WWW CHUYỂN LUÂN

 
  Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm mới Bính Tuất  Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

 Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
  Online số cũ
  Các số báo cũ
  Weblogs
   
 

Nối Kết:

 

  

Thư pháp

 
 
 

 

  

Thư pháp

 
 
 

  

  

  

 
 
 

Thầy NHẤT HẠNH

(Nguồn trích từ trang nhà Phù sa: Phusa.net)

 Bài giảng của Thiền sư Nhất Hạnh tại Học Viện Quốc Gia Chính Trị HCM, Hà Nội ngày 18 tháng 3 năm 2005

VAI TR̉ CỦA PHẬT GIÁO TRONG XĂ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI

III. Trao đổi.

Đề nghị của một giáo sư trong Ban tổ chức (BTC):

Hôm nay chúng tôi xin được chủ động một chút thưa thiền sư, chúng tôi muốn hỗ trợ thiền sư trong việc tọa đàm trao đổi. Để các quư vị khán giả đây sẽ đặt ra câu hỏi, trước hết xin ư kiến thiền sư. Sẽ có hai cách, một là các vị cử tọa chủ động nêu ra từng câu hỏi và thiền sư sẽ trả lời, hai là chúng tôi  tập trung lại những câu hỏi đó và đọc lên, sau đó thiền sư lựa chọn trả lời . Xin phép thiền sư cho ư kiến.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh : Xin tùy ư quư vị, chúng tôi sao cũng được.

Câu hỏi thứ hai : cũng xin thiền sư vui ḷng cho biết một số nét rất cơ bản về  đạo tràng Làng Mai của thiền sư hiện nay, những đặt điểm và xu hướng của nó, tất nhiên vừa qua chúng tôi đă được biết rất nhiều nhưng nếu có thể xin được biết thêm.

Câu hỏi thứ tư : trong lịch sử dân tộc Việt Nam th́ Phật giáo đă từng có những đóng góp đáng kể tạo nên sắc thái đặt biệt cho nền cho nền văn hóa Việt Nam. Vậy theo thiền sư  trong thời hiện đại Phật giáo có thể có những đóng góp ǵ cho sự phát triển của dân tộc, câu này vừa qua chúng tôi đă được nghe một chút.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh :

v Nhu yếu t́m về gốc rể của người Tây Phương

Kính thưa liệt vị người Tây phương rất có nhu yếu t́m về gốc rễ của họ, như vậy nhu yếu đó cũng giống như nhu yếu của chúng ta là luôn luôn muốn t́m về gốc rễ. Hoa kỳ có những người có gốc Ái Nhĩ Lan, có gốc Đức, có gốc Ư.  Khi mới qua Hoa kỳ để  lập nghiệp có thể họ chưa có nhu yếu đó, hoặc là cái nhu yếu đó chưa đủ mạnh. Nhưng cuối cùng đến thế hệ thứ hai thứ ba th́ nhu yếu đó từ từ  biểu hiện ra. Và tất cả những người lập nghiệp tại Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ đều có chí hướng muốn t́m về gốc rễ của ḿnh ở Âu Châu rất là rơ. Tuy  họ không có an trí một bàn thờ tổ tiên ở nhà của họ, nhưng  trong nhiều nhà ho vẽ ra cái cây để cho họ thấy cái chi của ḿnh nó tới từ những cái nhánh nào.

Và thiền sinh mỗi khi tới Làng Mai th́ được thực tập cụ thể hơn. Chúng tôi thiết lập một bàn thờ tổ tiên cộng đồng. Đến ngày thờ cúng tổ tiên th́ cái bài vị rất là vĩ đại, có những tờ giấy được cắt thành h́nh trái tim, hoặc h́nh trái cam và mỗi người viết xuống đó tên họ vị tổ tiên của ḿnh mà ḿnh muốn tiếp xúc. Tất cả các thiền sinh đều dán bài vị của những người đó lên trên bàn thờ và chúng tôi cũng làm cỗ. Những người Ḥa Lan th́ họ tổ chức với nhau để làm ra những món ăn đặc biệt Ḥa Lan để dâng lên bàn thờ tổ tiên. Những người Pháp th́ họp lại với nhau để làm ra món ăn đặt biệt Pháp để dâng lên bàn thờ tổ tiên cộng đồng. Sự thực tập ở chổ này không phải là khi đặt món cúng lên bàn rồi thắp hương mới là thực tập. Thực tập là ngồi lại bàn với nhau  những món nào mới là quốc hồn quốc túy của nước ḿnh, rồi cùng đi chợ mua những yếu tố để về làm những  món đó. Khi ngồi bàn với nhau như vậy th́ đă là thực tập rồi và khi đi chợ có niềm vui  huynh đệ, đến khi về th́ các ông các bà Ḥa Lan họp nhau để làm. Trong khi nấu  th́ ḿnh đang tiếp xúc với tổ tiên với truyền thống của ḿnh rồi. V́ vậy không khí rất là vui giống như  không khí ngày hội. Ngày thờ cúng tổ tiên tổ chức tại đạo tràng Làng Mai là  như vậy.

Đến giờ phút thỉnh chuông và thắp hương th́ mọi người đều ngồi thiền trước để cho tâm tư lắng đọng. Khi  dâng hương xong, chúng tôi đọc lời khấn nguyện tổ tiên. Chúng tôi đọc bằng nhiều thứ tiếng, nhưng mà chúng tôi không đọc hết các thứ tiếng được, cho nên chúng tôi chỉ đọc tiếng Ư, tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Anh tiếng Việt, chừng sáu bảy thứ tiếng thôi. Và chúng tôi có cảm tưởng rằng tuy là từ 40 nước tới với nhau, nhưng chúng tôi đích thực là một gia đ́nh, một gia đ́nh tâm linh. Đức Phật Thích Ca là một tổ tiên tâm linh của ḿnh và các thầy Ca Diếp A Nan cũng là tổ tiên tâm linh của ḿnh.  Khi các thiền sinh Tây phương về Việt Nam để tham quan những ngôi chùa xưa ở miền Bắc, miền Trung hay miền Nam th́ họ cũng có cảm tưởng họ là con cháu trở về với quê cha đất tổ, tuy rằng tổ đây là tức là tổ tiên tâm linh.

Tôi không biết sau này người Tây phương sẽ thờ cúng tổ tiên dưới h́nh thức nào nhưng tôi có thể nói rằng tiếp xúc với Phật giáo, họ thấy rằng sự thực tập : ba cái lạy, năm cái lạy, thờ cúng tổ tiên giúp cho họ thiết lập lại được quan hệ với tổ tiên huyết thống, với tổ tiên tâm linh. Và giúp cho họ lấy đi cái cảm giác bơ vơ lạc lỏng phóng thể và phục hồi lại được sức khỏe tinh thần của họ.

Điều này rất quan trọng và đây là một đóng góp lớn của Làng Mai, của văn hóa Việt Nam cho thế giới Tây Phương. Sự thực tập tiếp xúc với tổ tiên, giúp cho con người lạc lỏng truyền thông lại được với tổ tiên, nói chuyện lại được với tổ tiên trong đời sống hằng ngày  là điều rất  quan trọng.

 

v Thiền là sự sống

Thiền là văn hóa, là sự sống. Khi chúng ta đưa tâm trở về với thân để có mặt đích thực trong giây phút hiện tại, đó là thiền. Và nếu chúng ta quen, th́ một hơi thở vào cũng đủ để giúp cho tâm trở về với thân và có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Chúng ta biết rằng thương yêu có nghĩa là có mặt cho người ḿnh thương yêu. Nếu anh không có mặt th́ làm sao anh thương yêu được. V́ vậy điều kiện tiên quyết của sự thương yêu là ḿnh phải có mặt cho người yêu. Và cái món quà quư nhất ḿnh có thể tặng cho người yêu của ḿnh là sự có mặt của ḿnh, chứ không phải là một món quà mua ở siêu thị.

Sự có mặt của ḿnh phải có phẩm chất, phải tươi mát, phải ngọt ngào và v́ vậy cho nên phải làm thế nào để ḿnh thật sự có mặt. Và sự có mặt của ḿnh nó tươi mát nó ngọt ngào đó là thiền. Nếu ḿnh có những cau có những giận hờn những buồn tủi, sự có mặt đó thực sự không có phẩm chất. Cho nên ḿnh phải thực tập thiền đi, thiền ngồi để tiếp xúc với những mầu nhiệm của đất trời, để phục hồi lại sự tươi mát, sự nhẹ nhàng, sự ngọt ngào của ḿnh và ḿnh tặng cái đó cho người ḿnh yêu, điều này quan trọng nhất.  Nếu quư vị  đích thực thương yêu ai th́ quư vị nên nhớ là tặng phẩm quư nhất mà ḿnh có thể tặng cho người ḿnh thương là sự có mặt của ḿnh. Em ơi em có biết rằng anh đang có mặt đích thực cho em ở đây không ?

Anh đang thật sự có mặt cho em”  là một câu thần chú, và đáp ứng tự nhiên sẽ là : anh ơi em biết rằng anh  đang sống bên em, em rất là hạnh phúc.

Thiền trước hết là sự có mặt, sự có mặt đích thực của ḿnh và sự có mặt của phẩm chất ḿnh hiến tặng cho người yêu, người yêu đó có thể là bố ḿnh, mẹ ḿnh, vợ ḿnh, chồng ḿnh hay là con ḿnh.

Thứ nhứt sự có mặt của ḿnh ngọt ngào tươi mát, thứ hai khi ḿnh có mặt thực sự rồi th́ ḿnh có thể nhận diện được sự có mặt của người yêu thương, có nghĩa là công nhận sự có mặt của người kia. Nếu quư vị lái xe mà ch́m đắm trong những suy tư, lo toan và hoàn toàn quên người ngồi bên cạnh quư vị, quư vị đă loại người đó ra khỏi vùng chú ư của ḿnh, và người đó không có cảm giác được thương yêu.  Cho nên thương yêu là công nhận sự có mặt của người yêu người ḿnh thương bên cạnh ḿnh. Bố ơi con biết rằng bố đang c̣n sống  với  con, con hạnh phúc quá. Đó là công nhận sự có mặt của người thương. Em ơi anh biết rằng em đang có mặt đó bên  anh và điều này làm cho anh rất có hạnh phúc. Đó là công nhận sự có mặt của người ḿnh yêu th́ những điều này đâu có tốn tiền, nhưng  nó đem lại hạnh phúc rất là lớn.

Hiến tặng sự có mặt của ḿnh cho người yêu, công nhận sự có mặt của người yêu như là một phẩm vật quư giá cho ḿnh đó là thiền ,quư vị có thể làm được. Và khi  người ḿnh thương có những khó khăn ,có những đau khổ th́ ḿnh nói rằng:  Em ơi anh biết rằng em đang có những khó khăn khổ đau v́ vậy  anh đang có mặt ở bên em đây,câu nói rất là an ủi ,th́ đó là thiền.

Thiền nghĩa là trước hết phải có mặt và sự có mặt của ḿnh  có thể là một  phẩm vật quư giá để hiến tặng và thiền là công nhận sự có mặt của người kia. Khi công nhận như vậy, người kia rất có hạnh phúc và ḿnh cũng rất có hạnh phúc.

Nhiều khi tôi đang đi thiền giữa một đêm trăng, tôi ngẩng đầu lên thấy trăng sao vằng vặc tôi mĩm cười  và nói chuyện với trăng sao : Cám ơn trăng có mặt đó cho tôi, cám ơn sao có mặt đó cho tôi, tôi rất là hạnh phúc. Ḿnh công nhận sự có mặt của trăng sao, th́ trăng sao có hạnh phúc rồi th́ ḿnh cũng có hạnh phúc. Người kia có thể là người yêu của ḿnh, là cha của ḿnh, là mẹ của ḿnh là ư trung nhân của ḿnh. Nhưng người kia cũng là một b́nh minh sáng chói hay là một vầng trăng tṛn hay là những ngôi sao sáng trên bầu trời. Đó là những mầu nhiệm của sự sống, khi ḿnh thực sự có mặt rồi th́ ḿnh công nhận sự có mặt của kẻ kia, kẻ kia có thể là người thương của ḿnh, kẻ kia có thể là những mầu nhiệm của sự sống, như là trúc biếc hoa vàng, trời xanh mây tím. Và thiền tức là sống sâu sắc ngay trong giây phút hiện tại. Nếu ḿnh đi thêm một bước nữa th́ ḿnh thấy thiền là khả năng nhận diện những nỗi khổ niềm đau. Nh́n sâu vào để thấy gốc rễ của nó và dùng trí tuệ vô thường, vô ngă, tương tức để chuyển hóa những  nỗi khổ niềm đau đó, th́ gọi là thiền. Năng lượng chúng ta sử dụng trong thiền gồm có ba thứ : Niệm, Định, Tuệ.

 

ta đă tới. Nếu chúng ta muốn buớc mau hơn nữa th́ khi thở vào ta bước hai bước ta nói đă về đă về, và khi thở ra ta bước hai bước ta nói đă tới đă tới. Về đâu ? tới đâu ? về với giây phút hiện tại, tới với giây phút hiện tại. Tại v́ giây phút hiện tại là địa chỉ của sự sống đích thực, quá khứ đă đi qua, tương lai chưa tới, sự sống chỉ có mặt đích thực trong giây phút hiện tại. Nếu chúng ta bỏ giây phút hiện tại th́ chúng ta đánh mất cái uớc hẹn, lỡ hẹn với sự sống. Chúng ta có ước hẹn với sự sống trong giây phút hiện tại và chỉ trong giây phút hiện tại mới thực sự có sự sống thôi đó là Tuệ giác đạo Phật.

Nếu chúng ta để cho tâm ta bị quá khứ lôi kéo, bị tương lai lôi kéo th́ ta không c̣n an trú được trong giây phút hiện tại nữa. V́ vậy chúng ta không  thực sự sống. Cho nên thiền có nghĩa là buông bỏ quá khứ, buông bỏ những lo lắng về tương lai, trở về và sống sâu sắc trong giây phút hiện tại. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân, mỗi nụ cười, mỗi ánh mắt đều giúp cho chúng ta sống sâu sắc với giờ phút đó và  đem lại hạnh phúc cho ta, cho những người chung quanh ta. Đây là một sự tập luyện chỉ trong vài ngày là chúng ta thấy được hiệu quả và niềm vui của sự thực tập.

Đó gọi là thiền duyệt, thiền duyệt là niềm vui của thiền định. Ngồi cũng hạnh phúc, đi cũng hạnh phúc đứng cũng hạnh phúc, thở cũng hạnh phúc, ăn cơm cũng hạnh phúc, uống trà cũng hạnh phúc, chải răng cũng hạnh phúc, đi tiểu cũng hạnh phúc. Trong khi chúng ta chải răng chúng ta chải như thế nào để có sự vững chăi thảnh thơi. Trong khi chúng ta đi tiểu chúng ta đừng có vội vàng, đi tiểu là một phần của sự sống, chúng ta phải có sự thoăi mái, sự thảnh thơi và hạnh phúc trong khi chúng ta đi tiểu đi cầu. Chính vua Trần Thái Tông đă nói như vậy, không phải chỉ đọc kinh với ngồi thiền mới là Phật Pháp, đi tiểu đi cầu giặt áo đều là Phật Pháp cả. Đó là những lời của vua Trần Thái Tông, cho nên sự thực tập thiền nó xảy ra trong bất cứ giờ phút nào của sự sống. Bất cứ ở đâu khi mà chúng ta bước những bước trên vỉa hè hoặc là siêu thị hoặc là phi trường, chúng ta có thể bước những bước chân thảnh thơi, bước như những con người tự do không để cho qua khứ  lôi kéo, không để cho tương lai làm cho e ngại. Bước từng bước thảnh thơi tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống, th́ bước ở phi trường cũng là thiền, bước ở bờ sông cũng là thiền đứng chờ đến phiên ḿnh đi vào cũng là thiền, không có mất giây phút nào hết.

 

v Đi như một ḍng sông

Truyền thống Trúc Lâm Yên Tử là một truyền thống có khuynh hướng tổng hợp. Trước khi có phái Trúc Lâm Yên Tử th́ chúng ta có những phái thiền khác như là phái T́ Ni Đa Lưu Chi, phái Tăng Hội, phái Vô Ngôn Thông, phái Thảo Đường, rồi có phái Lâm Tế rồi bắt đầu có phái Tảo Động. Nhưng  tất cả đều xuôi vào một ḍng sông và trở thành ra thiền phái Yên Tử, và ngày đó chúng ta có một vị quốc sư có tên rất hay Nhất Tông Quốc Sư. Nhất tông nghĩa là một tông phái thôi, đó thật sự là Phật giáo thống nhất trong nội dung chứ không phải trong h́nh thức. Tại v́ chúng ta có khuynh hướng muốn đi với nhau như một ḍng sông mà không có xé lẻ, không có đi riêng ra. Khi đi được với nhau như một ḍng sông th́ chúng ta sẽ mạnh như một cái thực tại.

Phương châm của chúng tôi tại Làng Mai là phải đi như một ḍng sông mà khi chúng ta đă được ḍng sông chấp nhận rồi th́ chúng ta thấy cộng đồng là chính thân của chúng ta, thân thể của chúng ta. Chúng tôi gọi là tăng thân, tăng tức là đoàn thể, chữ tăng không có nghĩa là người xuất gia đâu, chữ tăng vốn là chữ  Sangha tiếng Phạn chỉ có nghĩa là đoàn thể thôi. Đoàn thể tổ chức tu theo đạo Phật th́ gọi là tứ chúng, nó có bốn yếu tố. Tức là xuất gia nam, xuất gia nữ, tại gia nam, tại gia nữ gọi là tứ chúng. Vậy th́ khi ḿnh gia nhập vào trong  đoàn thể tu học rồi, th́ đoàn thể đó trở thành h́nh hài của ḿnh, tăng thân của ḿnh.

Cũng vậy, khi ḿnh có t́nh huynh đệ rồi th́ người nào cũng là thân thể của ḿnh và ḿnh thấy được nỗi khổ niềm đau của họ chính là nỗi khổ niềm đau của ḿnh, những khó khăn của họ là những khó khăn của ḿnh. Khi thấy được như vậy rồi, th́ sẽ không c̣n có cá nhân chủ nghĩa, sẽ không c̣n có chuyện đi t́m hạnh phúc riêng hay có những giấc mơ riêng. Cho nên Trúc Lâm Yên Tử là là một thiền phái có khuynh hướng ôm lấy tất cả mọi truyền thống và có tính cách nhập thế vào đời, chứ không phải đứng ra ngoài cuộc đời.

Chúng ta hăy tưởng tượng ông vua con tức là vua Anh Tông ngồi trên ngai vàng để trị nước và ông vua cha Trần Nhân Tông trở thành một đạo sĩ, một người xuất gia. Vào thời  vua Trần Anh Tông trị nước, thỉnh thoảng vua có mời các thầy và trong đó có chính vua Trần Nhân Tông vào cung thuyết pháp và tổ chức lễ quy y truyền giới cho các quan trong triều. Trong  thời đại đó th́ vua Trần Nhân Tông đă trở thành Trúc Lâm Đại Sĩ, là một ông thầy tu đi chân đất, không có đi xe không đi ngựa nữa. Và đi tới đâu cũng khuyến khích dân chúng tu tập theo năm giới, xây dựng t́nh huynh đệ và bài trừ mê tín. Vua Trần Nhân Tông với tư cách một thầy tu đă đi sang Chiêm Thành để thương thuyết để cho hai nước cộng tác với nhau, chấm dứt những tranh chấp ở biên giới. Khi làm vua th́ phục vụ cho ḥa b́nh, rồi  khi làm thầy tu cũng phục vụ cho ḥa b́nh nữa, đó là công trạng của vua Trần Nhân Tông, mà khi tu hành được tên là Trúc Lâm Đại Sĩ.

Chúng tôi nghĩ rằng chúng ta có những thiền phái rất là Việt Nam như là thiền phái Tăng Hội. Xin nhắc cho quư vị nhớ thiền sư Tăng Hội, cha là người miền Bắc Ấn  Độ di cư về miền Nam Ấn Độ thân phụ của thiền sư Tăng Hội đă đi qua Việt Nam với tư cách của một nhà buôn, một thương gia trẻ. Khi tới Việt Nam th́ thân phụ của thiền sư Tăng Hội mới yêu chuộng đất nước đó cho nên muốn ở lại luôn ở Giao Châu và ông ta đă cưới một thiếu nữ Việt Nam làm vợ. Sau đó sinh ra chú bé Tăng Hội v́ vậy thiền sư Tăng Hội sống ở đầu thế kỷ thứ ba, đă tu học thành đạt như một vị thiền sư ở Việt Nam ở thế kỷ thứ ba. Váo giữa thế kỷ thứ ba đă đi sang Trung Quốc vùng đất Đông Ngô (thời Tam Quốc) để giảng dạy đạo thiền, nghĩa là sớm hơn Tổ Bồ Đề Đạt Ma 300 năm. Chúng ta thường nghĩ rằng đạo thiền từ Trung Quốc truyền sang Việt Nam, nhưng kỳ thực ban đầu là thiền sư Tăng Hội của Việt Nam của Giao Châu đă đi sang truyền bá đạo thiền ở Trung Quốc ở  đất Ngô vào giữa thế kỷ thứ ba. Sách Cao Tăng truyện có cho chúng ta biết rằng khi thiền sư Tăng Hội đi sang nước Đông Ngô, th́ bên đó chưa có người Trung Quốc nào làm tăng sĩ  và chính thiền sư Tăng Hội đă tổ chức đàn truyền giới đầu tiên để cho những người Đông Ngô trở thành những vị xuất gia đầu tiên. Đó là vai tṛ của thiền sư Tăng Hội. V́ vậy chúng tôi đă khuyến khích những chùa thiền Việt Nam thay v́ thờ Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma là Tổ sư của thiền th́ chúng ta phải thờ Tổ Sư Tăng Hội là Tổ Sư thiền Việt Nam lớn hơn Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma 300 năm.

Chúng tôi đă viết sách thiền sư Tăng Hội, đă xuất bản bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và bằng tiếng Việt và cũng đă có những nghệ sĩ những nghệ nhân đă vẽ lại được h́nh tượng của thiền sư Tăng Hội để chúng ta có thể thờ trong các thiền viện Việt Nam. Và cố nhiên thiền Việt Nam có bản sắc của Việt Nam, nó có khả năng, nó có chức năng phục vụ cho  xă hội Việt Nam. Và tôi nghĩ rằng trong công tŕnh xây dựng một xă hội tốt đẹp của Việt Nam, đạo Phật có thể đóng một vai tṛ rất  lớn nếu chúng ta ư thức được, nếu chúng ta có can đảm chấm dứt nền học hỏi từ chương của chúng ta, và huấn luyện những người giáo thọ (những người cán bộ Phật giáo xuất gia cũng như cư sĩ) có khả năng đem đạo vào đời, giúp cho xă hội thiết lập lại được sự truyền thông, dựng lại cấu trúc gia đ́nh đó là ước mong của chúng tôi, xin cám ơn quư vị.

Các thầy các sư cô sẽ hiến tặng quư vị bài thiền sư Tăng Hội bằng tiếng Việt (Quư thầy, quư cư cô cùng tụng bài Thiền sư Tăng Hội).

 

Lời kết của BTC :

Kính thưa thiền sư, kính thưa các vị khách quư, các nhà khoa học, các đồng chí và các bạn ;t iếp sau đây chúng tôi xin mời phó giáo sư tiến sĩ Nguyễn Đức Lữ giám đốc trung tâm khoa học tín ngưỡng tôn giáo của học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh sẽ lên đọc lời cảm ơn với thiền sư trong các buổi vừa qua và sau đó nữa là phần tặng phẩm với thiền sư, xin các đồng chí chờ đợi.

 

Tiến sĩ Nguyễn đức Lữ

Kính thưa thiền sư Thích Nhất Hạnh kính thưa quư tăng thân Làng Mai kính thưa các nhà khoa học và các quư vị đại biểu.

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc và đa tôn giáo, mỗi tôn giáo ở Việt Nam có đặc điểm riêng song đều giữ được truyền thống gắn bó với dân tộc, hàng chục thế kỷ qua tồn tại của ḿnh Phật giáo đă ghi dấu ấn trong văn hóa trong lối sống của người Việt Nam. Thời kỳ phồn vinh nhất của văn hóa Lư Trần có sự đóng góp lớn lao của Phật giáo nước nhà cũng như một số tôn giáo khác đang tồn tại ở Việt Nam.

Vai tṛ đạo đức văn hóa Phật giáo là vấn đề đang được nhiều người quan tâm, đối với chúng tôi cuộc tọa đàm cùng thiền sư là một cơ duyên để hiểu thêm về vai tṛ Phật giáo trong đời sống hiện đại. Với kiến thức uyên thâm về Phật học và tri thức sâu rộng trên nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, qua hai buổi thuyết tŕnh và tọa đàm, thiền sư Thích Nhất Hạnh đă đem đến cho thính giả một lượng thông tin phong phú đa diện, đồng thời đă thể hiện chính kiến của thiền sư về tôn giáo và những vấn đề của thời đại. Dù thời gian c̣n hạn chế song trên tinh thần cởi mở thân thiện dân chủ và tôn trọng lẫn nhau, nên bước đầu thiền sư và chúng tôi đă đề cập được một số vấn đề đang được giới nghiên cứu rất quan tâm. Đó là :

Quan hệ giữa tồn tại xă hội và ư thức xă hội,

Quan hệ giữa khoa học và tôn giáo,

Giữa khách quan và chủ quan,

Vấn đề vô ngă vô thường,

Giữa thân và tâm,

Vấn đề mê tín trong họat động tôn giáo,

Quan niệm về mê tín về niết bàn về cơi tịnh độ về thiên đường cũng như giá trị đạo đức văn hóa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.

Vai tṛ Phật giáo trong đời sống hiện đại và đặc điểm của đạo tràng Mai Thôn mà chúng tôi c̣n biết một cách khiêm tốn.

Cuộc tọa đàm đă gợi mở nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và tiếp tục trao đổi. Với lối diễn đạt giản dị dể hiểu, khả năng khái quát rất cao, đồng thời biến cái trừu tượng thành cái cụ thể, với những ví dụ rất sinh động của Thiền sư, đă gây hứng thú và tập trung đối với  thính giả. Chúng tôi cho rằng hai buổi tọa đàm cùng thiền sư là bổ ích đối với những người nghiên cứu như chúng tôi.

Thưa thiền sư quư đ̣an và toàn thể quư vị đại biểu,

Nhận thức là một quá tŕnh, quá tŕnh ấy với mỗi cá thể là có hạn chế v́ lẽ đó chúng tôi đă tổ chức nhiều cuộc tọa đàm khoa học, nhưng với thiền sư đây là buổi đầu chúng tôi hy vọng sẽ c̣n tiếp tục tiếp kiến thiền sư. Qua hai buổi thuyết tŕnh và tọa đàm lần này chúng tôi nhận thấy không chỉ trao đổi về học thuật, cung cấp những thông tin về tôn giáo mà c̣n góp phần tạo sự gần gũi hiểu biết lẫn nhau giữa thiền sư với chúng tôi. Cùng đi với thiền sư, chúng tôi c̣n nhận thấy sự hiện diện của các vị tăng thân thiền sinh thuộc nhiều dân tộc thuộc nhiều quốc tịch khác nhau. H́nh ảnh của đoàn tăng thân Làng Mai đă minh chứng cụ thể sinh động về pháp môn lắng nghe, dùng ái ngữ để xây dựng t́nh huynh đệ trong mối quan hệ giữa con người với con người.

Thưa thiền sư và quư đoàn chỉ sau một ngày đọc tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đ́nh ngày 2/09/1945 chủ tịch Hồ Chí Minh đă đề nghị chính phủ tuyên bố tín ngưỡng tự do lương giáo đoàn kết măi măi. Nhân dân Việt Nam ghi nhớ và luôn thực hiện di huấn của người. Những năm vừa qua đồng bào các tôn giáo Việt Nam đă tích cực hưởng ứng tham gia phong trào thi đua yêu nước và xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc. Chức sắc và tín đồ các tôn giáo có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đảng và nhà nước Việt Nam trước sau như một luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Nhu cầu tâm linh của quần chúng tín đồ các tôn giáo chắc thiền sư và quư đoàn cũng đă được chứng kiến điều đó qua những cuộc thăm viếng những cơ sở thờ tự của các miền của đất nước.

Một lần nữa thay mặt cho cán bộ nghiên cứu giảng dạy thuộc trung tâm khoa học tín ngưỡng và tôn giáo của học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tôi xin chân thành cảm ơn thiền sư và đoàn. Chúc thiền sư và đoàn tăng thân Làng Mai mạnh khỏe an khang, chúc chuyến về thăm Việt Nam của thiền sư và đoàn đạt kết quả tốt đẹp. Xin cảm ơn các quư vị đại biểu đă đến tham dự đầy đủ hai buổi thuyết tŕnh rất bổ ích này và nhân dịp này chúng tôi thay mặt cho trung tâm cảm ơn tất cả các cơ quan các đơn vị và cá nhân đă tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi tổ chức cuộc hội thảo rất là tốt đẹp.

Để ghi nhớ chuyến thăm và làm việc của trung tâm giữa thiền sư  và các nhà khoa học, thay mặt cho trung tâm, chúng tôi xin kính tặng thiền sư bức tranh phố cổ Hà Nội, như một kỷ vật để chuẩn bị cho lễ kỷ niệm cho 1000 năm Thăng Long mà nhân dân cả nước đang đón đợi. 

Hà Nội ngày 18/03/2005

Một số bài Pháp thoại và tác phẩm của Thầy Nhất Hạnh

F Sự kết hợp kỳ diệu giữa thờ cúng tổ tiên của người Việt với tuệ giác đạo Phật.

   phần I:   giới thiệu

   phần II:  pháp thoại

   phần III:  trao đổi

F Vai tṛ của Phật giáo trong xă hội đương đại.

   phần I: pháp thoại

     pháp thoại (tiếp theo) 

   phần II:  trao đổi

F Tôn giáo và sự lành mạnh hoá xă hội.


Pháp thoại bằng audio

F   Pháp thoại trong năm 2006: Bài giảng ghi âm MP3  

F   Pháp thoại trong chuyến đi Việt năm 2007: Bài giảng ghi âm MP3  


Pháp thoại bằng video

F  An lạc trong từng bước chân,

         Sự tỉnh thức,

         An lạc trong phút giây hiện tại,

         Thiền hành.  ►►


BÀI VIẾT

» Ǵn giữ cho nhau (bài giảng ở toà Bạch ốc 12/2000)

» Nạn xưa trút sạch

» Tu phước và Tu huệ

» Ba câu trả lời mầu nhiệm

» Thắp sáng hiện hữu

» Bông Hồng cài áo
» Để thiết lập đối thoại
» Ôm cơn giận vào ḷng
» Kẻ thù ta
» Đối phó với cơn băo cảm xúc
» Để thiết lập đối thoại
» Làm lại thâm t́nh
» Hiến tặng cho nhau những điều tốt đẹp
» Vấn đề nhân vị trong đạo Phật
» Giấc mơ của chúng ta
» Tôi sẽ nói ǵ với Bin Laden (trả lời phỏng vấn)

» Resting in River, English version

» Question and Answer

» Interbeing

» Love letter

 Từ điển Làng Mai


SÁCH

» Tuổi trẻ t́nh yêu lư tưởng
»

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Design by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE