|
Ảnh hưởng của Phong trào Phật
Giáo Tranh đấu Miền Trung
Quán Như Phạm Văn Minh
Cũng cần đánh giá đúng mức
ảnh hưởng chính trị của Phong Trào Tranh Đấu Miền Trung tại
nước ngoài. Trong lịch sử chiến tranh Việt nam, có HAI
lần tổng thống Johnson nuôi ư định rút quân Mỹ về nước. Lần
thứ nhất, khi Tướng Khánh ‘hợp tác’ với Phật tử và lật đổ
chánh phủ Trần Văn Hương, và lần thứ hai, khi Phong Trào
Tranh Đấu Miền Trung huy động được toàn thể dân chúng tại ít
nhất ở 7 tỉnh miền Trung chống chánh phủ “chiến tranh’ của
Kỳ. Chỉ một vài ngày trước khi phong trào bị dẹp tan,
Phụ tá Bộ Trưởng Quốc Pḥng, John McNaughton, đề nghị chánh
phủ Johnson khuyến cáo Mỹ nên thương thuyết với đối phương
để chấm dứt chiến tranh. Khi Kỳ dẹp tan các ‘ổ’ tranh đấu
cuối cùng, Tổng thống Johnson và các cố vấn mới thở phào nhẹ
nhơm (nguyên văn heaved a collective relief!) và dĩ nhiên,
dẹp qua đề nghị giải pháp thương thuyết và theo lời của Phụ
tá Bộ Trưởng Quốc Pḥng, Bill Bundy, ghi nhận là tất cả nội
các thấy thoải mái (1)
Ảnh hưởng chánh trị của cuộc
tranh đấu Phật Giáo đối với cái nh́n của nhân dân Mỹ về
chiến tranh Việt Nam phức tạp hơn. Lúc chiến tranh mới bắt
đầu, phần lớn dân Mỹ tin là các thanh niên Mỹ đến Việt nam
đầy ḷng nhiệt huyết và với ư định cao cả. Dân Mỹ do đó phẩn
nộ khi chứng kiến Phật từ xuống đường tuần hành, la to khầu
hiệu ‘Yankee cút về nước’, đốt thư viện Mỹ và toàn lănh sự
Mỹ (các lănh tụ tranh đấu phủ nhận các hành vi bạo động này
và nghi ngờ các biến cố bạo động này do các agents de
provocateur thuộc đảng Đại Việt quấy động) . Ngay cả những
người am hiểu t́nh h́nh Việt Nam như Neil Sheehan trong nhóm
phóng viên Young Turks, tác giả cuốn The Best and The
Brightest, viết về suy nghĩ của ông ta về cuộc xung đột tại
Việt Nam:
Lần đầu tiên khi tôi đến sân
bay Tân Sơn Nhất ờ Sàigon, tôi tin tưởng những ǵ mà quê
hương tôi đang làm tại Việt Nam. Nước Mỹ đang cố gắng giúp
một quốc gia ‘không’ Cộng sản bảo vệ độc lập quốc gia chống
lại các du kích quân Cộng Sản đang t́m cách áp đặt chế độ
độc tài. Đối với tôi, đây là một mục tiêu chánh đáng và cần
làm, nếu muốn dân chúng ở Á Châu được chọn lựa tự do và có
quyền tự quyết dân tộc. Mặc dù tôi thường không đồng ư với
một vài chánh sách Mỹ áp dụng ở Việt Nam, nhưng trong 2 năm
của kỳ công tác đầu, tôi đồng ư với mục đích chính của chánh
sách can thiệp vào Việt Nam.(2)
Mặc dù có quan điểm như thế,
ông trở nên thất vọng với vai tṛ của Mỹ trong chiến tranh
khi ông được phái đến săn tin tại Việt Nam lần thứ hai. Khi
ông rời nhiệm sở lần thứ nhất, ở Việt Nam chỉ có 17 ngàn cố
vấn quân sự Mỹ. Ông tin là một ngày nào đó, Mỹ sẽ chiến
thắng và Việt nam sẽ trở nên một nước ‘tự do’ không cộng sản.
Nhưng vào năm 1966, khi trở lại Việt nam, tổng số quân Mỹ ở
Việt nam lên tới 317 ngàn (ba trăm mười bảy ngàn). và viễn
ảnh thua trận thấp thoáng ở ‘góc phố’. Sheenhan bắt đầu nghĩ
là ḿnh ngây thơ khi nghĩ rằng một quốc gia Việt Nam ‘không
Cộng sản’ có thể chiến thắng Cộng sản và xây dựng một xă hội
công bằng và tiến bộ.
Cuối cùng ông nhận ra là
nông dân Việt nam, những nạn nhân trực tiếp của chiến tranh,
đă quá chán ghét cuộc chiến và sẵn sáng chấp nhận bất cứ
giải pháp nào để chấm dứt chiến tranh để đem lại hoà b́nh.
Quan trọng nhất là những người Mỹ yêu quốc gia họ, như
Sheehan, nhận thấy rằng, trong thế chiến Thứ Hai va chiến
tranh Triều Tiên, hành động can thiệp của Mỹ có thể biện
chính được. Chiến tranh Việt Nam th́ không như thế. Sheehan
kết luận giống hệt như kết luận của Nhất Hạnh trong sứ điệp
mà Nhất Hạnh mang tới Hoa Thịnh Đốn vào tháng Sáu năm 1966:
Dân Việt Nam đă trở thành
con chốt trong bàn cờ chiến tranh Việt nam. Tất cả những
mong muốn của họ đă trở thành vô vọng. Nước Mỹ không thể măi
giả vờ là họ đang chiến đấu để bảo vệ nền độc lập của
miền Nam Việt Nam. Sự hiện diện của 317 ngàn quân Mỹ đă trở
thành một tṛ cười cho ư tưởng về sự độc lập và toàn vẹn
lănh thổ của Việt Nam và chế độ quân phiệt ở Sài g̣n
không tồn tại nổi một tuần lễ nếu không có súng và lưỡi lê
do Mỹ cung cấp. (3)
Mặc dù rất thất vọng,
Sheehan chưa đến mức để trở thành ‘bồ câu’, bởi v́ ông không
thấy Mỵ có cách nào khác hơn là tiếp tục chiến tranh. Tuy
nhiên một số dân chúng Mỹ lo ngại là càng ngày càng có thêm
nhiều lính Mỹ thiệt mạng. Cũng như một công dân Mỹ yêu nước
khác lúc bấy giờ, Giáo sư David Kaiser, lúc đó mới 18 tuổi,
hănh diện là công dân của một nước vĩ đại lănh đạo thế giới
và đóng vai tṛ nặng nề là ‘bảo vệ thế giới tự do’. Hiện nay
Kaiser trở thành một giáo sư lịch sử nổi tiếng, chiến tranh
Việt Nam đă làm ông thay đổi nhăn quan về nước Mỹ và thế
giới. Nước Mỹ, cũng như bất cứ một quốc gia nào khác, có thể
mắc lỗi lầm lớn lao cũng như có thể thực hiện những chiến
thắng vĩ đại. Kaiser thú nhận là chiến tranh Việt Nam đă là
ông cũng như nhiều người khác trong thế hệ trẻ 65 ‘mở mắt’.
Khi Tổng thống Johnson tuyên bố tiếo tục mở rộng chiến tranh
Việt Nam cho tới khi nào chiến thắng, thế hệ trẻ của Mỹ sẽ
hối tiếc phải trả một giá quá cao cho chính họ và cho những
thanh niên Việt nam khác. (4)
Vào năm 1966 phong trào
chống chiến tranh Mỹ bắt đầu tăng trưởng mạnh mẽ cho đến lúc
đủ sức áp lực Tổng Thống Johnson từ bỏ mọi hy vọng chiến
thắng bằng quân sự và đồng thời phải tuyên bố là ông sẽ
không ra tranh cử nhiệm kỳ thứ hai. Phong trào phản chiến ở
Mỹ thực ra bắt đầu từ các nhà tôn giáo. Một nhóm tôn giáo ôn
ḥa, Hội Liên Hữu Hoà B́nh Thế Giới, tổ chức đă mời Nhất
Hạnh sang Mỹ diẽn thuyết, đă đăng một tuyên cáo trên tờ New
York Times vào ngày 4 tháng Tư năm 1965, thu thập được 2,700
(hai ngàn bảy trăm) chữ kư của các mục sư Tin Lành, linh Mục
Thiên Chúa và giáo sĩ Do Thái. Nhan đề của tuyên cáo là:
“Mr President, in the Name of God, STOP IT”. Với sự ủng
hộ của Martin Luther King, một phái đoàn đi t́m Sự Thật được
gởi đến Miền Nam Việt Nam vào năm 1965, và trong dịp này
phái đoàn đă gặp các nhà lănh đạo của Giáo Hội Phật Giáo
Viêệ t Nam Thống Nhất (lúc đó c̣n ‘thống nhất’, chưa chia rẽ
thành khối Ấn Quang-Việt Nam Quốc Tự) và đặc biệt là rất cảm
phục một vị tăng trẻ, nguyên sinh viên hậu đại học tại
Columbia University. Một năm sau, họ dàn xếp để mời vị sư
này qua Mỹ vận động ḥa b́nh (nhưng dưới danh nghĩa qua
tŕnh bày một khóa học về Phật Giáo ở Columbia) Tại New
York, một nhóm giáo sĩ nổi tiếng vận động thành lập một nhóm
‘Giáo sĩ Quan Tâm về Việt Nam’ (A Clergy Concerned About
Vietnam) và vận động chánh phủ Johnson ngưng thả bom. Tuy
nhiên Johnson bực ḿnh nhất về một nhóm dân biểu và nghị sĩ,
trước đây ủng hộ Quyết Nghị Vịnh Bắc Việt (Tonkin Gulf
Resolution). Thượng nghị sĩ Fulbright là người tích cực nhất
trong việc vận động các bạn đồng viện ủng hộ quyết nghị này.
Nhưng vào năm 1965 Fulbright lo ngại là nổ lực mở rộng chiến
tranh của chánh phủ Johnson mà không thông qua Quốc Hội là
bất hợp hiến. Với tư cách Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Ngoại
Giao Thượng Viện, ông tổ chức một họp điều trần về chiến
tranh Việt Nam được chiếu trên các đài truyền h́nh.
Fulbright tuyên bố cuộc điều trần đáp ứng ḷng mong muốn của
phần lớn dân Mỹ muốn biết tại sao Mỹ lại can thiệp đến một
cuộc chiến tranh cách xa nước Mỹ hàng ngàn dặm. Vào cuối
cuộc điều trần, văn pḥng của Fulbright nhận được hơn 10
ngàn (mười ngàn) phản ứng từ các người Mỹ quan tâm đến cuộc
chiến Việt Nam. Tỷ lệ ủng hộ cuộc điều trần của Fulbright là
17/1. Vào cuối năm 1965, Hội Luật Gia Quan Tâm đến Chánh
Sách Mỹ ở Việt Nam ra tuyên cáo báo chí, thách đố tánh cách
pháp lư của việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam. Do đó Chánh phủ
Johnson bị thách thức về cả hai phương diện: đạo đức và pháp
lư. (5)
Những hoạt động của phong
trào chống đối chánh quyền trung ương của Phật Tử Miền Trung
(C̣n được gọi là Phong Trào Tranh Đấu Miền Trung) tại Huế và
Đà Nẵng được đăng tải chi tiết trên tờ the New York Times và
được phổ biến rộng răi. Biến cố này khiến ngay cả thành phần
‘diều hâu’ ủng hộ chánh sách chiến tranh của Mỹ cũng tự hỏi
là tại sao Mỹ lại cố gắng giúp Việt Nam trong khi dân chúng
tỏ ra không cần sự can thiệp này. Vào tháng Tư, Kỳ chuẩn bị
cuối cùng cho việc ‘tái chiếm’ Đà Nẵng và Huế, phong trào
phản chiến Mỹ đă tổ chức biểu t́nh ủng hộ cuộc tranh đấu Mỹ
ở Việt Nam và hơn 5,000 (năm ngàn) người biểu t́nh tràn ngập
Times Square ở New York. (6)
Trong số người biểu t́nh
phản chiến, có một số ít thiên tả ra mặt ủng hộ Mặt Trận
Giải Phóng, phần lớn chỉ là những người tranh đấu ḥa b́nh,
muốn chiến tranh Việt Nam chấm dứt, chủ trương bất bạo động,
ủng hộ mạnh mẽ chủ trương của Phật tử muốn tạo một lực lượng
thứ Ba, lực lượng ḥa giải giữa chánh quyền miền Nam và Mặt
Trận Giải Phóng. Một h́nh thức phản kháng, mô phỏng theo
hành động của các tăng ni và Phật tử Việt Nam là tự thiêu.
Một sinh viên 20 tuổi ở Boston University là Arthur Zinner
dọa là anh sẽ tự thiêu trước toà Bạch Cung. Mặc một cái áo
đi mưa, mang giày đánh quần vợt, anh đi lẫn lộn với du khách
trước cổng Bạch Cung. Khi anh nâng hai b́nh xăng nhỏ bằng
plastic ra và chế xăng vào người, và bật 2 quẹt lửa, cảnh
sát ch́m áp lại đè anh xuống xuống và dẫn anh đi mất. Trong
một trường hợp khác, 6 người trong nhóm vận động hoà b́nh
đến Việt Nam, thách thức lời đe dọa của Kỳ là sẽ xử bắn
những ai dám kêu gọi ḥa b́nh, nhóm vận động ḥa b́nh này đă
đến gặp các nhà lănh đạo giáo hội Phật giáo trong chuyến
‘viếng thăm’ một tuần lễ này. Dĩ nhiên là Kỳ không bao giờ
dám động tới các công dân Mỹ này, áp giải họ ra phi trường
và tống xuất về Mỹ sau khi họ đă biểu t́nh trước sứ quán Mỹ.
(7)
Số người tham dự biều t́nh,
gồm cả giáo sư và sinh viên tăng lên hàng ngày. Có hơn 350 (ba
trăm năm chục) sinh viên băi khóa (Teach-in) ‘ngồi vạ’
(Sit-in) 3 ngày tại Đại Học Chicago. Các người chống chiến
tranh bắt đầu đốt thẻ quân dịch và cổ động sinh viên không
tuân lệnh chánh phủ. Các cuộc băi khóa và ngồi vạ tiếp tục
trong các buổi tranh luận về chiến tranh. Cuộc băi khóa ngồi
vạ được tổ chức lần đầu tiên ở đại học Michigan vào các đêm
24-25 tháng Ba năm 1965. Có hơn 3,000 sinh viên và giáo chức
tại đại học này tham dự các bài giảng, thảo luận và tranh
luận về chiến tranh Việt Nam. Sáng ngày hôm sau đó 600 (sáu
trăm) sinh viên c̣n ở lại biểu t́nh chống leo thang chiến
tranh và đ̣i hỏi chánh phủ Mỹ thương thuyết chấm dứt chiến
tranh.
Các vụ sinh viên ngồi vạ lan
sang các đại học khác: 35 vụ ngồi vạ xảy ra vào tuần lễ sau
đó và 120 vụ vào cuối niên khóa. Vụ biểu t́nh lớn nhất của
sinh viên trong phong trào chống ciến tranh Việt Nam được tổ
chức ở đại học Berkeley: có 20,000 (hai chục ngàn) sinh viên
tham dự cuộc biểu t́nh kéo dài 36 tiếng đồng hồ vào ngày 21
và 22 tháng Năm. Đại học Berkeley vẫn c̣n hănh diện về thành
tích phản chiến này!
Nhân cách quyến rũ và mối
quyết tâm của Nhất Hạnh là yếu tố mạnh mẽ khiến các tu sĩ
thuộc các giáo phái chính ủng hộ lập trường của Phật giáo.
Lănh tụ dân quyền Mỹ, Mục sư Martin Luther King, khen ngợi
Nhất Hạnh và đề cử Nhất Hạnh làm ứng viên giải Nobel Hoà
B́nh. Dần dần King ra mặt ủng hộ lời kêu gọi ngưng chiến của
Phật tử và một giải pháp thương thuyết.
Đây là một thành công lớn
cho đề nghị giải pháp hoà b́nh của Phật giáo v́ trên thực tế,
chánh phủ Johnson đă đóng góp rất nhiều cho phong trào dân
quyền của dân da đen Mỹ hơn bất cứ một chánh phủ nào trước
đó kể từ năm 1865. Các phụ tá của King sợ là nếu ông chỉ
trích chánh sách chiến tranh của Johnson, họ có thể mất sự
hỗ trợ tốt đẹp của chánh phủ. Không có ai thấy mối khó xử
giữa lập trường ủng hộ phong trào dân quyền phối hợp với lập
trường chống chiến tranh Việt Nam cùng một lúc như King:
Lúc đầu King giữ mối nghi
ngờ về việc can thiệp của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam cho
riêng ḿnh. Tuy nhiên vào cuối năm 1966, sau khi đă gặp Nhất
Hạnh, King nghĩ răng giữ im lặng cũng không thực hiện được
ǵ thêm trong sự tiến triển của phong trào dân quyền, trong
khi quyền phát biểu về những vấn đề đạo đức chánh trị của
ông bị giới hạn. Do đó ông trở thành một người chống đối
chiến tranh Việt Nam quan trọng. King tham gia với hàng trăm
các nhà lănh đạo tôn giáo khác trong việc lên án vai tṛ của
Mỹ ở Việt Nam. (8)
Cuối cùng vào năm 1967 King
kêu gọi sự hợp tác giữa phong trào dân quyền và phong trào
chống đối chiến tranh Việt Nam và sau đó Ông được bầu làm
đồng-chủ tịch của một nhóm giáo sĩ ôn ḥa “Giáo Sĩ và Tín Đồ
Quan Tâm đến Việt nam’, kết án chánh phủ Johnson như là ‘một
tổ chức ‘bao thầu’ bạo động lớn nhất trên thế giới hiện nay’
và tuyên bố ‘là sự điên dại này cần phải chấm dứt. Đề nghị
chấn dứt chiến tranh của Mục Sư King giống như đúc đề nghị
của Nhất Hạnh đang cố gắng thuyết phục những cố vấn cao cấp
của chánh phủ Johnson một năm trước đó (1966) nhưng không
đưa đến kết quả nào. King nói “Chiến tranh là sáng kiến của
chính chúng ta, do đó chính chúng ta phải có sáng kiến để
chấm dứt chiến tranh”. Tiếc thay, sau khi lên tiếng chống
chiến tranh Việt Nam không lâu, Luther King bị ám sát. Suy
nghĩ một cách b́nh thường, King bị ám sát không phải v́
phong trào dân quyền, mà v́ thái độ chống sự can thiệp của
Mỹ vào Việt Nam.
Trí thức tiến bộ Mỹ, thành
phần chính yếu đă ủng hộ đảng Dân Chủ từ năm 1930, tham gia
phong trào chống chiến tranh càng ngáy càng nhiều. Nhiều
giáo sư đại học lỗi lạc lên tiếng tại các buổi ngồi vạ của
sinh viên. Họ thách thức các cố vấn của Johnson đến khuôn
viên đại học tranh luận về chiến tranh. Phần lớn các cố vấn
tránh né không dám tới đối mặt với những người chỉ trích
chánh sách chiến tranh của Mỹ và t́m cách chế diễu những
nhóm Beatniks là thành phần cực đoan ‘rat-bags’. Vào các năm
1965 và 1966, mặc dù phần lớn dân Mỹ chưa muốn Johnson rút
quân toàn bộ ngay tức khắc, nhưng họ bắt đầu nghi ngờ về
phương diện luân lư và pháp lư của việc Mỹ can thiệp vào
Việt Nam. Sự thức tỉnh này đă dần dần làm thay đổi quan điểm
của dân chúng về chiến tranh Việt Nam.
Một biến cố thương tâm làm
xúc động dân Mỹ và cả những người Việt Nam yêu chuộng ḥa
b́nh. Vào ngày 2 tháng 11 năm 1965, một giáo sĩ phái Quaker
Tin Lành theo gương các tăng ni và Phật tử trong phong trào
chống Diệm và chống chiến tranh, đă tự thiêu trước Ngũ Giác
Đài. Một một tay ẳm đứa con gái, tay kia dốc b́nh xăng rưới
lên đầu, sau đó t́m cách bật một diêm quẹt, tự thiêu. (chi
tiết của vụ Morrison tự thiêu, xin xem trang 268-269 VEB).
Nhất chi Mai đă viết: “Sao người Mỹ tự thiêu” trong mấy bài
thơ tuyệt mệnh, chính là nhắc đến Morrison (xem chi tiết
trang 268-75 VEB) Chỉ một tuần sau đó, một công nhân Thiên
Chúa, Roger Laporte, cũng dùng xăng tự thiêu trước trụ sở
Liên Hiệp Quốc tại New York. Lời trăn trối của Laporte cũng
không khác ǵ lời trăn trối của Nhất Chi Mai: “Tôi là một
công nhân theo đạo Thiên Chúa. Tôi chống tất cả mọi chiến
tranh. Hành động của tôi là một hành động tôn giáo”.
Phong trào phản chiến (đáng
lẽ nên gọi là phong trào Hoà B́nh) càng ngày càng tăng sức
mạnh. Vào năm 1968 một cuộc biểu t́nh vĩ đại nhất được tổ
chức ở New York, đ̣i hỏi chánh phủ Mỹ thương thuyết để t́m
một giải pháp chánh trị chấm dứt chiến tranh, thu hẹp vai
tṛ của Mỹ ở Việt Nam, kể cả chuyện rút quân. Những người
tham dự phong trào phản chiến không c̣n là sinh viên trẻ hay
thành phần mà chánh phủ Johnson mắng mỏ là rat-bags, mà là
những người thuộc cả hai đảng và họ làm mọi cách để chấm dứt
chiến tranh.
Có một nhóm gồm 4 phụ nữ tự
gọi là ‘napalm ladies’’ đă cản đường các xe tải chỏ bom
napalm. Một số phụ nữ khác t́m cách mang các trẻ em nạn nhân
qua Mỹ để chữa trị tại các bệnh viện, v́ họ nghĩ nước Mỹ có
trách nhiệm đạo đức để đền bù cho các nạn nhân. Các quân
nhân Mỹ bắt đầu chống quân dịch và đào ngũ. Ba binh nh́ Mỹ
nộp đơn chống lệnh nhập ngũ và thưa chánh phủ trên căn bản
là việc can thiệp của Mỹ tại Việt Nam là bất hợp pháp.
Con cái có cha mẹ giàu có thuộc đảng Cộng Hoà cũng không
chịu tin là lính Mỹ được gởi qua Việt Nam là để bảo vệ tự do
cho miền Nam Việt Nam. Các người hoạt động chống chiến tranh
theo dơi các cố vấn cao cấp của chánh phủ. Chính MacNamara
bị sinh viên bao vây kiểu gián điệp James Bond khi ông đến
đọc diễn văn cho sinh viên tại đại học Harvard. Sinh viên la
ó: “Đồ Sát nhân giết trẻ con”. Nhà của McNamara bị bí mật vẽ
đồ họa, có lẽ là với ư định ám sát ông. Sau khi MaNamara rời
khỏi chánh phủ làm chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới, có một người
t́m cách ép ông thành cản của một chuyến phà, hành hung và
định xô ông xuống sông.
McNamara không phải là một
thành viên duy nhất trong chánh phủ Johnson bị các người
chống chiến tranh quấy rối. Ngoại trưởng Dean Rusk, cố vấn
an ninh Rostow và Tổng thống Johnson luôn là đối tượng quấy
rối của thành phần phản chiến. Các nhân viên toà Bạc Ốc ngạc
nhiên là các thành phần phản chiến có thể huy động một số
đông người trong một thời gian dài như thế Một câu các người
phản chiến hay la lối trước mặt Johnson là: “Hey! Hey! LBJ!
How many children did you kill today?!” Khi Johnson đến thăm
Sydney vào ngày 22 tháng 10, 1965, các người biểu t́nh ném
sơn đỏ vào xe ông ta, nằm cản đường đoàn xe tùy tùng ở đường
Liverpool, Sydney. Thủ hiến NSW, Sir Robert Askin lúc bấy
giờ giận dữ nói: “Cán chết mấy thằng mất dạy”. Nhưng vào năm
1970, tại Úc lực lượng mấy ‘thằng mất dạy’ lớn nhanh như phù
đỗng. Ủy Ban Đ̣i Hỏi Ngưng Chiến tổ chức một cuộc biểu t́nh
vĩ đại nhất lịch sử Úc tại Melbourne vá tất cả các thành phố
lớn khác ở Úc. Có hơn 100,000 (một trăm ngàn) người biểu
t́nh qua các đường phố Melbourne. Theo một ước tính số người
tham dự biểu t́nh chống chiến tranh trên toàn nước Úc lên
tới con số 200,000 (hai trăm ngàn)
Cuối cùng, nhưng không kém
phần quan trọng: phần lớn con cái của các cố vấn cao cấp
trong chánh phủ Johnson đă tỏ thái độ chống đối việc liên hệ
của cha ḿnh vào chiến tranh Việt Nam. Khi McNamara mang về
một lá cờ của Mặt Trận GPMN làm kỹ niệm, con trai cua
McNamara đem treo trên tường trong pḥng ngủ. Bên tường đối
diện, anh treo ngược lá cờ Mỹ. Anh sống trong một trang trại,
ít khi liên lạc với cha và nhiều năm sau, hai cha con vẫn
chưa ḥa giải được với nhau. Con trai của Ngoại trưởng Dean
Rusk bị rối loạn tâm thần v́ theo một lời giải thích ‘anh ta
bị dằng co giữa ḷng yêu thương cha và viễn ảnh hăi hùng của
chiến tranh Việt nam’. Con cái của các viên chức cao cấp
khác như Paul Nitze, Bill Bundy và William Bundy đều hăng
hái hoạt động trong hàng ngũ sinh viên trong phong trào
chống chiến tranh. Con gái Westmoreland có lần tham gia cuộc
biểu t́nh trong đó sinh viên đốt h́nh nộm của cha ḿnh. (9)
Đối với đa số những trí thức
suy nghĩ tự do cũng như các người biểu t́nh b́nh thường,
cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam là không thể biện hộ được
về mặt luân lư. Vào cuối năm 1966 một mẫu thăm ḍ dân số
ở thanh phố Detroit được hỏi: “Ông /Bà có ủng hộ một cuộc
ngưng chiến rút quân Mỹ tức khắc khỏi Việt Nam và để nhân
dân Việt Nam toàn quyền quyết định số phận của ḿnh không?”
Có 41% người thăm ḍ trả lời “YES”. T́nh cảm chống chiến
tran lớn mạnh nhưng chánh quyền Johnson giả đ̣ điếc. Nhưng
vào cuối năm 1968, Toà Bạch Ốc không thể nào làm ngơ những
người biểu t́nh chống chiến tranh. Cả hai con diều hâu,
McNamara và Bill Bundy, trong nội các Johnson đă ra khỏi
chánh quyền. Tổng Thống Johnson cuối cùng tuyên bố là ḿnh
sẽ không ra ứng cử một nhiệm kỳ nữa. Johnson bắt đầu suy
nghiệm về những sai lầm trong chánh sách can thiệp ở Việt
Nam.
Về tài chánh, chi phí cho
chiến tranh Việt Nam được ước tính là 200 tỷ Mỹ kim. Có 58
ngàn lính Mỹ tử trận. Phía Việt Nam dĩ nhiên con số này cao
hơn nhiều. Con số chính thức do phe Cộng Sản công bố là
1,100,000 (một triệu mốt) liệt sĩ hy sinh trong thời gian từ
năm 1954 đến năm 1975. Về phía VNCH con số ước tính là từ
185,000 (một trăm tám mươi lăm ngàn) đến 225,000 (hai trăm
hai mươi lăm ngàn) binh sĩ bị thiệt mạng. Ngoài ra có chừng
2,000,000 (hai triệu) thường dân bị chết oan. Chất độc da
cam tàn phá 36% rừng rậm ở Việt nam. Tổng số bom bỏ xuống cả
hai miền Nam Bắc là 1,600,000 tấn (Một triệu sáu trăm ngàn
tấn). Tính trung b́nh là có 12 tấn bom đổ xuống một dặm
vuông (square mile) trên cả hai miền Nam Bắc. Có nghĩa là
mọi người dân, đàn ông, đàn bà và trẻ con, nhận được 100
pounds chất nổ cho mỗi đầu người. Tất cả các nổ lực này chỉ
để hỗ trợ cho một chánh phủ tham những và không đại diện
(nghĩ lại chuyện độc diễn và tỷ số đắc cử của Thiệu!).
Đây không phải tài liệu bịa đặt của các thành phần trí thức
‘thiên tả’ hay Rat-Bags, mà là những tài liệu đă liệt kê
chính thức trong Bách Khoa Từ Điển về chiến tranh Việt Nam.
By the way, Rest in Peace,
Robert! Đồ tể buông dao thành Phật. Cuối đời McNamara sống
cô đơn và dành nhiều th́ giờ để hoạt động giúp phát triển
kinh tế cho các nước nghèo qua World. Tuy nhiên trong In
Retrospect, cũng chưa thấy McNamara xin lỗi nhân dân hai
miền Nam Bắc Việt Nam .
Trích trong The Vietnamese Engaged
Buddhism: The Buddhist Movement of 1963-1966
(Tr 411-419) . Do tác giả tự chuyển
ngữ khi nghe tin người kiến trúc của chiến tranh Việt Nam,
Robert MaNamara, qua đời ngày 7 tháng 7 năm 2009, thọ 93
tuổi.
(1) Prados, John. The Hidden History of
the Vietnam War. Elephant Paperbacks, Ivan R. Dee, Chicago,
1995. P97.
(2) Sheehan, Neil, et al. Reporting
Vietnam. The Library of America, New York, 1998, P 298
(3) Ibid, P 298
(4) Xem Kaiser, David. American
Tragedy. Kennedy, Johnson and the Origins of the Vietnam
War. Harvard University Press, Cambridge Massachusetts,
2000. p 494-495
(5) Schulinger, Robert. A Time for War.
Oxford University Press, 1997. p 222.
(6)Wells, Tom. The War Within. Henry
Holt & Co, New York, 1994p 71
(7) Hassler, Alfred. Saigon U.S.A.
Richard Balony, New York, 1970. p 222
(8) Schulzinger, Ibid, p 227
(9) Wells, Ibid, p 72 |