WWW CHUYỂN LUÂN

Bài trong tháng

CHUYỂN LUÂN NĂM 2009

090228 Cháy
09304 Kẻ đánh lừa ba chế độ
Ai đă "nối giáo cho giặc"?
Alexandre Rhodes?!
Anthony Darlic: Ừa nhỉ, nếu ai cũng ốm cả...?
Anthony Darlic_Oba ma đă xuống tay
Anthony Darlic_Ăn giày
Bye bye giấc mộng con 2009
Bài đă đăng năm 2009
Bông Hồng ấy ngày xưa
Bệnh viện Hải thượng_Blog Nguyễn Triều: Phím
Bệnh viện Phật giáo_An ninh TD
Bệnh viện Phật giáo_An ninh TD 2
Bệnh viện Phật giáo_Báo Giác ngộ
Bệnh viện Phật giáo_Báo Giác ngộ 2
Bệnh viện Phật giáo_Báo khác
Bệnh viện Phật giáo_CATPHCM 2
Bệnh viện Phật giáo_Chuyện cá tháng Tư"
Bệnh viện Phật giáo_Chương tŕnh Hội thảo quốc tế Phật giáo
Bệnh viện Phật giáo_Cà khịa
Bệnh viện Phật giáo_Công an TP 1
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ 3
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ 4
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ 4_Minh Tâm làm từ thiện
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ Phỏng vấn bà Nhu Ḥa
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ: Lá thư biên tập
Bệnh viện Phật giáo_Nguyễn Thiếu Văn bào chữa cho Thích Minh Tâm
Bệnh viện Phật giáo_Nguyễn Thiếu Văn cho DIC sập bẫy
Bệnh viện Phật giáo_Nguyễn Thiếu Văn/Thích Minh Tâm
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao đông 1
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao đông 2
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao đông 3
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao đông 4
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao đông 5
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao động 6
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao động 7
Bệnh viện Phật giáo_Pháp Luật
Bệnh viện Phật giáo_Pháp Luật 2
Bệnh viện Phật giáo_Pháp Luật 3
Bệnh viện Phật giáo_Pháp luật 4
Bệnh viện Phật giáo_Pháp luật 5
Bệnh viện Phật giáo_Pháp luật 6
Bệnh viện Phật giáo_Pháp luật 6
Bệnh viện Phật giáo_Pháp luật 7
Bệnh viện Phật giáo_Phỏng vấn bà Nhu Ḥa
Bệnh viện Phật giáo_SGGP 2
Bệnh viện Phật giáo_TBKTSG
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 1_ENG
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 2
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 2_ENG
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 3
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 4
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 5
Bệnh viện Phật giáo_Tin sưu tầm các báo
Bệnh viện Phật giáo_Tiến sĩ thật hay giả?
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ 2
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ 3
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ 4
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ 6
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ 7
Bệnh viện Phật giáo_Tư cách học thuật và tư tưởng chính trị của Nguyễn Thiếu Văn-Thích Minh Tâm
Bệnh viện Phật giáo_VNEpress 2
Bệnh viện Phật giáo_VNExpress
Bệnh viện Phật giáo_VNExpress 3
Cho nước Mỹ và cho con người
Chuyện buồn đất nước
Chuyện hết ư năm 2008
Chân dung tên đại bịp_Quảng Trí
C̣n điều ǵ Obama chưa nói hết
Dự án Hải thượng Y viện và Quả lựu đạn cuối cùng
Giấc mơ chất lượng Việt
Hoàng Nguyên Nhuận: Người chết hai lần?
Hoàng Đông Tà_Phật cũng ngán Hoà thượng Tiến sĩ Barrister
Hoàng Đông Tà_Phật cũng ngán Hoà thượng Tiến sĩ Barrister
Hoàng Đông Tà_Phật cũng ngán Hoà thượng Tiến sĩ Barrister
Huỳnh Bất Hoặc: Nỗi buồn đối lập
Huỳnh Bất Hoặc: Tới luôn bác tài
HÀNH TR̀NH  HÓA GIẢI CỦA OBAMA
Hải thượng Y viện_Thanh niên 6
Hồng Quang_Bang giao với Vatican: Thách thức sinh tử
Khóc anh Phạm Thế Mỹ
Liên Thành và biến động miền Trung
Lăng ba vi bộ với Kissinger
Minh Trầm_Kư ức về Phạm Thế Mỹ
Mạt cưa mướp đắng
Mắt nhắm, mắt mở
Mặt trời vẫn mọc
Nguyễn Hữu Liêm_Trí tuệ Garcia
Nguyễn Thiếu Văn chống phá nhà nước Việt Nam
Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ qua đời_Thanhnien
Những ngả ba đường
Obama là Phật tử
Obama, cho đến khi núi lở non ṃn?
Phật Giáo dưới góc độ Hiện đại và Hậu hiện đại
Phật giáo được công nhận là tôn giáo vĩ đại nhất thế giới
QUO VADIS?
Thư gửi anh Cao Huy Thuần (nhân đọc Thấy Phật)
Ton giáo dưới mắt người vô chính phủ
Trắng trợn
TU và TÙ - TU TẬP và TẬP TU
Tuần lễ Văn hoá Phật Giáo
Tâm hiện đại
Tản mạn chuyện giữ ghế
VNN_Về thăm làng sư giả
Vài kỷ niệm với Phạm Thế Mỹ
Vũ Ngự Chiêu_TQ chiếm đất Việt nam
Vấn đề tài liệu Sử
Vấn đề tài liệu Sử_Phần 2 & 3
Đôi điều với Liên Thành về Biến động miền Trung
Đôi điều với Ma giữa ban ngày
Ảnh hưởng của Phong trào PG tranh đấu miền Trung

Ảnh hưởng của Phong trào Phật Giáo Tranh đấu Miền Trung

Quán Như Phạm Văn Minh

 

Cũng cần đánh giá đúng mức ảnh hưởng chính trị của Phong Trào Tranh Đấu Miền Trung tại nước ngoài. Trong lịch sử chiến tranh Việt nam, có HAI lần tổng thống Johnson nuôi ư định rút quân Mỹ về nước. Lần thứ nhất, khi Tướng Khánh ‘hợp tác’ với Phật tử và lật đổ chánh phủ Trần Văn Hương, và lần thứ hai, khi Phong Trào Tranh Đấu Miền Trung huy động được toàn thể dân chúng tại ít nhất ở 7 tỉnh miền Trung chống chánh phủ “chiến tranh’ của Kỳ. Chỉ một vài ngày trước khi phong trào bị dẹp tan, Phụ tá Bộ Trưởng Quốc Pḥng, John McNaughton, đề nghị chánh phủ Johnson khuyến cáo Mỹ nên thương thuyết với đối phương để chấm dứt chiến tranh. Khi Kỳ dẹp tan các ‘ổ’ tranh đấu cuối cùng, Tổng thống Johnson và các cố vấn mới thở phào nhẹ nhơm (nguyên văn heaved a collective relief!) và dĩ nhiên, dẹp qua đề nghị giải pháp thương thuyết và theo lời của Phụ tá Bộ Trưởng Quốc Pḥng, Bill Bundy, ghi nhận là tất cả nội các thấy thoải mái (1) 

Ảnh hưởng chánh trị của cuộc tranh đấu Phật Giáo đối với cái nh́n của nhân dân Mỹ về chiến tranh Việt Nam phức tạp hơn. Lúc chiến tranh mới bắt đầu, phần lớn dân Mỹ tin là các thanh niên Mỹ đến Việt nam đầy ḷng nhiệt huyết và với ư định cao cả. Dân Mỹ do đó phẩn nộ khi chứng kiến Phật từ xuống đường tuần hành, la to khầu hiệu ‘Yankee cút về nước’, đốt thư viện Mỹ và toàn lănh sự Mỹ (các lănh tụ tranh đấu phủ nhận các hành vi bạo động này và nghi ngờ các biến cố bạo động này do các agents de provocateur thuộc đảng Đại Việt quấy động) . Ngay cả những người am hiểu t́nh h́nh Việt Nam như Neil Sheehan trong nhóm phóng viên Young Turks, tác giả cuốn The Best and The Brightest, viết về suy nghĩ của ông ta về cuộc xung đột tại Việt Nam: 

Lần đầu tiên khi tôi đến sân bay Tân Sơn Nhất ờ Sàigon, tôi tin tưởng những ǵ mà quê hương tôi đang làm tại Việt Nam. Nước Mỹ đang cố gắng giúp một quốc gia ‘không’ Cộng sản bảo vệ độc lập quốc gia chống lại các du kích quân Cộng Sản đang t́m cách áp đặt chế độ độc tài. Đối với tôi, đây là một mục tiêu chánh đáng và cần làm, nếu muốn dân chúng ở Á Châu được chọn lựa tự do và có quyền tự quyết dân tộc. Mặc dù tôi thường không đồng ư với một vài chánh sách Mỹ áp dụng ở Việt Nam, nhưng trong 2 năm của kỳ công tác đầu, tôi đồng ư với mục đích chính của chánh sách can thiệp vào Việt Nam.(2) 

Mặc dù có quan điểm như thế, ông trở nên thất vọng với vai tṛ của Mỹ trong chiến tranh khi ông được phái đến săn tin tại Việt Nam lần thứ hai. Khi ông rời nhiệm sở lần thứ nhất, ở Việt Nam chỉ có 17 ngàn cố vấn quân sự Mỹ. Ông tin là một ngày nào đó, Mỹ sẽ chiến thắng và Việt nam sẽ trở nên một nước ‘tự do’ không cộng sản. Nhưng vào năm 1966, khi trở lại Việt nam, tổng số quân Mỹ ở Việt nam lên tới 317 ngàn (ba trăm mười bảy ngàn). và viễn ảnh thua trận thấp thoáng ở ‘góc phố’. Sheenhan bắt đầu nghĩ là ḿnh ngây thơ khi nghĩ rằng một quốc gia Việt Nam ‘không Cộng sản’ có thể chiến thắng Cộng sản và xây dựng một xă hội công bằng và tiến bộ. 

Cuối cùng ông nhận ra là nông dân Việt nam, những nạn nhân trực tiếp của chiến tranh, đă quá chán ghét cuộc chiến và sẵn sáng chấp nhận bất cứ giải pháp nào để chấm dứt chiến tranh để đem lại hoà b́nh. Quan trọng nhất là những người Mỹ yêu quốc gia họ, như Sheehan, nhận thấy rằng, trong thế chiến Thứ Hai va chiến tranh Triều Tiên, hành động can thiệp của Mỹ có thể biện chính được. Chiến tranh Việt Nam th́ không như thế. Sheehan kết luận giống hệt như kết luận của Nhất Hạnh trong sứ điệp mà Nhất Hạnh mang tới Hoa Thịnh Đốn vào tháng Sáu năm 1966: 

Dân Việt Nam đă trở thành con chốt trong bàn cờ chiến tranh Việt nam.  Tất cả những mong muốn của họ đă trở thành vô vọng. Nước Mỹ không thể măi giả vờ là họ đang chiến đấu để bảo vệ nền độc lập của miền Nam Việt Nam. Sự hiện diện của 317 ngàn quân Mỹ đă trở thành một tṛ cười cho ư tưởng về sự độc lập và toàn vẹn lănh thổ của Việt Nam và chế độ quân phiệt ở Sài g̣n không tồn tại nổi một tuần lễ nếu không có súng và lưỡi lê do Mỹ cung cấp. (3)  

Mặc dù rất thất vọng, Sheehan chưa đến mức để trở thành ‘bồ câu’, bởi v́ ông không thấy Mỵ có cách nào khác hơn là tiếp tục chiến tranh. Tuy nhiên một số dân chúng Mỹ lo ngại là càng ngày càng có thêm nhiều lính Mỹ thiệt mạng. Cũng như một công dân Mỹ yêu nước khác lúc bấy giờ, Giáo sư David Kaiser, lúc đó mới 18 tuổi, hănh diện là công dân của một nước vĩ đại lănh đạo thế giới và đóng vai tṛ nặng nề là ‘bảo vệ thế giới tự do’. Hiện nay Kaiser trở thành một giáo sư lịch sử nổi tiếng, chiến tranh Việt Nam đă làm ông thay đổi nhăn quan về nước Mỹ và thế giới. Nước Mỹ, cũng như bất cứ một quốc gia nào khác, có thể mắc lỗi lầm lớn lao cũng như có thể thực hiện những chiến thắng vĩ đại. Kaiser thú nhận là chiến tranh Việt Nam đă là ông cũng như nhiều người khác trong thế hệ trẻ 65 ‘mở mắt’. Khi Tổng thống Johnson tuyên bố tiếo tục mở rộng chiến tranh Việt Nam cho tới khi nào chiến thắng, thế hệ trẻ của Mỹ sẽ hối tiếc phải trả một giá quá cao cho chính họ và cho những thanh niên Việt nam khác. (4) 

Vào năm 1966 phong trào chống chiến tranh Mỹ bắt đầu tăng trưởng mạnh mẽ cho đến lúc đủ sức áp lực Tổng Thống Johnson từ bỏ mọi hy vọng chiến thắng bằng quân sự và đồng thời phải tuyên bố là ông sẽ không ra tranh cử nhiệm kỳ thứ hai. Phong trào phản chiến ở Mỹ thực ra bắt đầu từ các nhà tôn giáo. Một nhóm tôn giáo ôn ḥa, Hội Liên Hữu Hoà B́nh Thế Giới, tổ chức đă mời Nhất Hạnh sang Mỹ diẽn thuyết, đă đăng một tuyên cáo trên tờ New York Times vào ngày 4 tháng Tư năm 1965, thu thập được 2,700 (hai ngàn bảy trăm) chữ kư của các mục sư Tin Lành, linh Mục Thiên Chúa và giáo sĩ Do Thái. Nhan đề của tuyên cáo là: “Mr President, in the Name of God, STOP IT”. Với sự ủng hộ của Martin Luther King, một phái đoàn đi t́m Sự Thật được gởi đến Miền Nam Việt Nam vào năm 1965, và trong dịp này phái đoàn đă gặp các nhà lănh đạo của Giáo Hội Phật Giáo Viêệ t Nam Thống Nhất (lúc đó c̣n ‘thống nhất’, chưa chia rẽ thành khối Ấn Quang-Việt Nam Quốc Tự) và đặc biệt là rất cảm phục một vị tăng trẻ, nguyên sinh viên hậu đại học tại Columbia University. Một năm sau, họ dàn xếp để mời vị sư này qua Mỹ vận động ḥa b́nh (nhưng dưới danh nghĩa qua tŕnh bày một khóa học về Phật Giáo ở Columbia) Tại New York, một nhóm giáo sĩ nổi tiếng vận động thành lập một nhóm ‘Giáo sĩ Quan Tâm về Việt Nam’ (A Clergy Concerned About Vietnam) và vận động chánh phủ Johnson ngưng thả bom. Tuy nhiên Johnson bực ḿnh nhất về một nhóm dân biểu và nghị sĩ, trước đây ủng hộ Quyết Nghị Vịnh Bắc Việt (Tonkin Gulf Resolution). Thượng nghị sĩ Fulbright là người tích cực nhất trong việc vận động các bạn đồng viện ủng hộ quyết nghị này. Nhưng vào năm 1965 Fulbright lo ngại là nổ lực mở rộng chiến tranh của chánh phủ Johnson mà không thông qua Quốc Hội là bất hợp hiến. Với tư cách Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Ngoại Giao Thượng Viện, ông tổ chức một họp điều trần về chiến tranh Việt Nam được chiếu trên các đài truyền h́nh. Fulbright tuyên bố cuộc điều trần đáp ứng ḷng mong muốn của phần lớn dân Mỹ muốn biết tại sao Mỹ lại can thiệp đến một cuộc chiến tranh cách xa nước Mỹ hàng ngàn dặm. Vào cuối cuộc điều trần, văn pḥng của Fulbright nhận được hơn 10 ngàn (mười ngàn) phản ứng từ các người Mỹ quan tâm đến cuộc chiến Việt Nam. Tỷ lệ ủng hộ cuộc điều trần của Fulbright là 17/1. Vào cuối năm 1965, Hội Luật Gia Quan Tâm đến Chánh Sách Mỹ ở Việt Nam ra tuyên cáo báo chí, thách đố tánh cách pháp lư của việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam. Do đó Chánh phủ Johnson bị thách thức về cả hai phương diện: đạo đức và pháp lư. (5) 

Những hoạt động của phong trào chống đối chánh quyền trung ương của Phật Tử Miền Trung (C̣n được gọi là Phong Trào Tranh Đấu Miền Trung) tại Huế và Đà Nẵng được đăng tải chi tiết trên tờ the New York Times và được phổ biến rộng răi. Biến cố này khiến ngay cả thành phần ‘diều hâu’ ủng hộ chánh sách chiến tranh của Mỹ cũng tự hỏi là tại sao Mỹ lại cố gắng giúp Việt Nam trong khi dân chúng tỏ ra không cần sự can thiệp này. Vào tháng Tư, Kỳ chuẩn bị cuối cùng cho việc ‘tái chiếm’ Đà Nẵng và Huế, phong trào phản chiến Mỹ đă tổ chức biểu t́nh ủng hộ cuộc tranh đấu Mỹ ở Việt Nam và hơn 5,000 (năm ngàn) người biểu t́nh tràn ngập Times Square ở New York. (6) 

Trong số người biểu t́nh phản chiến, có một số ít thiên tả ra mặt ủng hộ Mặt Trận Giải Phóng, phần lớn chỉ là những người tranh đấu ḥa b́nh, muốn chiến tranh Việt Nam chấm dứt, chủ trương bất bạo động, ủng hộ mạnh mẽ chủ trương của Phật tử muốn tạo một lực lượng thứ Ba, lực lượng ḥa giải giữa chánh quyền miền Nam và Mặt Trận Giải Phóng. Một h́nh thức phản kháng, mô phỏng theo hành động của các tăng ni và Phật tử Việt Nam là tự thiêu. Một sinh viên 20 tuổi ở Boston University là Arthur Zinner dọa là anh sẽ tự thiêu trước toà Bạch Cung. Mặc một cái áo đi mưa, mang giày đánh quần vợt, anh đi lẫn lộn với du khách trước cổng Bạch Cung. Khi anh nâng hai b́nh xăng nhỏ bằng plastic ra và chế xăng vào người, và bật 2 quẹt lửa, cảnh sát ch́m áp lại đè anh xuống xuống và dẫn anh đi mất. Trong một trường hợp khác, 6 người trong nhóm vận động hoà b́nh đến Việt Nam, thách thức lời đe dọa của Kỳ là sẽ xử bắn những ai dám kêu gọi ḥa b́nh, nhóm vận động ḥa b́nh này đă đến gặp các nhà lănh đạo giáo hội Phật giáo trong chuyến ‘viếng thăm’ một tuần lễ này. Dĩ nhiên là Kỳ không bao giờ dám động tới các công dân Mỹ này, áp giải họ ra phi trường và tống xuất về Mỹ sau khi họ đă biểu t́nh trước sứ quán Mỹ. (7)  

Số người tham dự biều t́nh, gồm cả giáo sư và sinh viên tăng lên hàng ngày. Có hơn 350 (ba trăm năm chục) sinh viên băi khóa (Teach-in) ‘ngồi vạ’ (Sit-in) 3 ngày tại Đại Học Chicago. Các người chống chiến tranh bắt đầu đốt thẻ quân dịch và cổ động sinh viên không tuân lệnh chánh phủ. Các cuộc băi khóa và ngồi vạ tiếp tục trong các buổi tranh luận về chiến tranh. Cuộc băi khóa ngồi vạ được tổ chức lần đầu tiên ở đại học Michigan vào các đêm 24-25 tháng Ba năm 1965. Có hơn 3,000 sinh viên và giáo chức tại đại học này tham dự các bài giảng, thảo luận và tranh luận về chiến tranh Việt Nam. Sáng ngày hôm sau đó 600 (sáu trăm) sinh viên c̣n ở lại biểu t́nh chống leo thang chiến tranh và đ̣i hỏi chánh phủ Mỹ thương thuyết chấm dứt chiến tranh.  

Các vụ sinh viên ngồi vạ lan sang các đại học khác: 35 vụ ngồi vạ xảy ra vào tuần lễ sau đó và 120 vụ vào cuối niên khóa. Vụ biểu t́nh lớn nhất của sinh viên trong phong trào chống ciến tranh Việt Nam được tổ chức ở đại học Berkeley: có 20,000 (hai chục ngàn) sinh viên tham dự cuộc biểu t́nh kéo dài 36 tiếng đồng hồ vào ngày 21 và 22 tháng Năm. Đại học Berkeley vẫn c̣n hănh diện về thành tích phản chiến này! 

Nhân cách quyến rũ và mối quyết tâm của Nhất Hạnh là yếu tố mạnh mẽ khiến các tu sĩ thuộc các giáo phái chính ủng hộ lập trường của Phật giáo. Lănh tụ dân quyền Mỹ, Mục sư Martin Luther King, khen ngợi Nhất Hạnh và đề cử Nhất Hạnh làm ứng viên giải Nobel Hoà B́nh. Dần dần King ra mặt ủng hộ lời kêu gọi ngưng chiến của Phật tử và một giải pháp thương thuyết.  

Đây là một thành công lớn cho đề nghị giải pháp hoà b́nh của Phật giáo v́ trên thực tế, chánh phủ Johnson đă đóng góp rất nhiều cho phong trào dân quyền của dân da đen Mỹ hơn bất cứ một chánh phủ nào trước đó kể từ năm 1865. Các phụ tá của King sợ là nếu ông chỉ trích chánh sách chiến tranh của Johnson, họ có thể mất sự hỗ trợ tốt đẹp của chánh phủ. Không có ai thấy mối khó xử giữa lập trường ủng hộ phong trào dân quyền phối hợp với lập trường chống chiến tranh Việt Nam cùng một lúc như King: 

Lúc đầu King giữ mối nghi ngờ về việc can thiệp của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam cho riêng ḿnh. Tuy nhiên vào cuối năm 1966, sau khi đă gặp Nhất Hạnh, King nghĩ răng giữ im lặng cũng không thực hiện được ǵ thêm trong sự tiến triển của phong trào dân quyền, trong khi quyền phát biểu về những vấn đề đạo đức chánh trị của ông bị giới hạn. Do đó ông trở thành một người chống đối chiến tranh Việt Nam quan trọng. King tham gia với hàng trăm các nhà lănh đạo tôn giáo khác trong việc lên án vai tṛ của Mỹ ở Việt Nam. (8)      

Cuối cùng vào năm 1967 King kêu gọi sự hợp tác giữa phong trào dân quyền và phong trào chống đối chiến tranh Việt Nam và sau đó Ông được bầu làm đồng-chủ tịch của một nhóm giáo sĩ ôn ḥa “Giáo Sĩ và Tín Đồ Quan Tâm đến Việt nam’, kết án chánh phủ Johnson như là ‘một tổ chức ‘bao thầu’ bạo động lớn nhất trên thế giới hiện nay’ và tuyên bố ‘là sự điên dại này cần phải chấm dứt. Đề nghị chấn dứt chiến tranh của Mục Sư King giống như đúc đề nghị của Nhất Hạnh đang cố gắng thuyết phục những cố vấn cao cấp của chánh phủ Johnson một năm trước đó (1966) nhưng không đưa đến kết quả nào. King nói “Chiến tranh là sáng kiến của chính chúng ta, do đó chính chúng ta phải có sáng kiến để chấm dứt chiến tranh”. Tiếc thay, sau khi lên tiếng chống chiến tranh Việt Nam không lâu, Luther King bị ám sát. Suy nghĩ một cách b́nh thường, King bị ám sát không phải v́ phong trào dân quyền, mà v́ thái độ chống sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. 

Trí thức tiến bộ Mỹ, thành phần chính yếu đă ủng hộ đảng Dân Chủ từ năm 1930, tham gia phong trào chống chiến tranh càng ngáy càng nhiều. Nhiều giáo sư đại học lỗi lạc lên tiếng tại các buổi ngồi vạ của sinh viên. Họ thách thức các cố vấn của Johnson đến khuôn viên đại học tranh luận về chiến tranh. Phần lớn các cố vấn tránh né không dám tới đối mặt với những người chỉ trích chánh sách chiến tranh của Mỹ và t́m cách chế diễu những nhóm Beatniks là thành phần cực đoan ‘rat-bags’. Vào các năm 1965 và 1966, mặc dù phần lớn dân Mỹ chưa muốn Johnson rút quân toàn bộ ngay tức khắc, nhưng họ bắt đầu nghi ngờ về phương diện luân lư và pháp lư của việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam. Sự thức tỉnh này đă dần dần làm thay đổi quan điểm của dân chúng về chiến tranh Việt Nam. 

Một biến cố thương tâm làm xúc động dân Mỹ và cả những người Việt Nam yêu chuộng ḥa b́nh. Vào ngày 2 tháng 11 năm 1965, một giáo sĩ phái Quaker Tin Lành theo gương các tăng ni và Phật tử trong phong trào chống Diệm và chống chiến tranh, đă tự thiêu trước Ngũ Giác Đài. Một một tay ẳm đứa con gái, tay kia dốc b́nh xăng rưới lên đầu, sau đó t́m cách bật một diêm quẹt, tự thiêu. (chi tiết của vụ Morrison tự thiêu, xin xem trang 268-269 VEB). Nhất chi Mai đă viết: “Sao người Mỹ tự thiêu” trong mấy bài thơ tuyệt mệnh, chính là nhắc đến Morrison (xem chi tiết trang 268-75 VEB) Chỉ một tuần sau đó, một công nhân Thiên Chúa, Roger Laporte, cũng dùng xăng tự thiêu trước trụ sở Liên Hiệp Quốc tại New York. Lời trăn trối của Laporte cũng không khác ǵ lời trăn trối của Nhất Chi Mai: “Tôi là một công nhân theo đạo Thiên Chúa. Tôi chống tất cả mọi chiến tranh. Hành động của tôi là một hành động tôn giáo”.  

Phong trào phản chiến (đáng lẽ nên gọi là phong trào Hoà B́nh) càng ngày càng tăng sức mạnh. Vào năm 1968 một cuộc biểu t́nh vĩ đại nhất được tổ chức ở New York, đ̣i hỏi chánh phủ Mỹ thương thuyết để t́m một giải pháp chánh trị chấm dứt chiến tranh, thu hẹp vai tṛ của Mỹ ở Việt Nam, kể cả chuyện rút quân. Những người tham dự phong trào phản chiến không c̣n là sinh viên trẻ hay thành phần mà chánh phủ Johnson mắng mỏ là rat-bags, mà là những người thuộc cả hai đảng và họ làm mọi cách để chấm dứt chiến tranh. 

Có một nhóm gồm 4 phụ nữ tự gọi là ‘napalm ladies’’ đă cản đường các xe tải chỏ bom napalm. Một số phụ nữ khác t́m cách mang các trẻ em nạn nhân qua Mỹ để chữa trị tại các bệnh viện, v́ họ nghĩ nước Mỹ có trách nhiệm đạo đức để đền bù cho các nạn nhân. Các quân nhân Mỹ bắt đầu chống quân dịch và đào ngũ. Ba binh nh́ Mỹ nộp đơn chống lệnh nhập ngũ và thưa chánh phủ trên căn bản là việc can thiệp của Mỹ tại Việt Nam là bất hợp pháp. Con cái có cha mẹ giàu có thuộc đảng Cộng Hoà cũng không chịu tin là lính Mỹ được gởi qua Việt Nam là để bảo vệ tự do cho miền Nam Việt Nam. Các người hoạt động chống chiến tranh theo dơi các cố vấn cao cấp của chánh phủ. Chính MacNamara bị sinh viên bao vây kiểu gián điệp James Bond khi ông đến đọc diễn văn cho sinh viên tại đại học Harvard. Sinh viên la ó: “Đồ Sát nhân giết trẻ con”. Nhà của McNamara bị bí mật vẽ đồ họa, có lẽ là với ư định ám sát ông. Sau khi MaNamara rời khỏi chánh phủ làm chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới, có một người t́m cách ép ông thành cản của một chuyến phà, hành hung và định xô ông xuống sông. 

McNamara không phải là một thành viên duy nhất trong chánh phủ Johnson bị các người chống chiến tranh quấy rối. Ngoại trưởng Dean Rusk, cố vấn an ninh Rostow và Tổng thống Johnson luôn là đối tượng quấy rối của thành phần phản chiến. Các nhân viên toà Bạc Ốc ngạc nhiên là các thành phần phản chiến có thể huy động một số đông người trong một thời gian dài như thế Một câu các người phản chiến hay la lối trước mặt Johnson là: “Hey! Hey! LBJ! How many children did you kill today?!” Khi Johnson đến thăm Sydney vào ngày 22 tháng 10, 1965, các người biểu t́nh ném sơn đỏ vào xe ông ta, nằm cản đường đoàn xe tùy tùng ở đường Liverpool, Sydney. Thủ hiến NSW, Sir Robert Askin lúc bấy giờ giận dữ nói: “Cán chết mấy thằng mất dạy”. Nhưng vào năm 1970, tại Úc lực lượng mấy ‘thằng mất dạy’ lớn nhanh như phù đỗng. Ủy Ban Đ̣i Hỏi Ngưng Chiến tổ chức một cuộc biểu t́nh vĩ đại nhất lịch sử Úc tại Melbourne vá tất cả các thành phố lớn khác ở Úc. Có hơn 100,000 (một trăm ngàn) người biểu t́nh qua các đường phố Melbourne. Theo một ước tính số người tham dự biểu t́nh chống chiến tranh trên toàn nước Úc lên tới con số 200,000 (hai trăm ngàn) 

Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng: phần lớn con cái của các cố vấn cao cấp trong chánh phủ Johnson đă tỏ thái độ chống đối việc liên hệ của cha ḿnh vào chiến tranh Việt Nam. Khi McNamara mang về một lá cờ của Mặt Trận GPMN làm kỹ niệm, con trai cua McNamara đem treo trên tường trong pḥng ngủ. Bên tường đối diện, anh treo ngược lá cờ Mỹ. Anh sống trong một trang trại, ít khi liên lạc với cha và nhiều năm sau, hai cha con vẫn chưa ḥa giải được với nhau. Con trai của Ngoại trưởng Dean Rusk bị rối loạn tâm thần v́ theo một lời giải thích ‘anh ta bị dằng co giữa ḷng yêu thương cha và viễn ảnh hăi hùng của chiến tranh Việt nam’. Con cái của các viên chức cao cấp khác như Paul Nitze, Bill Bundy và William Bundy đều hăng hái hoạt động trong hàng ngũ sinh viên trong phong trào chống chiến tranh. Con gái Westmoreland có lần tham gia cuộc biểu t́nh trong đó sinh viên đốt h́nh nộm của cha ḿnh. (9) 

Đối với đa số những trí thức suy nghĩ tự do cũng như các người biểu t́nh b́nh thường, cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam là không thể biện hộ được về mặt luân lư. Vào cuối năm 1966 một mẫu thăm ḍ dân số ở thanh phố Detroit được hỏi: “Ông /Bà có ủng hộ một cuộc ngưng chiến rút quân Mỹ tức khắc khỏi Việt Nam và để nhân dân Việt Nam toàn quyền quyết định số phận của ḿnh không?” Có 41% người thăm ḍ trả lời “YES”. T́nh cảm chống chiến tran lớn mạnh nhưng chánh quyền Johnson giả đ̣ điếc. Nhưng vào cuối năm 1968, Toà Bạch Ốc không thể nào làm ngơ những người biểu t́nh chống chiến tranh. Cả hai con diều hâu, McNamara và Bill Bundy, trong nội các Johnson đă ra khỏi chánh quyền. Tổng Thống Johnson cuối cùng tuyên bố là ḿnh sẽ không ra ứng cử một nhiệm kỳ nữa. Johnson bắt đầu suy nghiệm về những sai lầm trong chánh sách can thiệp ở Việt Nam. 

Về tài chánh, chi phí cho chiến tranh Việt Nam được ước tính là 200 tỷ Mỹ kim. Có 58 ngàn lính Mỹ tử trận. Phía Việt Nam dĩ nhiên con số này cao hơn nhiều. Con số chính thức do phe Cộng Sản công bố là 1,100,000 (một triệu mốt) liệt sĩ hy sinh trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1975. Về phía VNCH con số ước tính là từ 185,000 (một trăm tám mươi lăm ngàn) đến 225,000 (hai trăm hai mươi lăm ngàn) binh sĩ bị thiệt mạng. Ngoài ra có chừng 2,000,000 (hai triệu) thường dân bị chết oan. Chất độc da cam tàn phá 36% rừng rậm ở Việt nam. Tổng số bom bỏ xuống cả hai miền Nam Bắc là 1,600,000 tấn (Một triệu sáu trăm ngàn tấn). Tính trung b́nh là có 12 tấn bom đổ xuống một dặm vuông (square mile) trên cả hai miền Nam Bắc. Có nghĩa là mọi người dân, đàn ông, đàn bà và trẻ con, nhận được 100 pounds chất nổ cho mỗi đầu người. Tất cả các nổ lực này chỉ để hỗ trợ cho một chánh phủ tham những và không đại diện (nghĩ lại chuyện độc diễn và tỷ số đắc cử của Thiệu!). Đây không phải tài liệu bịa đặt của các thành phần trí thức ‘thiên tả’ hay Rat-Bags, mà là những tài liệu đă liệt kê chính thức trong Bách Khoa Từ Điển về chiến tranh Việt Nam.  

By the way, Rest in Peace, Robert! Đồ tể buông dao thành Phật. Cuối đời McNamara sống cô đơn  và dành nhiều th́ giờ để hoạt động giúp phát triển kinh tế cho các nước nghèo qua World. Tuy nhiên trong In Retrospect, cũng chưa thấy McNamara xin lỗi nhân dân hai miền Nam Bắc Việt Nam .  

 

Trích trong The Vietnamese Engaged Buddhism: The Buddhist Movement of 1963-1966    

(Tr 411-419) . Do tác giả tự chuyển ngữ khi nghe tin người kiến trúc của chiến tranh Việt Nam, Robert MaNamara, qua đời ngày 7 tháng 7 năm 2009, thọ 93 tuổi.    

(1) Prados, John. The Hidden History of the Vietnam War. Elephant Paperbacks, Ivan R. Dee, Chicago, 1995. P97.

(2) Sheehan, Neil, et al. Reporting Vietnam. The Library of America, New York, 1998, P 298

(3) Ibid, P 298

(4) Xem Kaiser, David. American Tragedy. Kennedy, Johnson and the Origins of the Vietnam War. Harvard University Press, Cambridge Massachusetts, 2000. p 494-495

(5) Schulinger, Robert. A Time for War. Oxford University Press, 1997. p 222.

(6)Wells, Tom. The War Within. Henry Holt & Co, New York, 1994p 71

(7) Hassler, Alfred. Saigon U.S.A. Richard Balony, New York, 1970. p 222

(8) Schulzinger, Ibid, p 227

(9) Wells, Ibid, p 72    

   

  © Chuyển Luân 2008

 

CHUYỂN LUÂN ONLINE