cảnh tương tự chắc cũng đã nổi điên tự bao giờ.

Trong số các cầm thú nuôi công nghệ có lẽ vịt và cá được nuôi trong một môi trường gần tự nhiên nhất. Xem phim Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư (tôi thấy có lẽ kiếp trước Vịt chịu khó tụng kinh A Di Đà nhiều hơn gà, nên thảnh thơi bơi lội từng đàn trên nước. So với gà công nghệ, giả sử như không có mấy cán bộ kiểm dịch, lâu lâu kiếm vài con làm tiết canh ‘nhậu chơi’, vịt như sống trong nát bàn tịnh độ.

Một loại công nghệ thực phẩm khác là công nghệ nuôi cá, trong một môi trường gần thiên nhiên nhất. Tuy nhiên khi được đưa lên bờ bất thình lình chúng bị chết ngạt, chắc là đau đớn, nhưng cá và vịt không phải sống trong địa ngục trần gian như gà, heo và bò. Heo, bò còn trãi qua một địa ngục khác nữa là lò sát sinh.

Đầu năm nay (2011) hội bảo vệ súc vật Úc đã bí mật làm một thiên điều tra về cách giết bò tại các lò mổ bò ở Inđô làm dư luận công phẩn, khiến chánh phủ Úc phải ngưng xuất cảng bò qua In Đô 6 tháng để các lò mổ điều chỉnh kỹ thuật giết mỗ cho ‘nhân đạo’ hơn. Giết bò hay trừu theo nghi thức ‘tôn giáo’ càng ghê rợn hơn nữa. Hồi giáo và Do Thái giáo trước khi giết chết bò hay trừu, các đồ tể cắt cổ mấy con thú và treo ngược chúng cho đến khi máu chảy ra hết (mà họ gọi Halah hay Kosher). Nhưng 'ăn người bạn thân nhất của mình' (chó)  đối với tôi là chuyện ghê tởm và phi nhân nhất. Chuyện này chỉ xảy ra trong số những người ‘kính chúa kính cha’ và cho công nghệ 'nuôi chó' chỉ xảy ra ở Đại hàn (Từ khi Nam Hàn bị Tin Lành hóa??)

Khi bỏ vào miệng một đùi gà hay một miếng Beefsteak, xin Phật tử nhớ đến hình ảnh công nghệ nuôi gà và bò, và giả sử chưa có hoàn cảnh hay ý chí ăn chay trường, có thể ăn ít thịt lại và thêm nhiều rau cỏ. Muốn ăn chay dưỡng sinh lành mạnh xin đọc thêm các tài liệu của cư sĩ Nguyên Hiển hay Tâm Diệu trên Thư Viện Hoa Sen.

Viết theo Vegetarianism của Tỳ Kheo Bodhipaksa (thế danh Greame Stephen) một thành viên của Dòng Phật giáo Tây Phương (Western Buddhist Order) do Shangaraksita sáng lập và lãnh đạo, Tín đồ phần lớn ở Anh, Úc và New Zealand. Hiện quản trị trung tâm thiền quán Wildwind on line. TỪng giảng dạy Thiền cho các tù nhân. Xuất bản nhiều sách và băng CD về Mindfulness Meditation. Hiện sống ở New Hamshire (Anh) với gia đình.

 

Bài ngẫu nhiên

Can't create/write to file '/tmp/#sql_566_0.MYI' (Errcode: 13) SQL=SELECT a.*, u.name, u.username, cc.image AS image, CASE WHEN CHAR_LENGTH(a.alias) THEN CONCAT_WS(":", a.id, a.alias) ELSE a.id END as slug, CASE WHEN CHAR_LENGTH(cc.alias) THEN CONCAT_WS(":", cc.id, cc.alias) ELSE cc.id END as catslug,'link' as link FROM jos_content AS a LEFT JOIN jos_content_frontpage AS f ON f.content_id = a.id LEFT JOIN jos_users AS u ON u.id = a.created_by INNER JOIN jos_categories AS cc ON cc.id = a.catid INNER JOIN jos_sections AS s ON s.id = a.sectionid WHERE ( a.state = 1 AND a.sectionid > 0 ) AND ( a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_up <= '2014-07-29 10:40:08') AND ( a.publish_down = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_down >= '2014-07-29 10:40:08' ) AND a.access <= 0 AND cc.access <= 0 AND s.access <= 0 AND ( a.catid=3 OR a.catid=4 OR a.catid=5 OR a.catid=6 OR a.catid=7 OR a.catid=8 OR a.catid=9 OR a.catid=10 OR a.catid=11 OR a.catid=12 OR a.catid=13 OR a.catid=14 OR a.catid=15 OR a.catid=16 OR a.catid=17 OR a.catid=18 OR a.catid=19 OR a.catid=20 OR a.catid=21 OR a.catid=22 OR a.catid=23 OR a.catid=24 OR a.catid=26 OR a.catid=1 OR a.catid=2 OR a.catid=25 OR a.catid=27 OR a.catid=28 OR a.catid=29 OR a.catid=30 OR a.catid=31 OR a.catid=32 OR a.catid=33 OR a.catid=34 OR a.catid=35 OR a.catid=36 OR a.catid=37 OR a.catid=38 OR a.catid=39 OR a.catid=40 OR a.catid=41 OR a.catid=42 OR a.catid=43 OR a.catid=44 OR a.catid=45 ) AND ( a.sectionid=1 OR a.sectionid=3 OR a.sectionid=4 OR a.sectionid=2 OR a.sectionid=5 OR a.sectionid=7 OR a.sectionid=6 OR a.sectionid=9 OR a.sectionid=8 OR a.sectionid=11 OR a.sectionid=13 OR a.sectionid=12 OR a.sectionid=10 OR a.sectionid=14 OR a.sectionid=15 OR a.sectionid=16 OR a.sectionid=17 ) AND ((TO_DAYS('2014-07-30') - TO_DAYS(a.created)) <= '1500') AND s.published = 1 AND cc.published = 1 ORDER BY RAND() limit 0,5

Đọc nhiều tuần qua

Gắn tin vào

Home Khảo cứu Đức Phật và Tăng đoàn đầu tiên có ăn thịt không?
Đóng   X