|
Tâm Hiện Đại
Quán Như
Phạm Văn Minh
Từ thần thoại
đến triết lư
Muốn hiểu văn
hóa ‘Tây phương’ không thể nào không t́m hiểu lịch sử triết
lư sinh động của Âu châu, từ thời cổ điển qua minh triết Hy
Lạp, thần học Ky Tô, Thiên Chúa, Tin Lành cho đến các triết
gia thời hiện đại và hậu hiện đại. Những từ ngữ như Tây
phương hay Hiện đại có nội dung quá phổ quát nhưng không có
cách nào khác hơn là tạm dùng các từ ngữ này trong tinh thần
‘danh khả danh’ , cho đến khi những nét chính của triết lư
‘Tây phương’ dần dần hiện rơ.
Triết lư chỉ
là một phần sinh hoạt trí thức nhỏ nhưng chủ yếu trong mạng
lưới văn hóa trùng trùng, cái này có là cái kia có,
như thuyết duyên khởi của nhà Phật. Những sinh
hoạt khác gồm
ư thức tôn giáo, đạo đức, chính trị, tâm lư, khoa học. Sinh
hoạt này ‘duyên’ sinh hoạt khác và đồng thời cũng chịu ảnh
hưởng của sinh hoạt khác, như trong xâu chuổi trong ‘lưới Đế
Châu’ (Indra), hạt chuổi này phản chiếu hạt chuổi kia. Muốn
hiểu sự thành h́nh của thế giới Tây phương hiện nay và tại
sao Tâm Hiện Đại (Modern Mind) đă ảnh hưởng và chi phối và
ảnh hưởng từng sinh hoạt ở Tây phương và nhiều khi c̣n được
xem là mô thức ‘lư tưởng’ cho cả thế giới, chúng ta phải đi
ngược lại lịch sử tư tưởng từ giai đoạn cổ điển đến giai
đoạn tư tưởng Hy Lạp (Hellenic era), qua thời Trung cổ dưới
sự thống trị của thần học Ky Tô, thời Phục Hưng, Cải Cách
của Tin Lành, thời kỳ khai sáng (Enlightenment) thường gọi
chung là thời hiện đại và cuối cùng là các trào lưu phản ứng
lại sự ‘độc tài’ của tinh thần duy lư (Rationalism) và duy
nghiệm (Empiricism), thường gộp chung là khuynh hướng Hậu
Hiện Đại (Post-Modernism).
Để hiểu ‘người
xưa’ sống và nghĩ thế nào, người quan sát lịch sử vừa phải
giữ thái độ quan sát ‘bàng quan’, không dùng ‘cặp kính mầu’
để phán đoán, nhưng đồng thời phải có phán đoán trung thực
vai tṛ của từng trào lưu tư tưởng trong ḍng tiến hóa liên
tục trong lịch sử. Thái độ t́m hiểu lịch sử tư tưởng mà
Tarnas gọi là ‘on their own terms’, đứng trong tâm cảnh của
người xưa để hiểu tại sao họ suy nghĩ và hành động như thế.
Việc phân chia
thời đại tư tưởng cũng tương đối v́ trong một thời đại nào
đó, một trào lưu tư tưởng nổi bật, bên cạnh gịng chảy chính
luôn luôn có gịng chảy tư tưởng dị biệt hay chống đối như
những đợt sóng ngầm. Càng đàn áp th́ càng có nhiều sóng ngầm
và nói đúng ra tại v́ có đàn áp nên có phản kháng. Đó là quy
luật biện chứng của lịch sử, văn hóa hay tư tưởng. Hy vọng
rằng lịch sử chấm dứt với một gịng chảy nào đó là một hy
vọng tuyệt vọng. Lịch sử tư tưởng không chấm dứt với
biện chứng Hegel như triết gia này cao ngạo tuyên bố, không
chấm dứt với chế độ đại đồng như Marx tiên đoán, hay với chủ
nghĩa suy nghĩ tự do (liberalism) trong chế độ tư bản khi
chiến tranh lạnh chấm dứt như Francis Fukuyama tuyên bố chắc
nịch trong The End of History and the Last Man. Sau
tác phẩm này Fukuyama phải vội vă viết thêm Our Posthuman
Future khi kỹ thuật tạo sinh vô tính làm rúng động các
đạo đức. Độc giả vui ḷng để ư đến từ ngữ Post-Human.
Khi nhóm Neocons (Tân bảo thủ) làm mưa làm gió từ thời
Reagan-Thatcher và kéo dài qua tới triều đại Bush cha và
Bush con, Fukuyama lại viết After the Neocons (After
th́ cũng như Post như một nhân vật trong kiếm hiệp của Kim
Dung Viên cũng là Không mà Không cũng là Không!).
Sau cuộc khủng hoảng tài chánh thế giới hiện nay, cái ǵ
sẽ xảy ra và ḍng chảy tư tưởng nào sẽ trở thành ḍng chính?
Có lẽ Fukuyama lại viết thêm Post-After cái ǵ đó! Que
sera sera! Thệ giả như tư phù bất xả trú dạ!
Lịch sử tư
tưởng Tây phương thường được chia là 3 giai đoạn: thời kỳ Cổ
điển, Trung cổ và Hiện đại. Tuy nhiên trong ṿng 25 thế kỷ
qua, có một gịng chảy ảnh hưởng mạnh mẽ và liên tục trong
tâm thức Tây phương là tư tưởng Hy Lạp. Tư tưởng Hy lạp đă
đem đến kỳ hoa dị thảo và tiếp tục là nguồn minh triết gây
cảm hứng cho các nhà tư tưởng Tây phương. Ngay cả trào lưu
hậu hiện đại cũng dựa trên tri thức luận Hy lạp để khai mở
ra một viễn tượng mới. Không có tư tưởng Hy Lạp đă không có
các nhà ‘cách mạng’ khoa học như Copernicus và Kepler.
Tarnas nhận xét là hiện nay người Tây phương vẫn c̣n suy
nghĩ như ‘người Hy lạp’.
Nhóm Hy Lạp
nói ngôn ngữ Indo-European đến ‘thực dân’ vùng Điạ Trung Hải
khoảng năm 750 trước Tây Lịch. Cũng như các dân tộc khác
trong thời rạng đông của lịch sử, triết học Hy Lạp phần lớn
biểu hiện qua h́nh thức thần thoại. Những thần linh Hy Lạp
đến nay vẫn thường được nhắc trong văn chương, triết lư và
kỹ thuật Tây Phương như Eros (Sinh lực đàn ông- sinh dục),
Gaia (đất mẹ- xuất hiện lại trong phong trào môi sinh), Zeus
(Nguyên lư sinh sản), Venus (thần Vệ Nữ), Aprodite (thần
hứng t́nh!), Appolo ( t́nh cờ, không đoán trước được-hỏa
tiển) Promethus (ăn cắp lửa trời-khuynh hướng nhân bản)
Dionysus (Say sưa, kích thích). Đó là thời kỳ triết học ‘bất
thành văn’ và phương tiện diễn đạt phần lớn là thi ca. Thi
sĩ Hesiode và nhất là Homer, tác giả thiên hùng ca Illiad và
Odyssey, tương truyền được sáng tác vào khoảng thế kỷ thứ 8
đến thế kỷ thứ 5 trước Tây Lịch, vẫn c̣n mê hoặc nhiều người
kể cả nhà thơ Đức Holderlin và các văn nghệ sĩ Tây phương
về sau. Trong thời khai nguyên này người ta biết có 7 nhà
hiền triết thành Miletus, qua những văn bản rời rạc và những
câu trích dẫn nhiều khi không ăn nhập ǵ nhau, có nhiều khi
tương phản (1) Thế nhưng qua tư tưởng của 7 nhà minh triết
này, tất cả vấn để muôn đời của triết lư (perennial
philosophy) được đề cập và thảo luận.
Ví dụ như các
nhà ‘vũ trụ luận’ bàn về thành tố nguyên chất của vũ trụ.
Theo Thales là nước, Empedocles chủ trương 4 thành tố đất,
nước, lửa và gió, như quan niệm ngũ hành của Khổng giáo hay
Tứ đại của Phật Giáo và ‘tinh thần’ của thế giới phi vật
chất (Mind-Nous). Có triết gia theo chủ trương ‘khoa học’ và
‘duy vật’ chủ trương thành tố căn bản là ‘nguyên tử’. Theo
Anxagoras và Democritus, các nguyên tử này di chuyển một
cách máy móc, không do một thiết kế ‘thông minh’ nào gây ra
mà chỉ v́ những nguyên nhân t́nh cờ. Leucippus và
Democritrus là những nhà ‘khoa học tự nhiên’, chủ
trương thái độ
‘nghi ngờ duy lư’. Dù sống trong thời đại tràn ngập thần
thoại, Democritus cho rằng ḷng tin vào các thần linh của
con người ‘không có ǵ khác hơn là nổ lực giải thích các
hiện tượng tự nhiên bằng phương tiện siêu nhiên tưởng tượng’.
Protagoras c̣n thẳng thừng hơn khi nhắc đến thần linh: “Tôi
không có phương tiện nào để biết thần linh có hay không và
nếu hiện hữu, th́ biểu hiện qua h́nh thái nào. Có quá nhiều
trở ngại khiến tôi không đạt đến kiến thức này, như sự ‘mù
mờ’ của đối tượng và đời sống ngắn ngủi của con người’(2)
Protagoras sống khoảng 490-421 trước Tây lịch!
Điều thích thú
là sự hiện diện của phái biện thuyết (Sophists). Họ là những
thầy giáo và luật sư lưu động, dùng miệng lưỡi để mưu sinh.
Đây là trường phái ‘duy lư’ trong thời rạng đông của lịch sử.
Phái biện thuyết đưa cao vai tṛ của con người, chủ trương
một thuyết nhân bản đối nghịch với không khí duy thần. ‘Con
người là thước đo của vạn vật’, không lệ thuộc vào một
‘định mệnh’ siêu việt hay thần linh nào, cuộc đời do chính
ḿnh quyết định. Quan niệm này rất gần với thuyết nghiệp báo
của nhà Phật. Phái duy lư trong thế kỷ ánh sáng cũng không
nói ǵ hơn nếu không muốn nói là c̣n ít ‘duy lư’ hơn, v́
Descartes và Kant có phải nhường bước cho God, cho rằng ḷng
tin và triết lư- khoa học thuộc hai lĩnh vực khác nhau! Với
tài quỷ biện phái này đă tuyên giảng lư thuyết duy lư,
thuyết khoa học tự nhiên và nhất là gieo rắc tinh thần hoài
nghi triệt để, tôi nghi ngờ cả sự nghi ngờ cuả tôi,
của Descartes sau này. Protagoras có nói một câu giống y
với lời giảng của Đức Phật trong kinh Kilama: Không mù
quáng tin theo truyền thống, tôn giáo hay huyền đàm viễn
vông, chỉ tin vào sự phán xét của chính ḿnh. Nhóm này
cũng rao giảng chủ thuyết tương đối thế tục: chân lư tương
đối, chân lư bên này núi Pyrénée khác chân lư phía bên kia,
khác nhau từ văn hóa này sang văn hoá khác, từ cá nhân này
sang cá nhân khác và nếu tự xem là chân lư, phải chấp
nhận và đứng vững trước tinh thần phê phán. Mỗi người
chỉ có thể biết những khả thể của chân lư, không ai
nắm được chân lư tuyệt đối. Các nhà biện thuyết đề nghị dùng
phương pháp phê phán áp dụng không những vào lĩnh vực thế
giới vật chất bên ngoài mà c̣n áp dụng vào lĩnh vực sinh
hoạt xă hội, đạo đức và cả về chánh trị.
Trong thời đại
khai nguyên này có hai ḍng chảy tư tưởng chính phản ảnh cho
tư tưởng triết lư muôn đời là chủ trương của Parmenides,
tương đương với thuyết hữu thể, và của Heraclite, thuyết
biến dịch. Parmenides cho rằng thiên nhiên có hành chất (nguyên
tố) nội tại và không có ǵ ‘từ không trở thành có’
và ‘cái có không thể giản lược vào cái không’.
Heraclitus cho rằng tất cả đều biến dịch ‘không ai tắm
hai lần trong cùng một ḍng sông’. Đây là những vấn
đề chi phối tư tưởng nhân loại từ Tây sang Đông, từ hữu
thể bất dịch qua hiện tượng biến dịch, từ hữu thể
đến hiện sinh, từ thế giới hiện tượng ta bà biến
dịch đối nghịch với thế giới thường hằng. Các triết
gia tha hồ chọn phe, tha hồ biện luận cho ‘hữu thể và
thời gian’ (Heidegger), ‘hữu thể và hư vô’
(Sartre). Heraclitus chỉ nói khơi khơi, chưa khai triển
thành một triết lư hẳn hoi trong khi Long Thọ viết cả tác
phẩm Trung Quán Luận và Không là một đề tài quan trọng trong
đạo Phật. Quán Tự Tại Bồ Tát tuyên bố một câu xanh dờn ‘Sắc
tức thị không, không tức thị sắc’, ‘ta bà’ đối nghịch, mà
cũng là ‘tịnh độ’. Đây là những nhà tư tưởng Khổng Lồ của
nhân loại vào các thế kỷ thứ 5 và thứ 6 trước tây lịch. Karl
Jasper trong quyển Triết Học Nhập Môn, gọi đây là thời Trục
(Axial Period), thời mà các nhà triết lư ‘khổng lồ’ Đông Tây
cùng xuất hiện. (Zororoaster-c 603-553) Đức Phật Thích Ca
(C563-) Khổng Tử (c 551-479), Mạnh Tử (c372-289) và Lăo Tử (Xuân
Thu Chiến Quốc c 403-221), Trang Tử (c 369-286); Socrates
(c469-399), Plato (c427-347), Aristotle (c384-322), Epicurus
(c341-270)
Sinh hoạt trí
thức của tư tưởng Hy lạp phát triển cao nhất khoảng vào thế
kỷ thứ 5 trước tây lịch. Thành phố Athens trở thành trung
tâm văn hóa và từ nếp suy nghĩ dựa trên thần thoại qua suy
nghĩ khái niệm và tinh thần phê phán, phản tỉnh và biện
chứng. Từ thần thoại cán cân đă dần dần nghiêng về phía duy
lư thế tục (secular rationalism), nhân bản và khoa học. Đó
là thời kỳ mà Nietzsche gọi là hoàng hôn của những thần linh
.
Triết lư, nhất
là siêu h́nh học, dùng khái niệm và ngôn ngữ để diễn đạt
thực tại, hữu thể đồng nhất do đó phải chấp nhận lập trường
của Parmenides. Nếu thực tại biến dịch vô thường như chủ
trương của Heraclitus hay nhà Phật, không thể dùng ư niệm mà
phải dùng trực giác hay cảm thọ để bắt gặp thực tại từng sát
na (trực chỉ nhân tâm). Phái duy niệm (từ ngữ Lê Tôn Nghiêm
dùng chỉ Idealism) trở nên ḍng chảy chính của triết lư Tây
Phương mà đỉnh cao là thuyết ư tưởng hay mô thức của Plato.
Ư niệm đưa đến thế giới nhị nguyên và thúc đẩy tinh thần
duy lư và khoa học, trong khi trực giác và cảm thọ thường
đưa tới thái độ huyền nhiệm trong triết lư, nghệ
thuật hay thi ca. Ba cây đại thụ, Socrates, Platon và
Aristotle là ba nhà tư tưởng khổng lồ của Hy Lạp, và Tây
Phương. Nhiều người cho rằng triết lư Tây phương chỉ cần
phần chia hai thời kỳ, tiền Socrates và hậu Socrates là đủ.
Socrates không
viết ǵ cả, giống như Khổng Tử than thở ‘Dư dục vô ngôn’ (Ta
đâu có muốn nói ǵ đâu) hay Đức Phật bỡn với môn đệ ‘bốn
mươi lăm năm nay ta có nói ǵ đâu!’. Những ǵ gán cho tư
tưởng Socrates là do môn đệ Plato, ghi chép lại trong phần
‘Dialogues’, và dĩ nhiên không ai có thể biết chắc là phần
nào của thầy và phần nào của tṛ! Dựa trên tương truyên về
đời sống và Dialogues, người ta biết rằng ông là một trong
phái biện thuyết, dù không dạy lấy tiền như các nhà biện
thuyết khác, chủ trương nghi ngờ (skeptism) và đặt con người
vào vị trí xứng đáng đối đầu với thần linh. Socrates đă ảnh
hưởng tinh thần duy lư của Tây phương bằng cách áp dụng
phương pháp đi t́m sư thật. Sự thật không quan trọng bằng
quá tŕnh đi t́m sự thật. Với phương pháp vấn đáp thường
được gọi là Socratic dialogue. Socrates khuyến khích môn đệ
‘nghi ngờ’ truyền thống, giá trị quy ước, ḷng tin,
cổ động lề lối suy tư, tự kiểm điểm, phê b́nh để cuối cùng
giúp tâm thức con người giải phóng khỏi những ư tưởng sai
lầm. Thái độ bất khả tri và nghi ngờ thúc đẩy lư trí tiếp
tục phân tích và phê phán những câu trả lời có sẵn,
dù từ bất cứ đâu, cho đến khi nào những câu trả lời này hiện
rơ sai lầm, bất nhất, thiếu liên tục cho đến khi người đối
thoại chịu nhận là sai lầm. Đây là hành tŕnh tri thức dựa
vào phương pháp duy lư để t́m câu trả lời. Tri thức, sự thật
không phải chỉ là những ǵ do người khác nói, nhất là từ
những thông tin gián tiếp hạng nh́ hay hạng ba, ngay cả từ
‘túi khôn’ truyền thống, ‘ông bà ḿnh nói vậy’ hay từ số
đông (nếu sai th́ 99.99% cũng sai!). Trí thức chỉ có thể có
được sau những cuộc tranh đấu gay go, qua nhiều giai đoạn
thử thách của ‘búa ŕu’ của tinh thần phê phán. Nhờ tinh
thần phê phán liên tục này mà Tây phương có thể khám phá kỹ
thuật để hoàn thành cuộc cách mạnh khoa học vào thế kỷ 16,
17 và 18. Quư phật tử có cảm thấy có sự gần gũi nào giữa hai
người khổng lồ cổ đại, Socrates và Siddharta?
Người khổng lồ
thứ hai trong lịch sử triết học Tây Phương là Plato. Plato
phân biệt thế giới ư tưởng (ideas) và thế giới giác quan. Ư
tưởng ở đây phải được hiểu như là những khuôn mẫu ‘tuyệt đối’
làm thước đo cho thế giới giác quan (senses). Ví như khi nói
một bông hoa đẹp, phải có ư tưởng ĐẸP trong đầu để dựa vào
đó để so sánh. Cũng thế khi nói đạo đức phải có ư tưởng
THIỆN trong đầu làm quy chiếu. Cũng thế chân lư chỉ có nghĩa
khi đem so sánh với CHÂN LƯ tuyệt đối. Ẩn dụ được nhắc nhiều
là chuyện một nhóm tù nhân bị xiềng chân trong một hang tối,
không được phép quay đầu lại để nh́n phía ngoài hang đá. Một
đống lửa được đốt trên cao ngoài cửa hang. Những đối tượng
bên ngoài hang đá qua lại trước hang sẽ được chiếu rọi vào
vách đá và các tù nhân tưởng đó là thực tại. Cho đến khi nào
được giải phóng và rời hang các người này mới thấy được thực
tại. Muốn thấy được thực tại, cần phải có trí thông minh của
‘linh hồn’ (tôi tạm dùng từ ngữ này) để thoát khỏi ảo giác
của thế giới vật lư và giác quan để nh́n thấy được thế giới
‘ư tưởng’. Thế giới Platonic này đă bỏ qua thế giới giác
quan biến dịch vô thường, chấp nhận thế giới phổ quát và
đồng nhất của Parmenides.
Tư tưởng của
Plato đă trở thành khuôn vàng thước ngọc cho tư tưởng Tây
phương trong hơn 2 ngàn năm. Nhà triết học Whitehead xem
toàn bộ lịch sử triết lư Tây Phương chỉ là những chú
thích của Plato. Sau này Nietzsche khám phá Thần học Ky
Tô chỉ là h́nh thức ‘b́nh dân hóa’ tư tưởng Plato thành
những huyền thoại tôn giáo sơ khai để quyến rũ tín đồ: “Ky
tô là chủ thuyết Plato cho người b́nh dân”. Các nhà thần
học đă dựa vào ư tưởng CHÂN-THIỆN-MỸ, TOÀN TRÍ-TOÀN NĂNG để
nặn ra một THƯỢNG ĐẾ theo tiêu chuẩn tuyệt đối này. Khi
tuyên bố Thượng đế đă chết, Nietzsche cũng muốn nói theo
nghĩa này.
Người học tṛ
truyền thừa thứ hai của Socrates là Aristotle. Không như
Plato bàn chuyện siêu h́nh viễn vông, Aristotle đem triết
học từ trên trời (thế giới ư tưởng) xuống trần gian.
Aristotle viết về nhiều đề tài thực tiễn như luận lư, tâm lư,
sinh học, triết lư khoa học, đạo đức và cả chánh trị, nhưng
lại được nhắc nhiều trong ‘lư thuyết’ về vũ trụ mà sau này
thần học Ky tô đă dựa vào đó để đưa nhiều nhà khoa học ra xử
tại toà án dị giáo.
Mặc dù đă có
nhiều nhà minh triết như Pythagoras đề nghị giả thuyết là
trái đất chuyển động chung quanh một trục, Heraclides chủ
trương thiên hà chuyển động và trái đất tự quay quanh trục
của nó, như mô thức của Ptolemy cho rằng trái đất là trung
tâm và các thiên hà quay quanh trái đất theo quỹ đạo h́nh
tṛn (lúc đó các nhà ‘vũ trụ học’ chưa biết quỹ đạo bầu dục).
Các nhà ‘vũ trụ học’ Hy Lạp lúc đó chọn mô thức trái đất là
trung tâm vũ trụ của Aristotle và Ptolemy (thế kỷ thứ 2 sau
Tây lịch) làm mô thức chính cho ít nhất đến thời Phục hưng.
Thần học Ky tô dù xem minh triết Hy Lạp, với nếp suy nghĩ
duy lư và tự do, là mối đe dọa chính cho ‘ḷng tin’ của tín
đồ, nhưng đă dùng ít nhất 2 ư niệm của minh triết Hy Lạp làm
nền tảng thần học: ư niệm mẫu toàn trí toàn năng để ‘tạo
dựng’ một Thượng Đế bằng xương bằng thịt và vũ trụ luận của
Aristotle-Ptolemy, để đặt trái đất vào một vai tṛ thiêng
liêng hơn chỉ là ‘tảng đá thứ ba’ của thái dương hệ. Thượng
đế không tạo dựng con người và vũ trụ, mà Thượng Đế đă được
tạo dựng bởi những nhà thần học Ky Tô và nói như Nietzsche,
đă lừa gạt những người không chịu sử dụng tinh thần phê phán
trong 2 ngàn năm.
Từ bóng tối
đến ánh sáng
Sau
khi Constantine cải đạo vào năm 312 và dời đô về
Constantinople, từ nhóm thiểu số bị đàn áp, giáo triều Ky Tô
hợp nhất giáo quyền và thế quyền và trở thành lực lượng đàn
áp tư tưởng lẫn chánh trị ít nhất là 15 thế kỷ.
Đây là cuộc
tranh đấu giữa hai bên, một bên là thần học, dựa trên ‘ḷng
tin’ tuyệt đối vào một đấng cứu rỗi, một bên là các triết
gia, những người suy nghĩ ‘tự do’, trân quư ‘lư trí’ như một
ngọn hải đăng để t́m hiểu con người và thế giới bên ngoài.
Sau khi Pascal qua đời, người ta t́m được được một chúc thư
dấu trong gấu áo. Chúc thư giản dị nói lên mong ước của ‘cây
sậy biết suy nghĩ’: Pascal mong muốn chữ ‘triết gia’ sẽ thay
thế chữ thần linh. Câu chuyện này dù có thực hay không, cũng
chỉ nhằm nói lên khát vọng của các nhà tư tưởng Tây phương:
giải thoát con người khỏi sự nô lệ tư tưởng của một thứ thần
học giáo điều, mà triết gia ví von là ‘tâm thức sơ khai, mê
tín, trẻ con’. Đây là cuộc tranh đấu dai dẵng giữa bóng tối
vô minh và ánh sáng giác ngộ. Như trong một câu thơ của Trụ
Vũ: Đâu phải là sự t́nh cờ mà bóng tối lên làm vua, đốt
Phật phá chùa.
Thần học giáo
điều độc thiện không chấp nhận cái chuyện chân lư ‘bên này
núi Pyréneé’ mà chỉ chấp nhận có CHÂN LƯ muôn đời muôn kiếp,
vượt không gian thời gian, siêu việt, không chấp nhận những
người suy nghĩ khác ḿnh và nếu cần th́ dùng bất cứ giải
pháp dù là bạo động đi nữa, để đối phó. Đó là thời Dark Ages
trong lịch sử tư tưởng Tây phương.
Những người
cần đối phó và trừng trị đầu tiên là triết gia và các nhà
khoa học. Không giống như ‘người bán than’ có ḷng tin vững
chắc v́ ‘không biết mà tin’, thượng đế của các triết gia là
thông minh, lư trí, diễn dịch và lư luận. Kể từ năm 380, khi
Theodosius tuyên bố Ky Tô là quốc giáo, các ngoại đạo theo
Paganism, dân Do Thái, và cả những kẻ thù ‘tưởng tượng’ như
phù thủy (witches) đă những nạn nhân oan khiên của lịch sử
truyền bá Ky Tô. Các tác phẩm best seller Harry Potter có lẽ
là dịp để các ‘phù thủy’ rửa hận đă bị giáo hội Ky Tô đàn áp
một cách vô cớ! Nhưng đối tượng chính của thần học ky tô vẫn
là triết gia. Tần Thủy Hoàng không phải là người duy nhất
đốt sách chôn học tṛ. Năm 435 dưới vương triều Theodosus
II, tất cả sách vỡ của một triết gia Tân Plato, Porphyry bị
đốt mặc dù ông đă mất trước đó 30 năm. Một người theo trường
phái Tân Plato khác, nhà nữ toán học đầu tiên trong lịch sử
nhân loại, bà Hypatia, bị một đám Ky Tô cuồng tín kéo bà từ
cổ xe ngựa, lột quần áo và rễu bà trên các đường phố, cắt
nát thân thể bà với các vỏ ṣ và gạch vụn. Sau khi đă bị
lăng tŕ, đám đông thiêu đốt thân thể bà trên ngọn lửa hồng.
Việc đốt sách ‘ngoại giáo’ vẫn tiếp tục. Năm 370 công dân
thành phố Antioch lo sợ là sách vỡ của họ sẽ bị các nhóm Ky
Tô cuồng tín đốt, họ tự động đốt sách vỡ ngày tại công
trường chính của thành phố. Năm 562 một đám đông Ky Tô cuồng
tín, tại công trường Kenogion, đă ném sách vỡ và h́nh tượng
của ngoại giáo và một đống lửa vĩ đại. Năm 529 hoàng đế
Justinian ra lệnh các người ngoại giáo phải học giáo lư và
rữa tội (3)
Để hạ uy tín
cho các minh triết Hy Lạp có chủ trương đi ngược với thần
học Ky Tô, chiến dịch bôi nhọ (character assassination).
Chiến thuật ad hominem, mạt sát thay v́ tranh luận,
vẫn c̣n được dùng cho đến ngày nay. Vào thế kỷ thứ 4, triết
gia Epicurus, người chủ trương thuyết vật chất, bị kết án là
có cuộc sống vô luân v́ chủ trương thuyết khoái lạc. Sống
hưởng thụ cũng bị mạt sát, mà các triết gia khắc kỷ
(Stoicism) cũng không được tha. Tư tưởng của người không lồ
của triết lư Hy Lạp, Socrates, cũng không lọt sổ, nói chi là
Protagoras, người dám chủ trương ‘bất khả tri’ (agnoticism)
không tin các chuyện hoang đường.
Đao phủ văn
hóa của thần học Ky Tô, linh mục Francois Garasse, một linh
mục ḍng Tên, năm 1623 đă ra một bản án dày hàng ngàn trang,
dùng những lời lẽ hạ tiện để mạt sát những triết gia độc lập:
vô luân, sa đọa, thành phần cặn bă của xă hội, đồng tính
luyến ái, ấu dâm và dĩ nhiên là đại diện cho Satan. Nhưng
càng đàn áp th́ càng có nhiều tư tưởng xuất hiện. Cuối cùng
Giáo hội phải lập một sổ đen Index of Forbidden Books.
Các triết gia cận đại và hiện đai nào có tên trong sổ đen
này? Câu trả lời rất ngắn gọn; hầu như không thiếu một ai!
(4) Gần đây nhất là từ điển Larousse mà những học sinh
thường gối đầu giường khi học tiếng Pháp cũng bị lọt vào sổ
đen. Nietzsche là người được vinh dự cuối cùng chấm dứt
hoàng hôn của những thần tượng. Trong tác phẩm Gay
Science, Nietzsche tuyên bố God is Dead. Thực ra
Nietzsche không quan tâm đến việc Thượng đế hiện diện hay
không hiện diện theo ư nghĩ của hữu thể học, bởi hàng năm
quần chúng cũng như trí thức Tây phương bị lừa phỉnh: Thượng
đế chỉ là ư niệm mô phỏng từ triết lư Plato. Một bóng ma
tưởng tượng không thể nào ‘chết’. Làm sao giết được người
trong mộng? (Phạm Duy). Điều Nietzsche lo là khi tỉnh
mộng lấy ǵ để đối phó với hư vô?
Giáo hội Ky tô
đối xử với những người rối đạo c̣n tàn nhẫn hơn là ngoại đạo:
Vào ngày 19 tháng 2 năm 1619, một linh mục làm rối đạo
Giulio Ceasar Vanini bị cắt lưỡi, treo cổ và sau đó thiêu
trong ngọn lửa hồng. Triết gia gốc Do Thái, Spinoza, vào năm
1656 bị hội đồng giáo sĩ Do Thái lên án là lạc đạo, có ư
tưởng nguy hiểm và hành vi ma quỷ. Tên Spinoza bị vĩnh viễn
xóa tên khỏi mặt đất. Không ai được tiếp xúc với triết gia
này, không được đứng gần hơn 2 thước, không được ở chung một
mái nhà. Lúc đó Spinoza mới có 23 tuổi và chưa xuất bản ǵ
cả. Tác phẩm Ethics của ông chỉ được xuất bản vào năm
1677. Một linh mục Bồ Đào Nha ‘rối đạo’ khác là Christovăo
Ferreira, ḍng Tên, bị chính quyền Nhật tra tấn. Không biết
ông Linh Mục này có bị Nhật tẩy năo hay không, ông ta viết
một quyền sách The Deception Revealed (Lường gạt bị
lột trần) để phản bác tất cả các tín điều của Ky Tô, từ ư
niệm thiên đàng- địa ngục, những đứa trẻ chết lúc sơ sinh
(Still born) không phải mang tội tổ tông ǵ cả và tội tổ
tông chỉ là tṛ bịa đặt. Giáo hoàng vô luân và nguy hiểm,
Đức mẹ Mary vô nhiễm chỉ là tṛ hề, phục sinh là một câu
chuyện hoàn toàn đi ngược lại lư trí, phán quyết cuối cùng
chỉ là ảo tượng. Vị Linh Mục này có nổi điên v́ bị chính
quyền Nhật tra tấn hay không? Một linh mục khác, Jean
Meslier c̣n đi xa hơn một bước nữa: tôn giáo (ám chỉ độc
thần giáo) được sáng chế v́ quyền lợi phe đảng. Vị Linh Mục
này nói thẳng thừng: chỉ có lư trí là khí giới để chống
những rác rến trong thần học Ky tô! Vị linh mục này cuối
cùng cải đạo thành một thiền sư Nhật.
Các nhà khoa
học th́ lẳng lặng làm việc, đưa ra những giả thuyết và t́m
cách chứng minh giả thuyết của ḿnh. Lucretius và Democritus
tŕnh bày lại thuyết vật lư của Epirure, không khác ǵ
thuyết nguyên tử hiện đại dù các khoa học gia này không có
dụng cụ đo đạc nào khác hơn là trực giác bén nhạy và lư trí
phê phán. Nguyên tử được mô tả chi tiết từ h́nh dáng, cấu
trúc đến trọng lượng, phản ứng trong chân không. Các thuyết
‘duy vật’ này ám chỉ rằng ‘thần linh’, ‘linh hồn’ cũng chỉ
cấu thành từ vật chất, từ tứ đại, ngũ uẩn. Năm 1340 Nicholas
d’Autrecourt đề nghị một giả thuyết về ánh sáng thật hiện
đại: ánh sáng kết hợp bằng những nguyên tử có thể nhận diện
được (corpuscular). Giáo hội cũng phản ứng tương tự: đốt,
đốt, đốt.
Toà án dị giáo
là một vết nhơ không xóa rữa được trong lịch sử truyền thừa
Ky Tô. Gọi là toà án nhưng không có ǵ dính líu tới ‘công lư’.
Ḍng Dominic thứ hai (Dominican Order) thường được gọi la
ḍng Ăn Mày, chấp nhận chuyện tra tấn để nạn nhân nhận tội,
thường người tra tấn là các linh mục, không cần bằng chứng
với những ‘ḷng tin’ kỳ quái như dân Do Thái uống máu trẻ
con và chỉ cần một người hô hoán tố cáo một người khác là
phù thuỷ, đám đông đốt đuốc truy tầm, treo cổ hay đốt nạn
nhân. Tây phương có từ ngữ là ‘Witch Hunt’ ám chỉ nhưng vụ
kết án không cần bằng chứng. Có bao nhiêu nạn nhân của toà
án dị giáo này?
Bruno vốn là
một linh mục ḍng Dominican, không phủ nhận sự hiện hữu của
Chúa, nhưng xác nhận Chúa và thế giới vật chất cùng hiện hữu.
‘Tinh thần’ ‘linh hồn’ phải thể hiện qua thế giới vật chất.
Giáo hội Ky Tô chỉ chấp nhận Thượng Đế và con của Thượng Đế
thuộc về một thế giới siêu việt. Không thể có một lư thuyết
nào khác!
Trường hợp
Galileo cho thấy giáo hội Ky Tô thù ghét khoa học đến mức
nào. Galileo xuất bản A Dialogue Concerning the Two Chief
World Systems năm 1632. ‘Tội’ của ông bảo vệ lư thuyết
thiên văn của Copernicus, cho rằng trái đất không phải là
trung tâm vũ trụ, mà chỉ là một ‘cục đá thứ ba’ quay chung
quanh mặt trời. Nếu thế c̣n ǵ là thiêng liêng c̣n ǵ là
siêu việt! Cả nền tảng của thần học bỗng chốc đều sụp đổ!
Trong một vỡ kịch, Bretch cho Galileo lẩm bẩm khi rời toà án:
“Nhưng mà trái đất quay’.
Toà án dị giáo
Spanish Inquisition không ngừng ‘xử’ các nạn nhân đến măi
tận năm 1834 và phiên xử auto dafé cuối cùng ở Mexico
vào 1850 (Pháp thực dân Pháp bắn tiếng súng đầu tiên vào năm
1848), cũng là thời gian Charles Darwin thám hiểm trên con
tàu the Beagle và t́m ra những missing links của
thuyết Tiến Hoá và lúc mà nhà Vật Lư Faraday t́m ra sự liên
hệ giữa điện và từ trường (5)
Không dễ ǵ
bịt miệng các nhà khoa học. Họ vẫn lẳng lặng nghiên cứu, vẫn
tiếp tục công bố những khám phá mới. Vũ trụ học của
Copernicus là một cuộc cách mạng trong khoa học, với 2 tác
phẫm, Commentaries (1512) và Celestial Orbits
(1543) làm đảo lộn vũ trụ học của Aristotle và thần học Ky
Tô. Galileo sáng chế ra viễn vọng kính (1610) thiên văn học
của Kepler nối tiếp Copernicus với Cosmos Mysteries (1596).
Thuyết trọng lực của Newton giải thích nhiễu loạn của quỹ
đạo của các hành tinh Mathematical Principles of the
Philosophy of Nature (1687) Lamarck với Philosophie
Zoologique (1809). Về sinh học Darwin với thuyết tiến
hoá Origin of Species (1859) và Descent of Man
(1871), Einstein với thuyết tương đối (1905) Heisenberg với
Vật Lư Lượng Tử bất định (1927). Về tâm lư phân tâm học của
Freud, Jung phân tích tường tận ‘linh hồn’. Watson và Crick
khám phá DNA trong di truyền học. Thuyết Big Bang vật lư vũ
trụ của Stephen Hawkings đă hạ màn huyền thoại vĩnh viễn
sáng thế kư của Ky Tô. Onfray kết luận: “Thần học Ky Tô đă
cản đường tiến bộ của văn minh Tây phương và đă gây ra những
thiệt hại lớn lao không thể nào lường được: (6)
Tôn giáo nào
cũng có huyền thoại, ngụ ngôn nhưng không thể xem huyền
thoại là thực tế và nhất là thực tế không bao giờ thay
đổi. Tại sao những tín lư như tội tổ tông, phục sinh, đức mẹ
vô nhiễm, thiên đàng hỏa ngục…là những huyền thoại tôn giáo
để hướng dẫn tín đồ sống theo giá trị đạo đức nào đó, mà lại
được xem như những sự thật khách quan khoa học? Ngay từ Công
đồng Vatican thứ nhất (1869-70) giáo hội khẳng quyết là Chúa
cũng như những người thay mặt Chúa không thể nào sai lầm
(infallibility) và Giáo hội không chấp nhận một thách đố nào
của con chiên hay giáo sĩ, Giáo hội chỉ chấp nhận sự tuân
phục. Thái độ độc tôn độc thiện không được giữ nguyên
như từ thời Ky Tô là quốc giáo.
Tin tưởng
tuyệt đối vào sáng thế kư trong thánh kinh, Giáo hội cấm
đoán những nghiên cứu nào dám tra vấn hay đi ngược lại với
tín lư này.
Đó là lư do hơn 1,500 năm Giáo
hội đă khổ công cấm đoán và bôi nhọ những triết gia chủ
trương thuyết nguyên tử và vật chất v́ các chủ thuyết này
khiến thần học sáng thế kư không có chỗ đứng. Trong khoa học
Giáo hội đi từ sai lầm này đến sai lầm khác, từ vũ trụ luận
đến khoa di truyền. Nhờ các triết gia nổi loạn và khoa học
gia quyết tâm tôn trọng lư trí hơn là ḷng tin, những tiến
bộ khoa học mới thực hiện được.
Đối với các
nhà thần học, Chúa bắt đầu từ hư vô, tạo dựng con người và
vũ trụ trong ṿng một tuần. Tất cả những ǵ trái ngược với
thuyết sáng thế kư, Vatican đâu có tha thứ. Có thể nào có
‘sáng thế kư’ nào khác hơn là thuyết tạo dựng? Hoàn toàn
không. Chấm hết. Chúa tạo vũ trự từ hư không. Trước hư không
là hư không. Có một vũ trụ song song hay nhiều vũ trụ khác,
như tam thiên đại thiên trong đạo Phật? Hoàn toàn không! Có
thể nào mặt trời là trung tâm của vũ trụ, ít nhất là trung
tâm thái dương hệ? Vô lư! Chỉ có Thượng đế toàn năng ở trung
tâm tạo dựng vũ trụ. Hơn nữa ư niệm này gần gũi với tôn giáo
của ngoại đạo pagan mà Ky tô đă khổ công đàn áp từ thế kỷ
thứ 4. Khi Lamarck và Darwin khám phá các chủng loại tồn tại
qua một quá tŕnh chọn lựa tự nhiên, giáo hội lắc đầu
nguầy ngậy nói rằng không có ǵ là tự nhiên, kể cả con chó
sói trong rừng đến con chuột thành phố đều do Chúa nặn ra. Ư
niệm đức Giáo hoàng là hậu duệ của tề thiên quá hỗn láo và
quá vô lư. Có thể nào có nhiều chủng tộc sinh sống cùng một
thời kỳ ở nhiều miền địa lư khác nhau (Polygenesis), Giáo
hội khẳng quyết: Adam là người đàn ông đầu tiên và Eve là
người đàn bà đầu tiên. Con người trước Adam? Phi lư quá.
Dùng carbon dating để định tuổi các vỏ ṣ trên núi các địa
tầng và hầu như không có ǵ trùng hợp với năm tháng do Thánh
kinh cung cấp. Thế giới này không chỉ mới 4 ngàn năm trong
khi ngày tháng do carbon dating xác định cả ngàn triệu năm.
Khoa học sai và khoa địa chất không đáng tin cậy. Như câu
chuyện trường thiên, chẳng biết khi nào chấm dứt. Hiện nay
Giáo hội c̣n chăm chút những vấn đề tuởng như là ‘cá nhân’
nhưng thật ra ảnh hưởng rất nhiều đến đạo đức và phát triển
kinh tế. Con chiên vẫn c̣n được khuyến khích giữ…trinh tiết
đến khi chính thức lập gia đ́nh, không được ngừa thai, phá
thai dù trong bất cứ trường hợp nào. Chuyện ‘sinh năm đẻ bảy’
ở các nước theo Hồi giáo và Ky tô, thường ở các nước nghèo
như Phi Luật Tân và Nam Mỹ là một đại nạn và là một trong
những lư do chính giữ các nước này trong t́nh trạng đói
nghèo măi. Các nước giàu và dân trí cao như Ư, Pháp và Tây
Ban Nha, ba trưởng nữ của Ky Tô giáo th́ phớt lờ những lới
khuyên t́nh dục của Giáo hội, nên mức độ sinh sản quân b́nh
chỉ có một hay một rưỡi và băo ḥa với mức tử vong. Cứ so
sánh hai mô thức phát triển giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Trung
Quốc bị kết án là ‘vi phạm nhân quyền’ v́ chánh sách ‘một
con’ v́ nhiều khi nhà nước Trung Quốc dùng những h́nh thức
trừng phạt nặng tay. Đáng lẽ nhân loại phải cám ơn Trung
Quốc, v́ nếu nhịp độ sinh sản không được kiểm soát, với 1 tỷ
2 dân số như hiện nay, chuyện ǵ sẽ xảy ra trong ṿng một
phần tư thế kỷ tới? Hiện nay cứ trong 5 người có một là
ngựi Trung Quốc. Nếu không có chánh sánh một con chỉ cần
nửa thế kỷ nữa, cứ 3 người th́ có 1 người Trung Quốc?! Nói
như Trần Tế Xương ‘bồng bế nhau lên chúng ở non’. Giáo hội
Ky tô vẫn xem thế giới vẫn c̣n ngừng ở thời kỳ Dark Ages,
chống nghiên cứu ‘tế bào mầm’ để chữa bệnh, v́ sợ các nhà
khoa học cướp quyền ‘tạo hóa’. Tạo hóa? Giáo hội Ky Tô vẫn
chưa từ bỏ sáng thế kư mặc dù thuyết tiến hóa trở thành ḍng
chảy chính trong khoa học và được giảng dạy ngay trong các
trường Trung học. Lâu lâu lại nghe giáo hội nhắc tới những
từ ngữ mới lạ như Intelligent Design. Sáng thế kư được chưng
diện y phục thời trang mới.
Từ Phục Hưng
đến cách mạng khoa học
Thời kỳ có tên
là Phục Hưng kéo dài từ nửa thế kỷ 15 đến thế kỷ 17, một
thời kỳ có nhiều biến cố tôn giáo, chính trị, quân sự và sự
tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, nhất là sự xuất hiện của
nhà vật lư vũ trụ Copernicus. Những nhân tài trong lỉnh vực
nghệ thuật như Leonardo, Michelangelo, Raphael; việc
Columbus khám phá ra thế giới ‘mới’, việc nổi loạn của
Luther chống giáo quyền độc tôn của Ky Tô La Mă và bắt đầu
giai đoạn cải cách tôn giáo và Copernicus chấm dứt quan niệm
vũ trụ của Aristotle, có nghĩa là chấm dứt quan niệm thần
học nền tảng của sáng thế kư. Con người được nâng cao lên
địa vị xứng đáng của ḿnh và bắt đầu cảm thấy có khả năng
t́m hiểu bí mật của thiên nhiên mà không cần nhờ đến thần
thánh, sáng tạo cá nhân trong nghệ thuật, dùng khả năng toán
học để giải quyết những nghi vấn khoa học và dám thách đố
truyền thống.
Con người bắt
đầu thấy được ư nghĩa hiện sinh thay v́ chỉ là ‘cái quay
búng sẵn trên trời’ trong định mệnh buồn thảm: sinh ra đă
mắc tội tổ tông chỉ chờ ngày cứu chuộc. Nhiều thiên tài cá
nhân tiếp tục xuất hiện trên b́nh diện tôn giáo, chính trị,
triết lư và khoa học như Erasmus, Luther, Machiavelli,
Montaign, Shakespeare, Cervantes, Bacon và Galileo. Nói một
cách khác ‘con người’ đă hồi phục được thể giá của ḿnh.
Con người như
con phượng hoàng vươn lên từ đống tro than, từ bệnh dịch đen
giữa thế kỷ 14, quét gọn một phần ba dân chúng lục địa Ấu
Châu, cuộc chiến kéo dài gần 100 năm giữa Anh va Pháp, khủng
hoảng kinh tế nhiều thập niên, toà án dị giáo, đoàn quân hồi
giáo Thổ đe dọa toàn bộ Âu châu, dâm loạn trong cung đ́nh
Vatican. Nhưng sáng chế về kỹ thuật là cốt lơi của thời phục
hưng: địa bàn dùng từ trường khiến các tàu thủy không sợ lạc
nên Tây phương đua nhau thám hiểm t́m thuộc địa, việc chế
tạo thuốc súng góp phần làm sụp đổ các lănh chúa phong kiến
và h́nh thành tinh thần ‘quốc gia’, đồng hồ dây thiều, và
máy in Gutenberg tăng mức phát tán ư tưởng một cách nhanh
chóng. Constantinople thất thủ dưới vó ngực của quân Thổ làm
quyền hành của Giáo Hoàng thêm yếu kém, mở cửa cho việc nổi
loạn của Luther và Calvin chống giáo quyền La Mă. Các triết
gia nhân bản dưới sự nâng đỡ của giai cấp giàu có mới ở các
thành phố ở Ư, phổ biến ư tưởng hưởng thụ các thú vui trần
gian thay v́ sống khắc khổ theo thần học Ky Tô. Tích tụ tài
sản cá nhân không c̣n một điều trái luân lư mà c̣n là một ân
sủng trực tiếp của Chúa như theo giáo lư Thệ Phản. V́ thế
con người chăm chú hơn về đời này thay v́ chỉ chú ư
đến thế giới bên kia sau khi chết.
Văn hóa sinh
động của thời phục hưng Ư đă tạo ra một nhân cách mới cho
Tây phương: cá nhân chủ nghĩa, thế tục (secularity) thay v́
tập thể tôn giáo, ư chí cá nhân, sáng tạo, tự tin vào chính
ḿnh, nghi ngờ, phê phán và quan trọng nhất là sẵn sàng
thách đố truyền thống. Tinh thần này lan tràn khắp lục địa
tạo thành cá tính hiện đại của con người Âu Châu. Giáo hội
Ky Tô khuyến khích các nhà thần học t́m cách hiện đại hóa
‘mở cửa’ thâu nhập các tư tưởng của ngoại giáo và nghịch lư
thay, các nhà thần học càng ngày càng chấp nhận khuynh hướng
thế tục hóa. Những nhân vật nổi bật nhất và có ảnh hưởng lớn
về mặt khoa học (Copernicus) về tôn giáo (Luther)
Michelangelo (nghệ thuật) và Machiavelli (lư thuyết chính
trị) đă là những nhân tố chính đưa đến cải cách tôn giáo và
cách mạng khoa học.
Người lănh đạo
chống giáo quyền Ky tô La Mă là một linh mục ḍng Augustine,
Martin Luther, thường được gọi là Cải cách Tin Lành. Có hai
lư do đưa đến sự nổi loạn là một, sự sa đọa của giáo quyền
Vatican và hai, Vatican muốn ‘hiện đại hóa’ thần học bằng
cách tiếp thu tư tưởng minh triết Hy Lạp-Ư kể cả tư tưởng
ngoại đạo Pagan. Nghịch lư thay Luther dựa vào Cựu Ước chỉ
trích Vatican đă ‘xao lăng’ ḷng tin Ky Tô nguyên thủy ‘mặc
khải’ trong Thánh Kinh.
Nguyên nhân
gần của cuộc nổi loạn là Giáo hội muốn quyên tiền để xây
dựng các công tŕnh kiến trúc vĩ đại của giáo hội như Saint
Peter Balistica. Trên lư thuyết th́ không có ǵ sai trái,
nhưng để lôi cuốn tín đồ, Giáo hội đề nghị hễ tín đồ nào
cúng tiền sẽ được cứu chuộc không những tội lỗi gây ra ở
kiếp này mà con được cứu chuộc tội lỗi đời sau, kể cả việc
được ân xá khỏi ḷ luyện ngục. Vào năm 1517 Luther đưa ra 95
lời hỏi tội giáo quyền. Luther chống đối tư tưởng Hy Lạp lẫn
lộn trong giáo lư và t́m cách thanh lọc để trở về với nền
tảng trong sáng ‘thuần khiết’ của thánh kinh. Nhưng động lực
chính của cuộc nổi loạn là..tinh thần nổi loạn và tự quyết
cá nhân, độc lập về trí thức và tâm linh đâm chồi nẩy lộc
trong thời Phục Hưng. Lúc đầu Giáo hoàng Leo X xem sự nổi
loạn của Luther chỉ là cuộc tranh chấp giáo lư giữa các giáo
sĩ. Khi Luther ban hành bản hài tội 95 điều, chừng đó Giáo
hoàng mới công khai đốt bản hài tội này và kết án Luther là
người lạc đạo. Tuy nhiên lúc bây giờ thần học của Luther đă
lan rộng khắp nơi như cơn cháy rừng. Sự độc quyền của Giáo
hội Ky tô ở Âu Châu hơn 1000 năm đă không c̣n văn hồi được
nữa.
Tội lỗi của
con người, theo Luther, chỉ có Chúa mới có thể cứu chuộc
được, không ai có thể bỏ tiền để chuộc tội được. Phải có
ḷng tin tuyệt đối nơi Chúa mới có thể đạt được sự cứu rỗi
và Chúa là người duy nhất ban phát rộng răi sự cứu rỗi này.
Giáo hội Thiên Chúa đă sa đọa khi đem cứu rỗi như một món
hàng mua bán trên thị trường, chỉ v́ muốn có tiền để dùng
vào các mục tiêu phi- tôn giáo. Lời tuyên bố Giáo hoàng
không bao giờ sai làm chỉ là món hàng giả hiệu. Giáo hội đă
mất tất cả sự kính trọng của phương tiện thiêng liêng
truyèn bá chân lư Ky Tô. Qua thánh kinh, chứ không phải giáo
hội, con người mới hy vọng trực tiếp kiến với Chúa và chỉ có
Thánh Kinh mới có quyền năng quyết định tín lư của thần học
Ky Tô. Viễn kiến tôn giáo của Tin Lành mới là viễn kiến đích
thực của Ky Tô. Châm ngôn của Tin Lành là ‘chỉ có ḷng tin’,
‘chỉ có ân sủng của Chúa’. Giáo hội Ky Tô La Mă bị kết tội
là tham nhũng và tín lư Ky tô đă biến thái xa rời mặc khải
nguyên thủy. Sau nhiều thế kỷ hưởng độc quyền tôn giáo, bỗng
nhiên một sớm một chiều, giáo hội Ky Tô La Mă mất tất cả
quyền lực thiêng liêng và sau này thế tục. Lư thuyết thệ
phản của Luther và Calvin đă lan tràn một nửa Châu Âu, Nam
Thiên Chúa, Bắc Tin Lành!
Mặc dù Tin
Lành là một phong trào cực kỳ bảo thủ về mặt tôn giáo (đặt
ḷng tin tuyệt đối vào Chuá, Thánh Kinh, chỉ có Chúa mới có
quyền năng ban bố cứu rỗi…) nhưng đó là một cuộc cách mạnh
về phương diện xă hội, chính trị chống lại Giáo hoàng và
triều thần La Mă. Tin Lành đă làm hứng khởi quyền lực thế
tục ở Đức và quan trọng nhất là xác nhận lương tâm cá nhân
trong việc thiết lập khung tín ngưỡng, nghi lễ và tổ chức
giáo hội.
Calvin phủ
nhận uy quyền tôn giáo của giáo hội và tuyên bố ‘Quyền giáo
sĩ cho tất cả mọi tín đồ’. Mỗi cá nhân đọc và giải thích
Thánh kinh tuỳ theo lương tâm của họ trong mối liên hệ trực
tiếp giữa họ và Chúa. Đây là lời tuyên bố của Luther:
“Cho đến
khi tôi được thuyết phục bởi Thánh Kinh và lư trí thông
thường, tôi không chấp nhận uy quyền của Giáo Hoàng và hội
đồng giám mục, bởi v́ họ nói những điều mâu thuẫn với nhau.
Lương tâm của tôi chỉ chấp nhận Lời Chúa. Tôi không thể và
tôi sẽ không bao giờ rút lại bản kết án (Giáo Hội) của tôi,
bởi v́ đi ngược lại với lương tâm là một điều không đúng và
không an toàn. Xin Chúa giúp cho tôi. Amen (7)
Phong trào cải
cách xác nhận sự nổi loạn cá nhân- lương tâm cá nhân và tự
do của người Ky Tô với phán đoán riêng tư chống lại một giáo
hội độc quyền độc thiện. Nhấn mạnh đến vai tṛ của cá nhân,
pḥng trào cải cách đă giúp thế tục hóa giáo hội, giúp tách
giáo quyền ra khỏi chính quyền, nhà nước và tôn giáo tách
biệt và quyền lực thế tục chuyển từ giáo hội sang nhà nước,
và quyền tôn giáo từ linh mục sang tín đồ. Các mục sư tin
lành mặc trang phục như các tín đồ và sống một cuộc đời b́nh
thường như tín đồ: lập gia đ́nh, sinh con, làm việc. Biến cố
này tương đương với Tân Phật giáo Nhật (Shin Buddhism), tông
Tịnh Độ chúng tôi sẽ đề cập trong các phần sau. Sự nổi loạn
của Tin Lành đă liện hệ đến sự phát triển của phong trào
chính trị tự do (political liberalism) và quyền tự do cá
nhân. Phong trào thệ phản cũng cổ động cho phong trào trí
thức suy nghĩ tự do (Liberalism). Theo Calvin công việc cấp
thiết của tín đồ để làm tṛn nhiệm vụ mà Chúa giao phó bằng
cách tra vấn và t́m cách thay đổi các định chế xă hội và văn
hóa một cách liên tục. Ít nhất đây là cái nh́n trên b́nh
diện lịch sử. Nhưng khi Tin Lành trở thành tôn giáo định chế
tổ chức, các tín đồ Tin Lành trở nên cực đoan với các giáo
phái khác như treo cổ những tín đồ Quaker ‘lạc đạo!
Phong trào thệ
phản c̣n gây ra biến đổi tâm cảnh của tín đồ. V́ cứu rỗi do
cá nhân ‘hội thông’ trực tiếp với Chúa, tín đồ Tin Lành
thường chú trọng đến đời sống ngay tại đời này thay
v́ chỉ lo lắng cho đời sau. V́ chỉ có cách hội thông trực
tiếp với Chúa, các tín đồ Tin Lành lập ra ‘đạo đức làm việc’
(Work Ethics). Ngay cả làm việc nhà, nuôi dưỡng con cái,
công việc tầm thường cũng là cơ hội cho tín đồ nuôi dưỡng
ḷng tin tôn giáo. Làm giàu và tích tụ tài sản không c̣n là
một tội lỗi như trong giáo lư của giáo hội Ky Tô La Mă mà là
một ân sủng có thể thấy được của Chúa ban cho những người có
ḷng tin tuyệt đối vào Chúa. Ân sủng này là một kích thích
tố trong việc phát triển kinh tế mà Weber đă nhận ra. Đạo
đức Tin Lành đă làm nền kinh tế tư bản phát triển trong khi
tín lư Ky Tô La Mă (Thiên Chúa) đă ngăn trở phát triển kinh
tế và nếp suy nghĩ tự do (Liberalism). Cứ so sánh giữa các
nước theo Tin Lành (Anh, Mỹ, Đức) là những nước tư bản phát
triển nhất trong khi các trưởng tử Thiên Chuá (Y, Bồ Đào Nha)
là những nước có kinh tế tŕ trệ. Nói chi là các nước theo
Thiên Chúa v́ bị thực dân (Nam Mỹ, Phi Luật Tân) cải đạo tập
thể, nạn nghèo khó kéo dài từ đời này sang đời khác. Dĩ
nhiên nạn nghèo khó do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng có
bao nhiêu phần trăm gây ra do thần học giáo điều cực đoan?
Pháp dù là trưởng nữ của Thiên Chúa, nhưng là trưởng nữ
‘cách mạng’ đă mở đầu của phong trào khai sáng, hiện chỉ là
một nước theo Thiên Chúa trên danh nghĩa (nominal) mà thôi.
Các trí thức Pháp đă dẫn đầu các trào lưu tư tưởng chống
thần học Ky Tô và gần đây Giáo hoàng phải kêu gọi tín đồ đi
lễ nhà thờ ngày Chủ nhật.
Hành động nổi
loạn cuối cùng của Luther là băi bỏ sự phân biệt giữa linh
mục và con chiên là, ông đă lập gia đ́nh với một bà sơ và
sinh con đẻ cái như một người b́nh thường. Thần quyền đă
chuyển từ giáo sĩ sang tín đồ, thêm một dấu hiệu thế tục hóa
tôn giáo và xă hội. Thay v́ sau khi chết mới lên được lên
thiên đàng, những người theo Tin Lành tin rằng ḿnh có thể
về nước chúa ngay bây giờ, trên cơi đời này.
Cách mạng khoa
học
Copernicus
sống vào lúc thời Phục Hưng đến mức tột đỉnh đă là một dấu
mốc đoạn tuyệt với vũ trụ thời Trung cổ và khởi đầu nhăn
quan cho một vũ trụ hiện đại. Copernicus đi t́m một câu giải
đáp cho quỹ đạo của các hành tinh bằng một công thức toán
học đơn giản, để thay thế những lời giải thích của
Ptolemy-Aristotle. Copernicus khám phá ra là từ thời
Pythagoras và Plato đă có giả thuyết là trái đất di chuyển.
Copernicus đưa ra một giả định là Mặt Trời là trung tâm vũ
trụ, dùng một công thức toán học đơn giản để giải thích quỹ
đạo của các thiên hà quay chung quanh mặt trời. Trái đất tự
quay chung quanh trục của ḿnh và vận chuyển chung quanh mặt
trời hàng năm. Ông đề nghị giả thuyết này trong
Commentaries ‘lưu chuyển nội bộ’ trong số bạn bè và có
lần được thuyết tŕnh trước giáo hoàng về giả thuyết này.
Một đồ đệ, cũng là một người bạn, Rheticus, đem bản thảo
De Revolutionibus từ Ba Lan qua Đức ấn hành. Năm 1543
một ấn bản được chuyển về cho ông. Nhưng hơn một nửa thế kỷ
sau khi Bruno lên dàn hỏa và khi Galileo rút lại lư thuyết,
Giáo hội Ky Tô La Mă mới nhận thấy hậu quả tai hại tiềm ẩn
về mặt tôn giáo của lư thuyết Copernicus và cuộc phản công
của các nhà thần học Ky Tô bắt đầu.
Phản ứng mạnh
mẽ đầu tiên không phải từ giáo hội Ky Tô La Mă mà là từ Tin
Lành. Copernicus là một ‘cố vấn’ được kính trọng của Vatican
và là bạn của nhiều giám mục Thiên Chúa. Hơn nữa lịch
Gregorian dựa trên những tính toán của hệ thống Copernicus.
Tin Lành kết tội thần học Ky Tô đă bị ‘ô nhiễm’ tư tưởng Hy
lạp và hệ thống Copernicus đă có nhiều đọan tương phản với
Thánh Kinh mà Tin Lành xem như có quyền năng tuyệt đối.
Luther và sau đó các nhà cải cách thần học khác như Calvin,
dựa trên một đoạn trích trong Psalms ‘thế giới được tạo dựng
và không thể bị di chuyển’ Calvin hài tội: “ Ai là người dám
đặt thẩm quyền của Copernicus trên thẩm quyền của Thánh Kinh?”
Để chứng tỏ mức chính thống đối với Tin Lành, Giáo hội Ky Tô
La Mă bắt buộc phải xác định ‘lập trường’.
Khi Giordano
Bruno bị thiêu trên dàn hỏa không phải v́ đồng ư với thuyết
vũ trụ của Copernicus mà là v́ chủ trương thần học lạc đạo,
nhưng Bruno là cũng là người cổ động cho lư thuyết mặt trời
là trung tâm vũ trụ. Lư thuyết của Copernicus không những là
mối đe dọa cho vũ trụ quan Ky Tô mà c̣n đe dọa nền tảng của
chính thần học và đạo đức. Những ư niệm căn bản như nhân
giới và thế giới siêu nhiên (nước Chúa), thiên đàng, hỏa
ngục, ḷ luyện tội, thiên thần… bị đặt dấu hỏi và hiện
nguyên h́nh sản phẩm tưởng tượng. Nếu trái đất di chuyển,
trung tâm cố định nơi Chúa tạo dựng con người và vũ trụ,
cũng như chương tŕnh cứu rỗi của Chúa không c̣n nơi hiện
hữu. Ư niệm cứu chuộc cũng trở nên vô nghĩa và con người
không c̣n đóng vai tṛ trung tâm của vũ trụ được nữa. Nói
vắn tắt, chấp nhận lư thuyết của Copernicus chẳng khác
nào chấp nhận lư thuyết vô thần. Ảnh hưởng nguy hại của
vũ trụ quan Galileo và Copernicus lên đầu óc của tín đồ c̣n
trầm trọng hơn ảnh hưởng nguy hại của Luther va Calvin cộng
lại! Giáo hội dùng sức mạnh c̣n rơi rớt lại để thi hành biện
pháp đàn áp cuối cùng. Tác phẩm De Revolutionibus của
Copernicus và Dialogue của Galileo bị cho vào sổ đen
Index. Galileo bị Toà Án Dị Giáo thẩm vấn, bị buột phải rút
lời và bị quản thúc tại gia suốt đời. Những người theo chủ
trương của Copernicus bị băi nhiệm và lưu đày.
Tuy nhiên ảnh
hưởng của Copernicus càng ngày càng lan rộng và quyền lực
của giáo hội cũng đă giảm dần. Kepler quan sát thấy là mỗi
hành tinh di chuyển với một tốc độ khác nhau tỷ lệ với
khoảng cách từ mặt trời, Tốc độ cáng nhanh khi càng gần mặt
trời, chậm nhất khi cách xa mặt trời nhất. Quỹ đạo bầu dục
của các hành tinh liên hệ với nhau theo công thức toán học
và do đó chứng minh được giả thuyết của Copernicus. Dữ kiện
thực nghiệm và lư luận trừu tượng ăn khớp với nhau một cách
hoàn hảo.
Năm 1609 (9
năm sau ngày Bruno lên dàn hỏa) Kepler xuất bản ở Prague
luật về sự di chuyển của các hành tinh. Galileo chế tạo ra
một viễn vọng kính và quan sát thiên hà và khám phá thêm
nhiều bằng chứng hỗ trợ cho lư thuyết của Copermicus.
Galileo xuất bản The Messemger of The Stars, công bố
những quan sát của ông và tác phẩm đă tác động tích cực
trên cộng đồng trí thức ở Âu Châu. Lư thuyết của Copernicus
không những là hợp lư mà c̣n giải phóng các nhà khoa học
khỏi gánh nặng thần học. Vũ trụ quan thần học trung cổ cuối
cùng đă sụp đổ. Sự xung đột giữa Galileo và giáo hội được xem
là cuộc xung đột giữa tôn giáo và khoa học.
Người đóng
đinh cuối cùng cho lư thuyết vũ trụ của Thần học là Newton.
Nhớ chuyện trái táo của Newton? Cũng giống như chuyện thiền
sư nghe tiếng sỏi chạm vào thanh tre mà ngộ đạo. Đó là quư
tŕnh suy nghiệm lâu dài, không phải tự nhiên mà giác ngộ.
Nói theo thuật ngữ Thiền, ‘Đốn ngộ’ là kết quả của một công
tŕnh ‘tiệm tu’ lâu dài. Kepler giả thiết là lực di chuyển
chính là v́ mặt trời và trái đất là một nam châm khổng lồ.
Tại sao quỹ đạo h́nh bầu dục thay v́ h́nh tṛn như trong vũ
trụ của Aristotle? Issac Newton hoàn tất cuộc cách mạng của
thuyết vũ trụ của Copernicus với khám phá về trọng lực, như
là một lực di chuyển phổ quát, lực đă làm trái táo rơi xuống
đất. Hành tinh càng gần mặt trời hay trái đất th́ càng di
chuyển với một tốc độ nhanh. Tổng hợp các giả thuyết lư
thuyết tinh hà di chuyển một cách máy móc không chủ đích,
giả thuyết của Kepler về sự di chuyển các hành tinh và giả
thuyết di chuyển của trái đất của Galileo, thành một lư
thuyết có thể hiểu và chấp nhận được. Trái đất cũng như các
hành tinh của mặt trời bị một lực cuốn hút về phía mặt trời
và lực này giảm xuống khi hành tinh càng xa mặt trời. Những
nghi vấn trong giả thuyết của Copernicus cuối cùng được giải
quyết: cái ǵ làm các tinh hà di chuyển, làm thế nào các
tinh hà này giữ được quỹ đạo, tại sao những vật nặng lại rơi
trở về mặt đất, cơ cấu căn bản của vũ trụ, vấn đề trái đất
và thiên hà. Newton cung cấp một lư thuyết hoàn chỉnh và
nhất quán về vũ trụ. Voltaire ca ngợi Newton là một người vĩ
đại nhất đă sống trên địa cầu! Địa cầu chỉ là một trong cách
t́nh hà trong vũ trụ, mặt trời cũng như trái đất không là
‘trung tâm’ của cái ǵ cả. Sự di chuyển của tinh hà tuân
theo những định luật máy móc tự nhiên. Không ai tạo dựng vũ
trụ và không ai can thiệp vào vận hành vũ trụ. Thiên hà
ngôn tai, tứ thời hành yên, bách vật sinh yên. Trời có
nói ǵ đâu, bốn mùa chuyển, trăm vật nẩy sinh. Điều mà người
thường như chúng ta gọi là luật tư nhiên. Tự nhiên nhi
nhiên. Trời không có nói ǵ đâu v́ không có cái gọi là
‘tạo hóa’. ‘Cái quay búng sẵn trên trời’ chỉ là tâm
cảnh của những người bệnh tâm thần mà Freud gọị là
psychosis.
Tâm Hiện Đại
Trong các sinh
hoạt văn hóa triết lư liên hệ mật thiết nhất
với tư tưởng
và đời sống dù nhiều người vẫn nghĩ triết gia là những người
chân đi không chấm đất. Những người khổng lồ của triết lư
Đông Tây đều xem tư tưởng là lực chủ đạo đời sống. Đạo Khổng
xem tu thân cũng ngang với tề gia, trị quốc. Giáo hoàng John
Paul II trong ‘Bước qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng’ gán cho Đạo Phật
nhăn hiệu ‘tiêu cực’, nhưng ngay từ bài thuyết pháp đầu
tiên cho năm anh em Kiều Trần Như, những lời dạy Đức Phật là
những nguyên tắc đạo đức áp dụng trong đời sống. Đạo Phật
dạy chúng ta sống là một hành tŕnh
tu tập,
giáo lư là để hành tŕ, không phải để bàn luận nhảm nhí cho
thỏa măn khuynh hướng ‘nói láo mà chơi’. Cả Đức Phật và Đức
Thánh Khổng đều tránh xa huyền đàm về ‘h́nh nhi thượng’,
‘yên sự sinh, năng sự
tử’ (chưa
phục vụ được đời sống, lo chi đến chuyện sau khi chết). Thái
độ của Đức Phật là ‘yên lặng’ khi được hỏi tới câu ‘Như Lai
về đâu sau khi chết’. Nhưng đó là chuyện của những chương
sau.
Trong thời
Trung Cổ, triết lư chỉ c̣n là công cụ phục vụ thần học.
Aquinas, Augustine, Eramus đều t́m cách biện chính hay bảo
vệ giáo lư. Triết lư bấy giờ cúi đầu phục vụ niềm tin. Cách
mạng khoa học từ thế kỷ 15 đến 17 ở Tây phương đă làm nẩy
sinh nhận thức học mới. Francis Bacon (1561-1626) chỉ trích
triết lư cổ điển đă quá chú trọng đến lư trí diễn dịch và
nhiều khi chỉ là tưởng tượng, không có nền tảng trong thiên
nhiên. Bacon cho kiến thức tương đương với quyền lực và sự
hữu ích thực dụng là thước đo giá trị của chính triết lư.
Triết gia đích thực không phải là người cố gắng ‘thu nhỏ thế
giới bên ngoài cho vừa với nhăn quan của ḿnh, nhưng làm
tăng hiểu biết cho vừa với thế giới khách quan’. Bacon khẳng
quyết những kiến thức vô bổ thiếu nền tảng thực nghiệm cần
phải vứt bỏ. Bacon đề nghị một điều quan trọng, đó là cần
phải phân biệt giữa Thần học với khoa học, giữa lư trí và
niềm tin. Việc cổ động xem thực nghiệm là nguồn gốc hợp lư
của kiến thức đă hướng các nhà trí thức Âu Châu về một thế
giới thực nghiệm, từ bỏ những giả định không nền tảng. Triết
gia thứ hai là Réné Descartes (1596-1650), người đă tuyên bố
một câu bất hủ Cogito Ergo Sum (tôi suy tư vậy tôi
hiện hữu). Descartes định nghĩa cái ‘ngă’ hiện đại và thuyết
nhận thức tương đối: chủ nghĩa nghi ngờ và căn bản toán học
giúp ông làm một cuộc cách mạng triết lư. Ông nghi ngờ cả
cái nghi ngờ nhưng có một điều mà không ai nghi ngờ được là
cái chủ thể nghi ngờ. Cogito là nguyên tắc đầu tiên
của mô thức nhận thức của Descates. Descartes đă bắt đầu
quan niệm nhị nguyên về nhận thức và cho lư trí lên ngôi, có
quyền tối cao trong những vấn đề liên hệ đến tri thức, có
khả năng phân biệt một sự thật siêu h́nh và hiểu biết khoa
học về thế giới vật chất. Trước đây tính không thể nào sai
lầm được gán cho Chúa hoặc người đại diện Chúa (Giáo hoàng),
quyền đó đă được chuyển qua cho lư trí con người. Lư trí con
người có quyền phán xét cuối cùng! Khi tuyên bố
nguyên tắc nhị nguyên, Descartes muốn tách rời vũ trụ vật
chất khỏi những ḷng tin tôn giáo và các giáo điều thần học.
Nguyên tắc
thực nghiệm của Bacon và duy lư của Descartes đă trở thành
tính chủ yếu của thời khai sáng và tư tưởng Âu Châu hiện đại,
hay như tiêu đề của chương này, Tâm Hiện Đại (the Modern
Mind). Bacon và Descartes là những nhà tiên tri của nến văn
minh khoa học, nổi loạn đối với quá khứ mê muội. Kết quả của
thuyết nhị nguyên giữa chủ thể thuần lư và thiên nhiên vật
chất là Khoa học. Con người, chứ không phải đáng tạo hóa,
làm chủ thiên nhiên và làm chủ vận mệnh của ḿnh. Nếu có
trời th́ cũng có ta. Tri thiên mệnh không có nghĩa là (ngu
muội) đứng dưới một bức tuờng sắp đổ như Khổng Tử nói.
Từ giữa thế kỷ
15 đến thế kỷ 17 Tây phương chứng kiến của ư thức tự lập mới,
ṭ ṃ về thế giới chung quanh, tự tin trong phán đoán của
ḿnh, nghi ngờ những cái ǵ tự xưng là chính thống, nổi loạn
chống giáo quyền cũng như thế quyền. Họ nhận lănh trách
nhiệm cho hành động (không đổ lỗi cho định mệnh), phủ nhận
thời đen tối quá khứ và hướng về tương lai sáng lạn hơn. Họ
kiêu hănh về tính nhân loại, tự ư thức phân biệt với thiên
nhiên, ư thức được khả năng sáng tạo, tự tín với khả năng
trí thức, t́m hiểu và kiểm soát thế giới bên ngoài và không
c̣n tùy thuộc vào một đấng toàn năng nào khác. Khoa học trở
thành hy vọng giải phóng con người. Đó là con người duy lư,
dựa trên những suy nghĩ thông thường và thực tế có thể tiếp
xúc và đo lường được. Tri thức luận mới khiến Tâm Hiện Đại
tự lập và trưởng thành, bỏ lại tâm thức sơ khai, phản khoa
học, mê tín và áp bức thời Trung Cổ.
Kết quả của
ḍng chảy thế tục hóa trên b́nh diện chính trị là vào năm
1789, một số linh mục bị đưa lên máy chém, nhà thờ được
trưng dụng làm bệnh viện và trường học, cờ tam sắc treo thay
thế vào các dấu thánh giá. Châm ngôn không c̣n là thiên đàng
nước Chúa mà là tự do, b́nh đẵng và huynh đệ. Con người được
nâng lên địa vị xứng đáng, phục hồi đầy đủ ‘nhân quyền, nhân
phẩm’.
Thuyết tiến
hoá của Darwin cho nguồn gốc các chủng loại và con người là
kết quả của chọn lựa tự nhiên. Thiên nhiên và con
người không phải do thiết kế nào của ‘tạo hóa’ nhưng là chọn
lựa t́nh cờ và phi-đạo đức trong cuộc tranh đấu để sống c̣n.
Thuyết tạo dựng cho rằng vũ trụ được tạo dựng theo một
mục tiêu và được giám sát bởi một đấng tối cao siêu
nhiên đă trở nên lạc lơng, càng ngày càng ít được chấp nhận,
ngay trong hàng ngũ tín đồ trung kiên. Thuyết tiến hóa đă
trở thành một ḍng chảy chính được giới khoa học chấp nhận
và được dạy trong các trường trung học. Giáo hoàng có khả
năng là bà con xa gần của loài khỉ linh trưởng hơn là do bàn
tay siêu nhiên nào đó nặn ra. Con người nắm tương lai ḿnh
trong bàn tay, hay nói như một thiền sư Tây Tạng, Liberation
is in your Hand. Giải phóng trong ḷng bàn tay của ḿnh.
Vào giữa thế
kỷ 17 tư tưởng Descartes trở thành ngọn hải đăng của triết
lư và khoa học. Theo D’ Alembert, thế kỷ thứ 18 được xem như
là thời kỳ tinh hoa của triết lư (Philosophy per
excellence). D’ Alembert so sánh triết lư với con sông vỡ bờ.
đem phù sa tưới đẫm các vùng đất mầu mỡ và nuôi dưỡng những
đồng bằng tri thức. Nguyên tắc duy lư, duy nghiệm và thế tục
được dùng phân tích mọi lỉnh vực kể cả tôn giáo. Con người
khao khát những kiến thức mới và càng ṭ ṃ vế thế giới bên
ngoài, cũng như bên trong. Khoa tâm lư đang trong giai đoạn
chuẩn bị trưởng thành, trước khi những nhà tâm lư khổng lồ
của thế giới bên trong xuất hiện: Freud, Jung, Adler…
D’Alembert kết luận: “Có lẽ không có thời kỳ nào thâm nhiễm
ư niệm tiến bộ trí thức như thời kỳ khai sáng” (8). Nếu diễn
tả tính chất của thời kỳ khai sáng có thể tóm gọn tại trong
một chữ ‘Lư trí’. Hay có thể gọi thế 18 là thế kỷ ánh sáng,
của lư trí và của triết lư.
Lư trí và ḷng
tin
Nhiều người
vẫn cho rằng ‘ḷng tin’ là một yếu tố thiết yếu trong đời
sống ‘tâm linh’ và không phải là đối tượng phê phán của lư
trí. Ngay cả Kant cũng tránh dùng lư trí phân tích niềm tin.
Onfray chế nhạo quan điểm này của Kant đă phản lại triết lư
Kant (anti-Kantian). Descartes nghi ngờ cả cái nghi ngờ của
chính ông nhưng vẫn c̣n tin Thượng Đế như một bảo chứng cho
sự tin cậy của nhận thức con người. Những triết gia khác của
thời khai sáng như Voltaire thận trọng tuyên bố là ông chỉ
chống đối mê tín chớ không phải với ḷng tin.
Tác giả bộ bách khoa Encyclopedie, Diderot ngược lại tuyên
chiến với ‘chân lư’ mà tôn giáo xem là có giá trị tuyệt đối.
Diderot kết án tôn giáo (theo nghĩa tôn giáo độc thần) làm
cản trở tiến bộ tri thức và không có khả năng để
thiết lập một nền đạo đức đích thực cũng như không có
khả năng thành lập một trật tự công chính về xă hội và
chính trị. Diderot cảnh cáo là tôn giáo giống như con
chằng tinh, chặt đầu này nó sẽ mọc ra đầu khác!
Triết gia duy
nghiệm Hume cho rằng những cái gọi là ‘siêu nhiên’ như mặc
khải, hội thông và cứu rỗi chỉ là ảo tượng. Triết gia duy
vật Holbach tố cáo tôn giáo giáo dục con người sợ hăi một
tên độc tài vô h́nh, làm nô lệ con người, khiến con
người hèn nhát không dám đối đầu với những tên độc tài trên
mặt đất, làm tê liệt những sáng kiến độc lập hướng dẫn số
mệnh của con người (9) Hầu hết các triết gia và khoa học
hiện đại như H.G. Wells, A. Einstein, C. Jung, Max Planck,
Stephen Jay Gould đă tuyên chiến giữa lư trí và ḷng tin.
Chúng ta không cần ‘ḷng tin’ vào thần thoại ‘rác rến’ (nguyên
văn: scrap heap) truyền bá trong thiên niên kỷ để có được
cái nh́n nhất quán về vũ trụ. Những triết gia này khuyến cáo
là cần hoàn thiện hiểu biết về tôn giáo hiện diện
từ hàng ngàn năm trước thay v́ chỉ ôm chặt lấy giáo điều.
Những quan niệm ‘chính thống’ về tôn giáo đă đóng mọi
cánh cửa hiểu biết về tâm linh và đạo đức v́ đă không chấp
nhận bất cứ một phê phán nào. (10)
Thái độ t́m
hiểu tôn giáo theo ‘tâm hiện đại’ nên là thái độ t́m hiểu và
phê phán liên tục, như Socrate và Đức Phật đề nghị là hành
tŕnh đi t́m sự thật quan trọng hơn là chính sự thật. Không
phải mỗi lần thấy ai phê phán đi ra ngoài những hiểu biết
được truyền dạy và chấp nhận, th́ dùng thánh kinh (trong
trường hợp Phật giáo, kinh điển) ra làm mộc để bảo vệ giáo
điều, thái độ mà Cha Nguyễn Ngọc Lan gọi là thái độ ‘đường
hay pháo đài’. Những thành phần cực đoan trong tôn giáo
(fundamentalist) thường dùng tôn giáo như một pháo đài, sống
chết bảo vệ ‘ḷng tin’, dùng mọi phản ứng dù tàn độc đến đâu
để bảo vệ giáo điều, thường là mê tín, thiếu bằng cớ tối
thiểu có thể chấp nhận được. Những điều mà tín đồ (của bất
cứ tôn giáo nào) cho là ‘thiêng liêng’ ‘tâm linh’ thực ra
chỉ v́ người xưa cho đó là thiêng liêng và nếu dùng tiêu
chuẩn trong ‘tâm hiện đại’ để xem xét và phê phán, các em
học sinh tiểu học cũng không chấp nhận được. Phước lành cho
những ai không thấy mà tin (John 20:29) Ḷng tin mà
Kierkeguard gọi là ‘leap of faith’ viện lẽ đó là ân sủng cá
nhân, không ai có thể minh chứng được.
Nội dung của
ḷng tin rất mơ hồ, ai muốn định nghĩa hay hiểu sao cũng
được. Ḷng tin ‘hứa hẹn’ những ǵ mà con người mong muốn,
quyết tâm đạt được những ǵ chưa thấy và có lẽ chẳng bao giờ
thấy. Dĩ nhiên không ai bảo đảm được ǵ cả, nhưng giống như
một châm ngôn thị trường ‘mua bây giờ, trả tiền sau’. Giáo
điều hứa hẹn ‘tin bây giờ, kiếp sau …sẽ thấy linh nghiệm’
Tại sao một tên khủng bố sẵn sàng đánh bom làm tử vong những
người mà anh ta chưa bao giờ thấy mặt?. Giản dị là v́ anh
được hứa hẹn làm kẻ tử đạo và kiếp sau được lên
thiên đàng! Kinh Koran đă nói như thế! Ai có thể đoan
chắc rằng những ǵ nói trong kinh Koran là lời của chính
Thượng đế? Không ai có thể đoan chắc ǵ cả. Thế tại sao tin?
Nếu dùng lối đối thoại kiểu Socratic, đến một lúc câu trả
lời sẽ là: “Tin th́ tin, không tin th́ thôi” Nếu nhẹ nhàng
hơn họ sẽ nói: “ Khi nào được chúa gọi” Đó là cuộc đối thoại
giữa những người điếc!
Những ai xem
xét hay phê phán ‘ḷng tin’ nhanh chóng bị kết tội là ‘vô
cảm’ trước những vấn đề ‘nhạy cảm tâm linh’ và bị xem như là
thành phần quá khích về tôn giáo. Nói như thế th́ tất cả các
triết gia thời khai sáng đều là những người quá khích.
Nhưng ai mới thật sự là người quá khích?
Trong lịch sử
nhân loại giáo điều là nguồn phát khởi bạo động chính. Sau
thế chiến thứ Hai, nhân loại tưởng như bước vào một thời kỳ
hoà b́nh kéo dài. Nhân loại thất vọng v́ tôn giáo đă là
nguyên nhân gây chiến tranh cục bộ gây tổn thất hàng triệu
nhân mạng và mỉa mai thay, phần lớn những người chết cùng
thờ chung tổ phụ Abraham! Chỉ xin kể ra một vài cuộc chiến
tiêu biểu: Palestine (Do Thái- Hồi giáo), the Balkans (Chính
Thống-Serbs vs Catholics-Croatians, Muslims-Albanians),
Northern Ireland (Tin lành vs Thiên Chúa), Kashmir (Hồi- Ấn
giáo), Sudan, Nigeria, Ethopia- and Eritrea (Hồi- Thiên Chúa),
Sri Lanka (Phật-Sihalese vs Thiên chúa-Tamils), Đông Timor (Hồi-
Tin Lành), Nga- Chechens (Hồi-Chánh Thống). Những người tử
đạo của mọi bên đều được hứa hẹn là sẽ được lên thiên đàng
sau khi chết. Đối với một người suy nghĩ b́nh thường, đó là
những lời hứa hăo bởi không ai biết là các người tử đạo có
lên thiên đàng hay không. Có bao nhiêu thanh niên đă không
sống quá tuổi thanh xuân của đời này để đổi lấy thiên đàng
mờ mịt ở đời sau?
Những niềm tin
nho nhỏ tưởng là vô hại nhưng là động cơ gây ra những bạo
động khủng khiếp. Năm 2002 cuộc thi hoa hậu Miss World ở
Nigeria gây ra cuộc bạo động làm thiệt mạng hơn 200 người.
Mohamed không cho phép phụ nữ ăn mặc hở hang. Làm như
thể nhà tiên tri của đạo Hồi cả ngày lẫn đêm đi làm công an
thời trang, đi kiểm soát và trừng phạt phụ nữ mặc Bikini! Có
14 phụ nữ bị hoả thiêu trong đám cháy trong cuộc hành hương
hàng năm tại Mecca. Lư do? Nhân viên cứu hỏa và cứu thương
bị ngăn chặn không cho vào làm nhiệm vụ v́ các phụ nữ này
không mang khăn che tóc và mặt. Chỗ nào trong kinh Koran đề
cập đến chuyện ăn mặc của phụ nữ? Gần nhất, một người cha
gốc hồi sống ở Mỹ đă dùng xe cán đứa con gái v́ cô đă bị ‘Mỹ
hoá’ trong cách sống. Một người cha khác ở Jordan đâm con v́
con đă chữa hoang! Chuyện bảo vệ ‘danh dự’ gia đ́nh xảy ra ở
Hồi và Ấn Độ thường xuyên như cơm bữa. Nhiều giáo phái Tin
Lành từ chối việc truyền máu và tất cả những phương tiện Y
Khoa hiện đại cho dù bệnh nhân đang trong cơn thập tử nhất
sinh. Những ḷng tin nhỏ ‘vô hại’ khác như cấm ngừa thai,
chống kế hoạch hóa gia đ́nh nhưng ảnh hưởng vô cùng không
nhỏ một chút nào trong việc phát triển xă hội và kinh tế.
Khi tôi đang viết đến đây th́ đọc tin biết một dược sĩ ở Úc
từ chối không bán condom cho công chúng. Một dược sĩ Úc,
không phải là người b́nh dân ít học ǵ đâu! Một số nước Phi
Châu đang có bệnh Aids lan tràn Chúa cũng không cho tín đồ
dùng condom! Chánh phủ Bush trước đây đă không chịu viện trợ
cho các nuớc nghèo nào áp dụng kế hoạch hoá gia đ́nh và
không chịu tài trợ các chương tŕnh nghiên cứu tế bào mầm
trong chương tŕnh therapeuthic cloning. Giáo sư Blackburn
gốc Úc bị chánh phủ Bush sa thải v́ dám chất vấn sự thiên vị
của chánh phủ trong việc tài trợ nghiên cứu tế bào mầm, đă
đoạt giải Nobel về Y Khoa năm 2009. Một số các bác sĩ liên
hệ đến việc phá thai đă bị các nhóm pro-life ám sát. Đến nay
Giáo hội vẫn chống trợ tử, giúp những người chịu đau đớn
cùng cực trong những cơn bệnh không c̣n cứu chữa được. Năm
ngoái tôi đọc tin một Bác sĩ bị ung thư đến thời kỳ cuối đă
qua Thụy Sĩ để ông thuốc trợ tử v́ chỉ nơi này bệnh nhân mới
có thể làm chuyện đó hợp pháp. Và người phối ngẫu? Bà bị kêu
án một năm tù v́ đă giúp chồng chết một cách đầy phẩm giá.
Nhờ dư luận lên tiếng binh vực trợ tử nên toà chỉ kêu án
treo. V́ sao? V́ con người là một phần máu thịt thiêng liêng
của Chúa! Hiện trong nhiều quốc gia vẫn c̣n xem tự tử là bất
hợp pháp. May là chưa thấy ai bị đưa những xác chết ra toà.
Ai bảo niềm tin thiêng liêng có tính cách cá nhân và vô hại?
Những người tự
nhận ‘ôn hoà’ về tôn giáo đă ít nhất ngăn cản đối thoại có ư
nghĩa giữa lư trí và ḷng tin và đă gián tiếp chịu trách
nhiệm cho những xung đột chính trị và bạo động đang xảy ra.
Chủ trương không được phán xét ḷng tin qua ánh sáng của lư
trí, của văn hóa thế tục và khoa học là phủ nhận những tiến
bộ của văn minh nhân loại từ thời phục hưng đến nay. Để tiến
đến một nền đạo đức phổ quát vượt qua văn hóa và chủng tộc,
chúng ta cần một cuộc đối thoại với tinh thần cởi mở và ư
hướng hợp tác để điều chỉnh những niềm tin trái ngược với
khám phá khoa học cho đến đầu thiên niên kỷ. Tại Tây phương
phần lớn các triết gia đă công khai phủ nhận những giáo điều
Thánh Kinh là ‘chân lư tuyệt đối’. Đă đến lúc phải đối thoại
bằng những ngôn từ giản dị về sự phi lư trong hầu hết
các niềm tin tôn giáo. (11) Trong số các nhà lănh đạo Phật
giáo, Đức Đạt Lai Lạt Ma đă công khai tuyên bố là nếu khoa
học t́m ra những ǵ tương phản với ḷng tin, ông sẵn
sàng xem xét và điều chỉnh nếu cần. Khi được nhà báo Jean
Claude Carrière hỏi: ‘Ngài có thể là Đức Đạt Lai Lạt Ma cuối
cùng không?”. Câu trả lời ngắn gọn và cương quyết: “Có thể
lắm”. Đó là thái độ cởi mở can đảm của một Giáo chủ-Quân
Vương như Ngài, phù hợp với tinh thần khiêm tốn của giới
khoa học: bất cứ một chân lư nào khám phá ngày hôm nay, đều
có thể bị những khám phá mới ngày hôm sau chứng minh là sai
lầm hay ít nhất bị vượt qua. Thiếu thái độ khiêm tốn đó,
khoa học không thể nào tiến bộ được.
Ai mê tín hơn
ai?
Auguste Comte
chia sự tiến bộ của tư tưởng nhân loại ra làm 3 thời kỳ: ma
thuật-thần thoại, siêu h́nh-tôn giáo và khoa học. Sự phân
chia này chỉ có tánh cách hướng dẫn bởi v́ trên thực tế tư
tưởng tập thể quốc gia hay cá nhân lẫn lộn nếp suy nghĩ này
với nếp suy nghĩ khác. Một khoa học gia khi làm việc ở pḥng
thí nghiệm hành xử như một khoa học gia: đ̣i hỏi phải có
bằng chứng xác thực trước khi, những phương pháp khoa học và
công bố kết quả một cách thận trọng. Ngoài đời ông có thể
không muốn động tới những vấn đề liên hệ đến ‘niềm tin’ và
có thể xử sự như một người bán than!
Lấy nước Mỹ
làm thí dụ. Trong hai thế kỷ qua những nhà tư tưởng tự do Mỹ
(Liberalism) tiếp tục phong trào khai sáng và tạo những giá
trị cấp tiến về chính trị, kinh tế và xă hội. Có nhiều
chuyển động tiến bộ không những về mặt tôn giáo, kinh tế và
xă hội. Các đại học Mỹ vẫn đứng hàng Top Ten và các trường
đại học Harvard, Yale, Princeton, Stanford là nơi sinh viên,
kể cả sinh viên Mỹ, mơ ước được vào học và dĩ nhiên là mẫu
mực mong ước của nhiều quốc gia khác. Những yếu tố này cho
thấy đáng lẽ tŕnh độ dân trí Mỹ rất cao. Nhưng ngay cả mặt
trăng cũng có phần đen tối của nó. Theo cuộc thăm ḍ của Bộ
Giáo Dục Mỹ có 44 triệu dân Mỹ không thể đọc và viết cao hơn
tŕnh độc lớp 4. Có chừng 11% dân Mỹ không bao giờ đọc báo
hàng ngày (12). Về mặt tôn giáo?
Theo thống kê
Gallup do Sam Harris trích dẫn, vào cuối thế kỷ 20, có 35%
dân chúng Mỹ tin những ǵ viết trong Thánh kinh chính
là lời của Chúa và do đó không thể sai lầm. Có 48% dân Mỹ
tin Thánh Kinh là những ǵ hứng khởi từ Chúa, mặc dù có
nhiều đoạn cần hiểu theo nghĩa bóng. Chỉ có 17% nghi ngờ sự
hiện diện của Thiên Chúa bằng xương bằng thịt! Thú vị nhất
là 46% dân Mỹ tin nguyên văn của thánh kinh về thuyết tạo
dựng (13). Có nghĩa là 120 triệu dân Mỹ tuyệt đối tin vào
thánh Kinh, một tác phẩm đầu đuôi bất nhất về h́nh thức cũng
như nội dung là từ một đáng toàn trí và toàn năng ’hứng khởi’.
Ṿng đai Thánh Kinh (the Bible Belt) ở Mỹ này trong nhiều
năm qua đă bỏ phiếu cho những thành phần cực hữu trong đảng
Cộng Ḥa và việc đắc cử của một ‘sinh viên Yale hạng C’ như
Bush con là một thí dụ điển h́nh. Sam Harris c̣n nói thêm là
các tín đồ Ấn Giáo, Hồi Giáo và Do Thái Giáo đă ‘say’ v́
những huyền thoại. Phật giáo không bị nhắc tới! Đây
không phải là lần đầu tiên tôi thấy Phật Giáo ‘lọt sổ’. Hai
tác giả khác, Onfray (Pháp) và Tom Frame (Úc) cũng để Phật
giáo ra ngoài sổ ‘đoạn trường’. Các nhà nghiên cứu Phật Giáo
này dựa trên kinh điển, phần lớn kinh hệ Pali. Trên thực tế,
lớp vỏ hành nào thuộc về các ‘niềm tin’ trong đạo Phật
cần phải vứt bỏ?
Dựa trên các
tài liệu thống kê từ các năm 1991 tại Úc cho tới nay, Frame
nhận thấy dân Úc càng ngày càng có khuynh hướng từ bỏ niềm
tin. Trong mục thăm ḍ thống kê về ‘tôn giáo’, chánh phủ cho
phép dân chúng trả lời hay không tùy ư. Những ô ‘không tôn
giáo’ gồm cả những người vô thần (Atheist), Agnostic (Bất
khả tri- không biết), những người tin các thuyết nhân bản
thế tục (Humanist) hay Duy Lư (Rationalist). Năm 1991 có
12.9% người điền chữ X vào ô ‘No Religion’. Năm 1996 có
16.6% nghĩa là số người vô tôn giáo tăng lên 772,000 trong
ṿng 5 năm. Theo Frame số người tuyên bố ‘không tôn giáo’ là
những người có học thức cao, giàu có và thường là chuyên gia.
Vào năm 2006 con số tuyên bố ‘không tôn giáo’ ở Úc lên tới
tỷ lệ 18.7% (tăng lên 27.5% kể từ năm 2001). Số người từ
chối trả lời câu hỏi này tăng từ 27.5% kể từ năm 2000. Tổng
cộng những người ‘không tôn giáo’ và những người từ chối trả
lời là 5,92 triệu, nghĩa là chùng một phần tư (25%) (14)
Frame là một mục sư lănh đạo của Anh Giáo (Church of
England), một giáo phái ‘cấp tiến’ hơn giáo hội Ky Tô và Tin
Lành khác.
Pamela Bone
trong tác phẩm ‘Không tôn giáo khiến bạn có nhiều tự do’,
Cô thấy rằng tỷ lệ người ‘vô tôn giáo’ ở Ậu Châu thường cao
hơn Úc và các nước Tây phương khác. Điều này cũng có ǵ lạ
nếu độc giả theo dơi phần đầu của bài này, các triết gia Âu
Châu trong phong trào khai sáng đă khai tử Chúa từ lâu. Có
70% dân chúng Thụy Điển là những người đă từ bỏ ḷng tin,
48% dân Pháp là những người không tôn giáo, Vive la
Revolution! Tỷ lệ dân Úc theo Bone là 25%. Ngoan đạo nhất là
dân Tây Ban Nha (15%) và Ái Nhĩ Lan (4%). Có lẽ v́ quá ngoan
đạo nên cuộc chiến tranh Bắc Ái Nhĩ Lan giữa Thiên Chúa và
Tin Lành kéo dài gần như vô tận! Có lẽ cũng như tinh thần
khiêm tốn trong khoa học, các người ‘không tôn giáo’ gồm cả
những người tin vào các triết lư nhân bản và duy lư là một
bộ phận rất gần với thái độ ‘quỷ thần kính nhi viễn chi’
của Khổng Tử và thái độ im lặng của Đức Phật đối với
các câu hỏi siêu h́nh của đệ tử; thái độ mà người Tây phương
là agnostic: I DON’T KNOW. Theo Bone những người giữ thái độ
bất khả tri tránh được hai cực đoan mà ḿnh không biết: tin
mù quáng vào những giáo điều phi lư và bàn luận đến một thế
giới mù mịt mà ḿnh không biết. Hiện nay Phật giáo Tây Tạng
không c̣n xem vấn đề ‘đầu thai’ của các Đức Đạt Lai Lạt Ma
là quan trọng nữa. Thay vào đó họ đào tạo nhiều vị tăng tài
thông thạo ngoại ngữ (nhất là Anh ngữ) và chú tâm dạy cho
người Tây Phương cách hành tŕ như Thiền Quán. Phật giáo
Việt Nam trong nước cũng như hải ngoại có học được một bài
học nào từ Phật giáo Tây Tạng không? Cuốn Đường Xưa Mây
Trắng của Nhất Hạnh lược bỏ hầu hết các huyền thoại về cuộc
đời Đức Phật. Các nhà nghiên cứu Phật học Tây Phương thường
giữ thái độ này và đề nghị một loại Phật giáo không có ḷng
tin (hiểu là mê tín) như Stephen Batchelor, mà tôi sẽ đề cập
trong chương sau.
Tham khảo
(1)
Lê Tôn Nghiêm. Lịch sử Triết học Tây Phương. Đại Nam
Taiwan, Reprint 1971, tr 10.
(2)
Tarnas,
Richard. The Passion of the Western Mind. Pimlico,
London, 1996, tr 28
(3) Onfray,
Michel. The Atheist Manifesto. Melbourne University
Press, 2007, tr 151.
(4) Từ
Montaigne (Essais) đến Sartre, cây sậy biết suy nghĩ Pascal,
Descartes (Discours de la Method, Meditation) Kant (Critique
of Pure Reason) , Malebranche, Spinoza, Locke (Essay
on Human Understanding), Flaubert (Madame Bovary)
Voltaire (Lettres Philosophiques), Diderot (Encyclopedie)
Hume, Berkeley, Rousseau (Du Social Contract), Paine
(The Rights of Man) Bergson, Darwin (On theOrigin
of Species). Harris, Sam. The End of Faith.
Religion, Terror and the Future of Reason.
The Free
Press, UK, 2004, tr 105.
(5) Harris,
sđd, tr 86
(6) Onfray,
sđd, tr 82
(7) Trích lại
từ Tarnas, sđd, tr 239
(8) Cassirer,
Ernst. The Pholosophy of the Enlightenment. Princeton
University Press, 1979, tr 5
(9) Carrister,
sđd, tr 134
(10) Harris,
sđd tr 21)
(11) Morris,
sđd, tr48-49
(12) Moore,
Michael. Stupid White Men, Penguin Book, Australia,
tr 86.
(13) Harris,
sđd, tr 17
(14) Frame,
Tom. Losing My Religion. Unbelief in Australia.
University of New Wales Press, NSW, 2009, tr 93-94 |