|
Những
Ngả Ba Đường
Nguyễn
Đức Giang
Tuổi thơ và thời
cuộc.
Vive l´ Empereur et vive le Maréchal
! Vive l´ Empereur et vive le Maréchal !....Học
sinh lớp Sơ Đẳng niên khoá 1943-1944 trường Sơ Học An
Nông hai tay phất hai lá cờ, một lá cờ Long Tỉnh
(nền vàng có một sọc đỏ ở giữa, chỉ dùng ở Bắc và Trung Kỳ.
Nam Kỳ thuộc đia dùng cờ Tam Tài của Pháp) và một lá
Tam
Tài,
hô theo cô giáo khi hai chiếc
xe hơi chạy qua cầu. Phía lề cầu đối diện, hương
chức của xă và một số bô lăo chắp tay vái dài
về phía hai chiếc xe. Tuy có giảm tốc độ, nhưng
chỉ một phút là xe vượt qua khỏi cầu, hướng về
Huế. Nghe nói Hoàng Đế ngự về kinh sau khi nghỉ
mát ở Bạch Mă.
Mặt trời lên đă cao, sức nắng gay
gắt lên cao dần theo mặt trời. Đám học tṛ con
trai đă cảm thấy ngứa ngáy dưới đôi chân trần,
nh́n ḍng nước trong xanh tươi mát lững lờ trôi
qua cầu một cách mời gọi mà thèm thuồng. Giá được
nhảy ùm xuống nước…! Đối với đám con trai chín
mười tuổi hiếu động được tham gia vào những chuyện
là lạ là lấy làm thích thú, chứ có biết chi đến
l´ Empereur và le Maréchal. Việc nghênh đón chỉ
diễn ra chừng một phút nhưng học sinh lớp Sơ
Đẳng, lớp lớn nhất của trường Sơ Học An Nông đă
chuẩn bị
trước mấy ngày, nào làm hai thứ cờ, nào tập hô
khẩu hiệu. Cô giáo có giải thích Empereur là ai,
Maréchal là ai, nhưng trẻ con nghe tai này ra tai
kia. Đến như Hoàng Đế Bảo Đại cũng c̣n mơ hồ với
chúng, huống
chi thống chế Pétain xa lạ của chính phủ Pháp ở
Vichy xa lắc xa lơ
thời Đức chiếm đóng.
Cũng trong cùng niên khoá, học sinh
học một bài học thuộc ḷng không nằm trong Quốc
Văn Giáo Khoa Thư Lớp Sơ Đẳng như thường lệ,
chẳng hạn : ”Xuân đi học coi người hớn hở, Gặp
cậu Thu đi ở giữa đường….”, mà :
Hởi anh em bạn ṭng chinh !
V́ sao nước Pháp hưng binh phen
này ?
Chỉ v́ người Đức cố gây
Muốn làm bá chủ Đông Tây một ḿnh.
Bấy lâu sinh sự hoành hành ,
Chiếm xong Áo Tiệp lại giành Ba
Lan.
Kể bao xiết nỗi hung tàn,
Giết người cướp của dă man vô
cùng.
Pháp Anh hai nước một ḷng.
Quyết pḥ công lư chẳng dung cường
quyền.
Đồng minh quân đội kết liền,
Với quân thuộc địa khắp miền gần
xa,
Binh hùng tướng dũng kéo ra
Dưới cờ Đại Pháp thật là rất
nghiêm…..
Hẳn tác giả của bài thơ là một
người Việt lo lắng cho nước
Pháp bị Đức xâm lăng, kêu gọi
binh sĩ nước thuộc địa góp máu xương,
công sức để bảo vệ mẫu quốc.
Học sinh lớp Sơ Đẳng bấy giờ về Sử kư, học nhà
Đinh và nhà Tiền Lê. Tuy
có học địa dư về
xứ thuộc địa Nam Kỳ và hai xứ bảo hộ Bắc, Trung
Kỳ nhưng chỉ chú trọng đến Trung Kỳ 12 tỉnh từ
Thanh Hoá đến B́nh Thuận. Và mỗi một tỉnh, huyện
lại chú trọng đến địa phương của ḿnh. Học là một
việc mà hiểu và nhận thức là một việc khác. Đám
học sinh con nít có ai biết Pháp, Anh, Áo, Tiệp,
Ba Lan… ở chỗ mô chỗ tê nào đâu, nói chi đến
những nghịch lư trong nội dung bài thơ. Nạn nhân
của chính sách thuộc địa hà khắc Pháp lại phải
đáp lời kêu gọi “quyết pḥ công lư chẳng dung
cường quyền” của Pháp để diệt trừ những kẻ “giết
người cướp của dă man vô cùng” !
Sau lớp Sơ Đẳng (cours élémentaire),
học sinh thi yếu lược. Đậu yếu lược, muốn học
tiếp phải vượt qua kỳ thi tuyển vào lớp nh́ nhất
niên (cours moyen un), học tiếng Tây nhiều hơn. Bấy
giờ có đến hai lớp nh́, nh́ nhất niên và nh́ nhị
niên (cours moyen deux). Học sinh cả huyện thi
“càng-cua” tranh nhau vào một lớp nh́ trường huyện.
Tôi theo chân những đàn anh trong xă
học lớp nh́ nhị niên và lớp nhất (cours supérieur)
cuốc bộ 8km về Truồi học lớp nh́ nhất niên, niên
khoá 1944-1945 trường An Lương Đông, thời thầy
Hiệu Trưởng Trương Quang Phương. Năm 1945
là một năm nhiều biến động chính trị đẩy đất nước
vào những khúc quanh lịch sử mà hệ luỵ của chúng
đă ảnh hưởng sâu đậm đến thời cuộc qua nhiều
giai đoạn suốt hậu bán thế kỷ thứ 20 cho đến
ngày nay.
Sáng ngày 10-3-1945, trên đường đi
học, khi đến cầu Truồi, một cảnh tượng khác thường
diễn ra. Cầu Truồi vừa dùng cho xe lửa vừa cho
xe hơi. Trên cầu xuất hiện lính Nhật trong tư thế
tác chiến. Hai đầu cầu đắp ụ có lính gác. Qua
lại trên cầu bị cấm. Chuyện ǵ đă xảy ra trong
đêm ? Những người lớn hiếu kỳ tụ tập ở đầu cầu
tỏ ra hiểu biết, to nhỏ với nhau Nhật đảo chánh
Pháp. Tôi chẳng hiểu nghĩa của từ “đảo chánh” và
tại sao Nhật lại đảo chánh Pháp, được nghỉ học là
vui rồi. Không lâu sau đó, học sinh được học một
bài ngoài chương tŕnh, không những học mà c̣n phải
chép mang
về cho phụ huynh. Đó là “ Lời tuyên bố của cụ Lại
Bộ Thượng Thư Phạm Quỳnh”:
“Sáu mươi năm trời, bể dâu hai
cuộc, Ất Dậu trước (1885)
kinh thành thất thủ,
Ất Dậu này (1945)
kinh thành khôi phuc. Lẽ tuần hoàn của lịch sử
nghĩ cũng mầu nhiệm thay. Nhờ cuộc
chiến tranh Đại Đông Á, nhờ sức
hùng cường Hoàng Quân Nhật, nước Việt Nam ta đă
bắt đầu lộ
diện giữa trời Đông sáng sủa. Vui thay, mừng thay,
vẻ vang thay ngày 27 tháng giêng năm Ất Dậu niên
hiệu Bảo Đại thứ 20 (9-3-1945- ngày, tháng và năm
trong các ngoặc đơn là ghi chú của người viết)
là ngày Việt Nam phục quốc, độc lập, tuyên
truyền.
Dám khuyên tất cả đồng bào Việt
Nam, từ Nam chí Bắc, kẻ chợ nhà quê, hết thảy đều
đồng tâm hiệp lực, cấu kết cùng nhau, bỏ hết tư
hiềm, một ḷng v́ nghĩa, xây dựng một nước Việt
Nam độc lập phú cường …”
Dưới áp lực của Đức Quốc Xă, chính
phủ Pháp Vichy đă phải chấp thuận cho quân đội
Nhật đồn trú ở Đông Dương từ lâu, viện cớ là để
triệt đường viện trợ vũ khí Hải Pḥng-Vân Nam của
Đồng Minh cho chính phủ Trùng Khánh của Tưởng Giới
Thạch kháng Nhật. Thật ra áp lực của chính phủ Pháp Vichy
chỉ có giá trị gián tiếp. Trên thực tế quân đội Nhật từ
Trung Hoa tràn xuống đă dùng vũ lực chiếm Lạng Sơn vào cuối
tháng 9 năm 1940, đồng thời đổ bộ lên băi biển Đồ Sơn một
lực lượng lớn và đang trên đường tiến đến Hải Pḥng. Pháp
phải cử hai sĩ quan vội vàng đi gặp đợn vị tiền quân của
Nhật để cho biết Hải Pḥng là một thành phố bỏ ngơ. Sau khi
đă biết chắc như vậy, lính Nhật súng mang vai, hàng ngũ
chỉnh tề tiến vào Hải Pḥng như một cuộc diễn binh. Qua
những nhượng bộ quá mức đ̣i hỏi của hai toàn quyền Pháp liên
tiếp nhau Catroux và Decoux và những biểu dương lực lượng
quân sự, Nhật biết rơ thế yếu của Pháp ở Đông Dương.
Tại sao cuộc đảo chánh Nhật diễn ra
quá muộn màng, trong khi thủ đô Pháp đă được
giải phóng từ tháng 6-1944 và Nhật càng ngày càng
lép vế trên mặt trận Thái B́nh Dương ? Có nhiều cách
lư giải : Thứ nhất, ngay từ những thắng lợi đầu tiên về cả
hai mặt ngoại giao và quân sự, Nhật biết rơ thực lực của
Pháp ở Đông Dưởng, bị cô lập với chính quốc và không trông
mong ǵ nhận được sự giúp đỡ của Đồng Minh.
Nếu muốn, Nhật có thể lật đổ Pháp ngay từ
đầu. Nhưng Nhật muốn lấy chiến trường nuôi chiến trường,
Nhật thiếu chuyên viên về mọi mặt để trực tiếp cai trị toàn
cơi Việt Nam, nên dùng Pháp làm vai tṛ trung gian..Từ tháng
7 năm 1940 đến tháng 2 năm 1945, thời gian giữ chức toàn
quyền Đông Dương, Decoux đă bóc lột nhân dân Đông Dương,
nhất là nhân dân Việt Nam để nộp cho Nhật: xuất cảng sang
Nhật 3,6 triệu tấn gạo và một số lượng cao-su trị giá bằng
12.907.023 kg vàng. Tính các khoản thương vụ khác và cung
cấp tại chỗ cho quân đội Nhật tổng cọng lên đến 32.617.110
kg vàng, tương đương với 22 tỉ francs lúc bấy giờ. Trước sau
Decoux c̣n cung cấp 1 tỉ 445 triệu đồng Đông Dương cho quân
đội Nhật tiêu dùng tại chỗ. Tất cả chỉ là tính toán trên
mặt giấy tờ giữa hai ngân hàng Yokohama Species Bank và
Banque de l´Indochine (Ngân Hàng Đông Dương), chính quyền
Pháp ở Đông Dương không nhận lại được một xu. Dân Việt Nam
một cổ mang đến hai tṛng, nạn đói đă bắt đầu hoành hành ở
Bắc Việt, chỉ biết than vắn thở dài:” Gạo Nam Kỳ ai chở cho
ai, dân Bắc Kỳ ngạ tử non hai triệu người.” Thứ hai, mặt
trận Thái B́nh Dương càng ngày càng nghiêng thắng lợi về
phía Đồng Minh, đúng ra là phía Mỹ. Đầu tháng 3 năm 1945 Mỹ
chiếm đảo Palawan trong biển Đông (Nam Hải), theo đường chim
bay, cách Việt Nam không đến 1.000km. Mỹ có thể đổ bộ lên
Đông Dương để cắt đôi lực lượng Nhật ở Đông Nam Á.Trong
trường hợp đó quân đội Pháp ở Đông Dương sẽ trở mặt. Tiên hạ
thủ vi cường, Nhật ra tay trước.
Sau biến cố ngày
9 tháng 3 năm 1945 tên tuổi của
hai nhân vật được đề cập đến : Đức Kỳ Ngoại Hầu
Cường Đễ và ông Ngô Đ́nh Diệm,
nhưng người Nhật lại sắp xếp cho học giả Trần
Trọng Kim làm thủ tướng. Chính phủ này tồn tại
hơn năm tháng cho đến ngày Việt Minh cướp chính
quyền.
Cuộc cách mạng tháng 8 làm nức ḷng
toàn dân. Biểu t́nh khắp nơi, biểu t́nh ở xă, biểu
t́nh ở huyện, biểu tình ở
sân vận động Huế. Dọc đường
quốc lộ số một,
qua mỗi nơi đều có những hàng ghè nước chè cho
người đi biểu t́nh qua đường. Và đoàn biểu t́nh
càng ngày càng dài lê thê, đông như kiến cỏ. Người
ta chào nhau bằng cách đưa nắm tay
mặt lên ngang tai phải, mặt
mày hân hoan. Lần đầu tiên nghe đến danh xưng Việt
Minh và Hồ Chí Minh. Chẳng mấy ai biết Việt Minh
và Hồ Chí Minh
xuất xứ từ đâu, thuộc đảng phái nào,
chỉ nghe rỉ tai nhau : Việt
Minh là Việt của ḿnh. Cuộc diện diễn ra vào cuối
mùa hè, nghỉ học, ham vui nên tôi thường chạy
theo những cuộc biểu t́nh, đi bộ 20km về huyện ở
Cầu Hai biểu t́nh, vài hôm sau lại ngược đường 20
km lên Huế biểu t́nh. Không hiểu mấy về thời
cuộc, nhưng trong đầu óc non trẻ đă tiếp nhận một
cách mơ hồ những từ mới : cách mạng, độc lập, tự
do, b́nh đẳng…
Tây đi rồi Tây trở lại, theo gót
đoàn quân Anh đến Việt Nam giải giới quân đội
Nhật từ vỉ tuyến 13 vào Nam. Quân đội Quốc Dân Đảng
Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch làm nhiệm vu này từ vĩ
tuyến 13 ra Bắc. Pháp khiêu khích,
đánh chiếm vài thành phố ở miền Nam và mưu tính
lập ra Nam Kỳ Quốc. Phong trào Nam Tiến dấy lên,
đưa những Vệ Quốc Quân trẻ chưa được huấn luyện
và trang bị kỹ càng vào Nam kháng chiến. Đó đây
truyền tụng những câu ca dao thời sự
Anh nói th́ hay mà vỗ tay th́ lỗi
Em nghĩ xưa rày nhiều nỗi oán Anh
Đi qua giải giáp chưa thành
Xúi Tây làm loạn sao đành Anh ơi !
Niên khoá 1945-1946 tôi được gia đ́nh
gởi lên Huế học lớp nhất trrường Thế Dạ, lớp nh́
nhị niên được bải bỏ theo chương tŕnh Hoàng Xuân
Hăn. Đầu năm 1946 tôi về quê nhân những ngày nghỉ
học và gặp cuộc bầu cử quốc hội đầu tiên nước
Việt Nam Dân Chủ Cọng Hoà. Cử tri ở nhà quê phần
nhiều mù chữ, phải học thuộc tên những ứng cử
viên lạ hoắc. Tôi phải theo mẹ ra đ́nh làng bỏ
phiếu, nhắc đi nhắc lại cho mẹ những tên Hoàng
Anh, Đoàn Trọng Tuyến, Thích Mật Thể v..v..Không
những mẹ tôi mà những người có chút ăn học trong
xă cũng chẳng biết những ông đại biểu cho dân này là
ai và từ đâu tới.
Từ bấy đến nay ở Việt Nam đă diễn
ra không biết bao nhiêu lần bầu cử, gọi là để
thể hiện tinh thần dân chủ. Nhưng người dân bị sử
dụng như cái bung xung che đậy cho những mưu đồ
của đảng phái hay thế lực chính trị. Tôi nhớ một
buổi cán bộ xă ấp hướng dẫn dân chúng “học tập
bầu cử” vào
dịp trưng cầu dân ư dưới thời thủ tướng Ngô Đ́nh
Diệm để truất phế Hoàng Đế Bảo Đại vào tháng
10-1955. “Xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ b́”, cử tri thôn quê
phải học. Sợ
dân chúng lầm lẫn giữa xanh và
đỏ khi bỏ giỏ hay bỏ b́, cán bộ c̣n bắt học thêm
“bỏ phiếu cho Ngô chí sĩ”. Để kiểm tra lại, người
hướng dẫn học tập hỏi một bà : Bà bỏ phiếu cho ai
? Trả lời : Tui bỏ cho “ chiến thỉ tận vong” !
(Chiến sĩ trận vong, thay v́ Ngô chí sĩ . Người nhà
quê phát âm “TH” thay cho “S” và bỏ mẫu tự “R”
trong vần “TR”). Kết quả là 98,70% cử tri bỏ phiếu đỏ
vào b́. Ông Ngô Đ́nh Diệm thắng, nền Đệ Nhất Cọng Ḥa được
khai sinh. Trải qua nhiều cuộc bầu
cử, ít hay nhiều đều được định hướng trước. Và
ngày nay, tuy h́nh thức có khác đi đội chút, nhưng
đảng cử dân bầu. Thật khốn khổ cho người Việt
Nam được thực thi quyền cơ bản của công dân !
Ở đây, tưởng cũng nên nhắc lại hai nhân vật
Bảo Đại và Ngô Đ́nh Diệm đă ràng buộc với nhau qua hai giai
đoạn lịch sử v́ ”duyên và nợ” . Ông Ngô Đ́nh Diệm là Lại Bộ
Thượng Thư, quan đầu triều lo về nội chính thời Bảo Đại mới
từ Pháp về chấp chính. Năm 1933, Khâm sứ Trung Kư Eugène
Chatel và Tổng Lư Ngự Tiền Văn Pḥng Phạm Quỳnh của Hoàng Đế
Bảo Đại muốn tước bỏ quyền tư pháp của quan lại An-Nam,
không cho họ xét xử, viện lư do quan lại An-Nam không có
kiến thức về luật pháp. Việc này đă trực tiếp chạm đến quyền
hạn của quan Lại Bộ Thượng Thư Ngô Đ́nh Diệm. Ông Ngô Đ́nh
Diệm đă đơn thương độc mă chống lại chủ trương này. Trong
cuộc tranh chấp, sau lưng của Chatel và Phạm Quỳnh có sự hổ
trợ của Toàn Quyền Đông Pháp Pasquier. Hoàng Đế Bảo Đại lại
tỏ ra do dự, không muốn làm mất lòng Chatel.Nhà vua chủ
trương hoan nghênh mọi sự cải cách nhưng phải dưới ảnh hương
của Pháp để khỏi rắc rối ! Kết cuộc, ông Ngô Đ́nh Diệm bị
Toàn Quyền Đông Pháp thải hồi trước khi ”treo ấn từ quan”.
Và 22 năm sau, Ông Ngô Đ́nh Diệm trả được mối hận qua cuộc
trưng cầu dân ư ”xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ b́” truất phế Bảo Đại.
Ngô Đ́nh Diệm trở thành nguyên thủ quốc gia, và công dân
Vỉnh Thụy lại một lần nửa lưu vong.
Lính Tây nghênh ngang giữa kinh kỳ
và nhiều thành phố lớn khác theo Hiệp Định Sơ Bộ
kư kết ở Fontainebleau ngày 6-3-1946. Vài năm sau
ở chiến khu tôi có nghe nói : Hiệp Định Xít-Mác
rất Mác-Xít. Xít-mác ( six mars = 6 tháng 3) có
thể hiểu được, nhưng Mác-Xít là ǵ th́ mù tịt. Té
ra là một biến ngữ từ tên Karl Marx. Cái lôgíc
biện chứng Mác-xít của hiệp định Xít-Mác được
người ta lư giải
như sau : Thứ nhất, cần hoà hoản với Pháp để mua
thời gian khi bộ đội Việt Minh chưa được huấn
luyện và trang bị đầy đủ cho một cuộc chiến chống
Pháp. Mà chiến tranh th́ chắc chắn sẽ xảy ra. V́
sau Đệ Nhị Thế Chiến, tướng De Gaule từ Anh về nước
cầm quyền đă tuyên bố : nước Pháp sẽ suy yếu nếu
mất lănh thổ hải ngoại. Ngụ ư
là Pháp sẽ tái chiếm thuộc địa ở Đông Dương và
Phi Châu. Thứ hai, mượn Hiệp
Định Sơ Bộ Xít-Mác để trục
quân Tàu của Tưởng Giới Thạch về nước. Một mủi
tên bắn hai con chim. Vừa tránh được cái hoạ bành
trướng muôn thưở của Trung Hoa, vừa vô hiệu hoá sự
ủng hộ của đoàn quân Tàu Quốc Dân Đảng cho một
số đảng phái quốc gia đang ráo riết chống Việt
Minh ở Bắc Việt, ngay giữa ḷng Hà Nội và rải
rác khắp nơi, từ Vỉnh Yên đến Việt Tŕ, Lao Kay,
Yên Báy…Với tuần lể vàng thu được của quần chúng nhiệt tâm
vì nền độc lập của tổ quốc, Việt Minh lo lót cho những
tướng Tàu tham lam và đói khát nên đă đạt được mục
đích. Những căn cứ của Đại Việt Quốc Dân Đảng và
Việt Nam Quốc Dân Đảng bị tấn công và nhanh chóng
tan rả.
Trường Khải Định giao cho quân đội
Pháp đóng. Học sinh từ lớp đệ nhị niên trở lên
được chuyển vào học trong đại nội. Lớp đệ nhất
niên chúng tôi (niên khoá 1946-1947) học ở trường
Thuận Hoá gần
đồng An Cựu. Chẳng biết Pháp và
Việt Minh sắp xếp làm sao mà trong thời gian này
ở múi cầu Trường Tiền, phía hữu ngạn, một bên có
người lính Pháp đứng gác, bên đối diện,
một vệ quốc quân. Anh vệ quốc quân trẻ trong quân
phục màu xanh, trang bị với một khẩu mitrailette,
tuy nhỏ con, nhưng trông hào hùng oai vệ, thách
thức với người lính Pháp gồ ghề đối diện. Mỗi lần
đi ngang đó, tôi thầm mơ ước sau này được đóng vai
một vệ quốc quân.
T́nh thế căng thẳng từng ngày một.
Quân Pháp đang đánh ra miền Trung và đe doạ miền
Bắc. Việc phải đến đă đến, tổng tấn công vào
tháng 11 năm 1946. Với vũ khí thô sơ, sử dụng mọi
phương tiện khả hữu kể cả xông khói ớt mọi đốt
với rơm. Trong hai tháng Việt Minh không hạ được
mấy đồn Tây ở Huế cho đến ngày vỡ mặt trận. Trong
giai đoạn này chiến tranh không diễn ra ở thôn
quê, nhưng không khí rất căn thẳng. Lệnh tiêu thổ
kháng chiến bắt buộc phá hũy những nhà gạch lợp
ngói ở những xă nằm dọc theo quốc lộ
một, vườn không nhà trống. Quốc
lộ một bị
đào đứt ngang từng đoạn, trên đường ngổn ngang
những thân cây lớn, cốt để cản đường tiến quân của
Pháp. Dân đào đường rồi Tây bắt
dân phải lấp. Quân Pháp không
gặp chống đối trên đường từ Đà Nẵng ra Huế. Đi
đến đâu họ cũng xây đồn đắp lũy ở những đầu cầu
lớn. Đoàn quân viễn chinh trắng
có, đen có
với sự hợp tác của những tay chỉ điểm địa phương
gây tang tóc đau thương không kể xiết, nhất là ở
vùng nông thôn. Họ là dân
giang hồ tứ chiến gồm người Pháp, người Maroc,
người Tunisi, người Sénegal, người Trung Phi…xa nhà
có thương chi dân ḿnh, mua vui bằng những hành
động ngang ngược, bạo tàn giết người cướp của đốt
nhà, hảm hiếp… nên đă đẩy quần chúng nông thôn về
phía Việt Minh.
T́m một
hướng đi
Ở nhà quê chậm chân hơn anh em ở
thị thành, tôi trở lại trường trể. Năm đệ nhất
niên kể ra chỉ học được già nửa niên khóa. Vào đầu
năm đệ nhị niên (lớp đệ lục), thầy quốc văn ra một
bài luận với đầu đề : ”Trong tương lai em chọn
nghề ǵ ? Tại sao?”. Tôi viết sẽ đi lính để bảo
vệ tổ quốc, chống xâm lăng. Thầy đă gọi riêng
tôi, khen ngợi
có tinh thần yêu nước và khuyên nên hết sức thận
trọng. Tôi cám ơn thầy và chỉ
vài ngày sau, viết cho ông thân
sinh một lá thư,
trong đó có câu : ”Con thoát ly gia đ́nh để phụng
sự tổ quốc”, rồi ra đi, đi kháng chiến, v́ đă có
liên lạc trước. Tôi không rơ là đă học ở đâu mấy
cụm từ rất sáo ”thoát-ly-gia-đinh,
phụng-sự-tổ-quốc”.
Vào thời đó, trong giới học sinh, kể cả ở lứa tuổi
c̣n nhỏ, đă truyền tụng những từ tương đối lạ tai
như bài phong phản đế, chiến khu, kháng chiến, thực
dân….
Chiến khu mà lần đầu tiên tôi đặt
chân đến là vài dăy nhà sàn thô sơ lợp tranh
dọc theo một bờ suối, nằm sâu trong rừng, đi non
một ngày đường mới đến làng mạc. Nơi đây chỉ có
năm bảy cán
bộ thoát ly, nhưng họ cũng không ở chiến khu
thường xuyên mà đi về các xă hoạt động. Năm
bảy ngày mới tập
trung về chiến khu để kiểm điểm công tác rồi lại
ra đi. Tôi được giao làm liên lạc viên cho anh
liên xă đội trưởng. Lực lượng của liên xă đội,
ngoại trừ anh liên xă đội trưởng với một khẩu
mousqueton, không c̣n ai, chỉ có những tiểu tổ dân
quân không được vơ trang ở các xă. Họ là những
nông dân sinh hoạt b́nh thường ở các thôn xóm,
khi hữu sự mới tham gia công tác, thông thường là
công tác phá hoại, chủ yếu nhằm vào đường xe lửa,
đường dây thép hay tổ chức mít-tinh…Hấp dẫn nhất
đối với một đứa trẻ tuổi mười bốn mười lăm là
bắn quấy phá giữa đêm khuya. Tôi được hướng dẫn sử
dụng khẩu mousqueton bắn vào đồn Tây, khi đồn này
khi đồn khác, có lần bắn đến phát thứ bảy đạn mới
nổ. Trong đồn đáp lại bằng nhiều loại súng, anh
xă đội trưởng và tôi đă chuồn êm.
Mấy tháng sau, được biệt phái làm liên
lac cho một đơn vị chính qui, tôi cảm thấy như
ḿnh lớn hơn một đứa trẻ mười bốn, mười lăm qua
những cuộc hành quân băng đèo lội suối, qua những
lần nghe cán bộ chỉ huy chuyện tṛ. Họ thường nói
chuyện với nhau pha nhiều tiếng Pháp.Tôi chẳng hiểu
Ất Giáp ǵ mấy, nhưng chính điều này đă có một
ảnh hưởng lớn đến quyết định của tôi sau này.
”Ai từng vô sông Hương, từng nương
Thiên Mụ, từng ngụ Đập Đá, Văn Xá Truồi Nong… giờ
đây khói lửa ngập trời…” Bài ca B́nh Trị Thiên
Khói Lửa đă thân thương gởi gắm tâm t́nh về quê
ḿnh : ”B́nh Trị Thiên ơi miền thân mến, có ai
xuôi về cho ta nhắn thương yêu”…. ”Đoàn quân đi
thấp thoáng trong đêm không một v́ sao ….Bao em tôi
đôi mắt sáng ngời, say sưa trong quân dồn bước
tiến”…và kết thúc : ”Hẹn ngày mai chiến thắng chớ
quên đường về làng xưa, em vẫn mong chờ, đến ngày
ấy đôi ta cùng mơ”.... Tôi đă mơ có một ngày,
qua các xóm làng ḿnh từng đặt chân đến hay ngay
trên đường Trần Hưng Đạo, giữa ḷng cố đô Huế tôi
diễn hành trong đoàn quân chiến thắng trước hàng
trăm hàng ngàn cặp mắt ngưỡng mộ và khâm phục của
nhiều người đẹp. Ở tuổi dậy th́ mười bốn mười lăm
mộng mơ, những t́nh cảm lăng mạn về phái tính đă
phản phất vấn vương và t́nh yêu quê hương quyện
vào nhau như mời gọi, như thúc dục dấn thân để
vượt thắng mọi gian truân trên các nẻo đường kháng
chiến gian khổ, khổ mà vẫn thấy rất vui.
Có người cho rằng đó là chuyện bồng
bột thiếu chín chắn của trẻ con và đánh giá thấp
phong trào ”xếp bút nghiên ” xem như đă bị Cọng
Sản lợi dụng. Ăn chưa no lo chưa tới như tôi lúc
bấy giờ và chưa từng nghe đến hai chữ Cọng Sản
th́ bồng bột với tánh anh hùng rơm th́ chẳng nói
làm chi. Ông Nguyễn Hải Thần lănh tụ Việt Nam
Quốc Dân Đảng, ông Nguyễn Tường Tam lănh tụ Đại
Việt Dân Chính từ Trung Quốc về tham gia Chính
Phủ Liên Hiệp, ông Vũ Hồng Khanh đại diện Việt Nam
Quốc Dân Đảng cùng với ông Hồ Chí Minh kư tên vào
Hiệp Định Sơ Bộ 6 tháng 3 chẳng lẽ không biết
người đứng đầu Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội là
một nhân vật của Đệ Tam Quốc Tế ? Những trí thức
ôn ḥa miền Nam như các ông Hồ Văn Ngà, Bùi
Quang Chiêu…cũng tham gia kháng chiến từ giai đoạn
đầu. Các nhà nho như Huỳnh Thúc Khán, Phan Khôi và
nhóm Nhân Văn Giai Phẩm theo Việt Minh chẳng lẽ
v́ lư tưởng cọng sản ? Những nhà khoa bảng Nguyễn
Mạnh Tường, Nguyễn Khắc Viện…đă rời bỏ nước Pháp
để về ngoài Bắc…. Những vị này và hàng hàng lớp
lớp trí thức khác theo Việt Minh kháng chiến v́ nền
độc lập của tổ quốc hay v́ lư tưởng cọng sản ? Họ tham gia
phong trào Việt Minh v́ muc đích cao cả ”quốc gia hưng
vong,thất phu hữu trách”, nhưng về sau nếu không thoát
ra kịp th́ bị khuất phục, cuốn vào cỗ máy nghiền
của chính quyền chuyên chính vô sản, hoặc trở
thành hàng thần lơ láo, hoặc bị thanh trừng bằng
cách này hay cách khác.
Người Pháp trở lại Việt Nam thật sự
với ư đồ tái xâm lược. Đầu tháng 3 năm 1946 Cao
Ủy Pháp o Sàigon, Đô Đốc D´Argenlieu thừa nhận
chính phủ Nam Kỳ Tự Trị của ông Nguyễn Văn Thinh.
Và về sau, tuy có một Quốc Gia Việt Nam dưới sự
lănh đạo của Hoàng Đế Bảo Đại, trên thực tế thực
quyền ở Việt Nam vẫn ở trong tay người Pháp. Đầu
năm 1982, một phái đoàn Pháp sang trại tị nạn
Palawan để hướng dẫn cho những thuyền nhân được
tàu La Lumiere vớt lập hồ sơ tái định cư ở Pháp.
Họ thông báo, những người sinh tại Nam Kỳ trước
ngày kư kết Hiệp Định Geneve 20-7-1954 sau khi đến
Pháp, không xin nhập tich mà xin ”hồi tịch”. Những
quân nhân nhập ngũ trước ngày đó có thể sưu tra
lư lịch trong văn khố Pháp. Điều này chứng tỏ
người Pháp vẫn xem Nam Kỳ là xứ thuộc địa, Bắc
và Trung Kỳ là xứ bảo hộ, nguyên trạng như thời
đô hộ Pháp. Chủ trương này của Pháp đă được Bộ
Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại Coste Floret khẳng định
trong buổi gặp gở giữa thủ tướng Pháp Robert
Schuman và Cựu Hoàng Bảo Đại vào năm 1947 : ”Hiện
nay, chỉ có những hiệp ước kư kết từ ngày xưa
với triều đ́nh An Nam là có giá trị mà thôi...”
(Bao Đại, Con Rồng Việt Nam, NXB Xuân Thu, trang
304). Trong hoàn cảnh rối ren phức tạp đó của
đất nước, nếu viện lí do chống Việt Minh hay
chống Cọng để đứng vào hàng ngũ thực dân Pháp e
rẳng không hợp lí hợp t́nh.
Giữa năm 1948 tôi bị sốt rét nặng,
được đưa đi điều trị ở bệnh viện chiến khu Thừa
Thiên. Vị bác sĩ trẻ người Bắc điều khiển bệnh
viện này tên Đàn. Vài mươi năm sau tôi được ông
thứ trưởng Bộ Giáo Dục Việt Nam Cọng Ḥa Nguyễn
Danh Đàn tiếp kiến. Rơ ràng là bác sĩ Đàn ở bệnh
viện chiến khu Thừa Thiên. Tôi có lầm người chăng
? Sốt rét là một chứng bệnh nóng lạnh có hẹn giờ.
Phải nói là ”rét sốt” mới đúng, v́ lạnh trước nóng
sau. Lạnh buốt gan từ trong ruột lạnh ra, nóng đổ
mồ hôi hột từ ngoài da nóng vào. Con sâu sốt rét
nằm phục trong máu, cơ thể yếu yếu là nó vùng
dậy. Chưa dứt sốt rét lại bị thũng. Thân thể gầy
g̣ như ma đói nhưng khuôn mặt và hai bàn chân,
hai bàn tay lại trương lên. Tôi được đưa về an
dưỡng ở khu 3 huyện Phú Lộc. Khu 3 là vùng từ Mỹ
Lợi đến Đông Am Mỹ Á, ngoài ṿng kiểm soát của
Pháp. Khẩu phần bội dưỡng thường thường có thêm
một món dành cho heo, cám mịn trộn với đường để
có vitamin. Uống thuốc Bắc, hết thũng th́ ghẻ lở
ra khắp châu thân. Nhưng có lẽ nhờ sức trai, mọi
bệnh tật bị đẩy lui dần dần.
Cuối năm 1948 có tin ở vùng ”tự
do” ngoài xă Phong Chương, huyện Phong Điền một
trường trung học có tên Nguyễn Chí Diểu được thành
lập, tôi được khuyến khích đi học. Hệ thống giáo
dục được thu ngắn lại, bốn năm tiểu học, ba năm
trung học đệ nhất cấp và hai năm trung học đệ nhị
cấp. Hàng ngũ giáo chức có các anh Tôn Thất Lương,
Nguyễn Kỳ, Phạm Doăn Hân (con dược sĩ Phạm Doăn
Điềm) và về sau tăng cường thêm anh Thân Trọng
Ninh, anh ruột anh Thân Trọng Sinh. Chưa đầy bảy
tháng, tôi học hai lớp, cuối năm lớp sáu và đầu
năm lớp bảy. Lại động ḷng bốn phương trước phong
trào Rèn Cán Chỉnh Quân và Tổng Phản Công tôi lại
lên đường. Ngày 14 tháng 9 năm 1949, bốn anh vệ
quốc quân và tôi lọt vào một ổ phục kích ở Hiền
Sĩ, ba người chết tại chỗ, một người chạy thoát,
tôi bi thương và bị bắt giam. Nhà giam là kho
đạn cũ Mang Cá do Tây để lại, được đục lỗ thông
hơi và ngăn đôi bên nam bên nữ.
Nhà đă bị đốt, gia đ́nh tôi tản cư
đến một vùng do Việt Minh kiểm soát. Do thiếu
thông tin chính xác, gia đ́nh nhận được tin tôi
bị bắn ở miền bắc tỉnh Thừa Thiên nên tôi được
thượng lên bàn thờ với một lư hương nhỏ. Mỗi bữa
ăn, quanh mâm cơm có chén cơm đôi đũa dành cho
người mới chết. Tù mới, không được đi làm nên
không có cách ǵ liên lạc với gia đ́nh, phải làm
”tù mồ côi” hơn bốn tháng cho đến sau Tết Canh
Dần năm 1950. Tuy vậy đôi khi cũng cảm thấy ấm
ḷng, được các bạn tù thương t́nh chia xẻ đồ thăm
nuôi, trong số đó có rất nhiều nam nữ học sinh Huế.
Một buổi trưa chủ nhật đẹp trời, tôi được
báo có người hỏi thăm ngoài hàng rào trại giam, vội
vàng phóng ra, ngơ ngác nh́n quanh th́ có người gọi
tên. Chị tôi, chị Sen ! Chị em cầm tay nhau qua
hàng rào kẻm gai, chị tôi khóc như đưa đám làm cho
những người đi thăm nuôi rất đổi ngạc nhiên. ”Mạ
khóc ngày khóc đêm, cha thẩn thờ như người mất
hồn khi nghe tin mi chết…Bữa cơm có khúc cá mạ
cũng để nơi chỗ trống dành cho mi rồi nói :ăn đi
con …Mới đây, con Ẩn tin cho biết, chắc chắn thấy
mi trên xe chở tù đi làm qua cầu Trường Tiền…Mới
đổi được 50 Đông Dương, mạ thúc chị đi Huế xem
có thiệt hay không. Mạ nóng ruột lắm nhưng đi hai
người, tiền xe tiền tàu ăn hết… Qua bên lao Thừa
Phủ, họ nói không có thằng Giang nào 17 tuổi
người Nong ở đây. Họ chỉ qua lao Mang Cá hỏi thử…Đứng
chờ mà vái Trời là thằng Giang thiệt chớ không
phải một thằng khác trùng tên…Biết tin con Ẩn có
thiệt hay không mà bới xách…” Chị tôi vừa nói vừa
khóc rồi lận lưng ra cho 25 đồng. Một bà đứng
bên cạnh mủi ḷng cho 5 đồng. Từ đó, tuy việc thăm
nuôi họa hiếm nhưng tôi không c̣n là ”tù mồ côi”
nữa.
Đi hay ở lại.
Trưa ngày 16 tháng 11 năm 1951 tôi
cầm giấy phóng thích trong tay. Giấy kư ngày 12
tháng 11, và về sau tôi đă lấy ngày này làm ngày
sinh khi làm lại mọi thứ giấy tờ cá nhân của
ḿnh. Đồ tế nhuyển của riêng tây gồm một cái mền
có ghi số tù, một bộ quần áo và vài thứ vặt
vạnh nhét vào cái bị lác xách ṭn teng ra nhà tù.
Trong túi có số tiền 200 đồng . Tôi được chọn vào
số mười mấy tù nhân ra làm nhà cho Trung Tá
Nguyễn Ngọc Lễ ngoài cửa Hậu do ”man khai” có học
thợ mộc. Mỗi buổi sáng, bà Lễ chở đến một rổ ḿ có
nhân thịt, phát cho mỗi người một ổ. Ngoài ra, bà
c̣n cho mỗi người 10 đồng một ngày công. May sao
giữa buổi sáng hôm đó, khi người lính ra dẫn tôi
về trại để được phóng thích th́ bà Lễ cũng vừa
đến. Bà tính sổ làm việc, tôi làm được 19 ngày,
bà cho luôn 200. Ra khỏi tù việc đầu tiên là đến
trước chợ Đông Ba tự khao một tô bún ḅ, sau đó
t́m đến tiệm cho thuê xe đap ở cửa Thượng Tứ. Vừa
ca bài ca con cá, vừa năn nỉ tỉ tê cũng thuê
được xe, 2 đồng /giờ với tờ giấy phóng thích. Đạp
cho sướng chân, đạp lên Kim Long, đạp ra An Ḥa,
đạp xuống Bao Vinh, đạp qua An Cựu, đạp về Vỹ
Dạ…Đă bốn năm chưa được cỡi xe đạp. Vừa đạp vừa
nặn óc suy nghĩ : Đi Hay Ở ?.
Đi th́ quá đơn giản. Về với gia
đ́nh ở vùng Việt Minh kiểm soát, đi kháng chiến
hay đi học lại. Chuyện đất nước c̣n dài, có đi
kháng chiến với tŕnh độ học vấn chưa thực sự hết
lớp đệ lục th́ về sau cũng chỉ làm một tay chạy
hiệu. C̣n đi học lại ở ” vùng tự do” xem như học
cho có. Nghe tiếng máy bay, thầy tṛ bỏ chạy. Nghe
Tây đi càng quét cũng chạy, có khi chạy đến ba
bốn ngày mới trở về. Tuy đă vào lớp bảy (theo hệ
thống giáo dục mới), tương đương với đệ tứ, nhưng
đó chỉ là kể lớp sắp hàng mà lện. Thật sự tŕnh
độ chưa đến đâu.
Ở Huế, những trường trung học công
lập và tư thục phần nhiều tập trung ở hữu ngạn
sông Hương nên có những ḍng học tṛ đi về sáng
chiều. Thời gian ở tù, hằng ngày xe lính đến chở
đi làm tạp dịch, thấy những ḍng học tṛ xuôi
ngược, tôi nao nao trong dạ, ước muốn đi học lại.
Mà đi học kiếm thêm ít chữ nghĩa th́ phải học ở
Huế. Nhưng chuyện đâu có đơn giản. Tứ cố vô thân,
nương náu vào đâu để giải quyết vệc ăn ở mà đi
học ? Vô kế khả thi !
Đạp xe rông cả buổi chiều, ăn hàng
xong có muốn về quê cũng đă lỡ xe lỡ tàu, tôi
trở lại Trại Cải Huấn (nhà tù) mới được xây dựng
phía trong cửa Trài thay thế cho nhà lao Mang Cá
để xin ngủ lại một đêm, viện lẽ về quê không kịp.
Ông trung sĩ nhất già trại phó rất dễ chịu, tù
thường gọi là Bon Papa, thương t́nh cho ngủ nhờ
trong nhà, phía ngoài hàng rào trại, ngủ chung với
một người bạn tù ông lấy ra để phục dịch cho gia
đ́nh. Hôm sau lại xách gói lên đường.
Tuy chưa mấy rơ ràng đường hướng,
nhưng tôi có cảm tưởng đă t́m được một lối thoát
nên rất yên tâm. Cùng lắm th́ trở lại tỉ tê với
Bon Papa xin ”ở đợ” tạm thời rồi sẽ hạ hồi phân
giải. Ông được việc nhà mà chẳng tốn kém chi, chỉ
tốn một xuất cơm tù. Phấn khởi, tôi tự thưởng cho
ḿnh một chầu xi-nê cô-bồi ở rạp Tân Tân. Trong
ḍng người ồn ào tuông ra khỏi rạp xi-nê, bổng có
tiếng kêu : Giang ! Quay lại, tôi ngạc nhiên nhận
ra anh Thân Trọng Ninh, ông thầy cũ trường Nguyễn
Chí Diểu ngoài Phong Điền. Anh Ninh cũng vừa rời
bỏ hàng ngũ kháng chiến về thành. Sau khi biết
tâm sự và hoàn cảnh của tôi, anh bảo dọn đồ đạc
về nhà anh ở tạm. Tôi chỉ vào cái bị lác, cho
biết gia tài điền sản chỉ có chừng nớ, vật bất
ly thân. Đă có quí nhân pḥ trợ rồi !
Tôi ở chung với anh Thân Trọng Ninh
tại nhà anh Thân Trọng Sinh gần Đập Đá một tuần.
Biết được tâm nguyện của tôi hai anh tận t́nh t́m
cách giúp đỡ. Anh Sinh liên lạc với ông Từ Bộ
Quưnh, chủ sự pḥng Xă Hội xin cho tôi vào ở
Trại Tế Bần và xin ông Nguyễn Như Minh, hiệu
trưởng trường trung học tư thục Nguyễn Du, nơi anh
có dạy tư, cho tôi được học miển phí. Ngày ra
riêng, tài sản của tôi phong phú hơn, ngoài những
bộ áo quần cũ, anh Ninh c̣n dúi cho tôi 50 đồng.
Chữ Tế Bần phản ảnh đúng hoàn cảnh của những
người sống trong trại. Đui què mẻ sứt…ăn mày ăn
xin…đủ hạng người cùng khổ vô gia cư. Anh giám
thị trại biết tôi là học tṛ, cho ở trên một căn
gác 9 m2, chung với một thanh niên xứ Nghệ. Chẳng
biết cái nhà dùng làm Trại Tế Bần nguyên thủy xây
cất theo kiểu ǵ mà căn gác duy nhất nằm chèo
queo lơ lửng, không dính với tầng trệt, lên xuống
phải dùng một cái thang tre rất dài. Căn gác về
sau được phong thành ”Chiêu Anh Quán”, v́ có nhiều
”tài tử giai nhân” chiếu cố. Người được xét trợ
cấp gồm hai hạng : nội trú, trại lo việc ăn ở,
ngoại trú mỗi tháng đến lảnh 12kg gạo và 36 đồng.
Những người nương thân vào Trại Tế Bần, nội hay
ngoại trú, để ăn học mà tôi c̣n nhớ, về sau gọi là
đạt được một chút thành công có các giáo chức Đặng
Văn Bôn, Hoàng Toại, Vơ Ái Ngự (cả ba đều đă ra
người thiên cỗ), Nguyễn Đức Giang, trung tá (hay
đại tá ?) Phan Bá Kỳ và tiến sĩ Nguyễn
Trường......C̣n rất nhiều, không nhớ hết nổi
Những chuyển biến phức tạp của
thời cuộc.
Năm 1952, 1953 có nhiều người trốn
khỏi vùng Việt Minh để về thành. Mỗi người có một
hoàn cảnh, trở về từ những địa phương khác nhau,
kể những câu chuyện khác nhau, nhưng có một điểm
chung là không thể sống nỗi với Việt Minh, nếu
không là đảng viên Cọng Sản. Lần đầu tiên tôi nghe
nói nhiều về Cọng Sản, nhưng vẫn nghĩ rằng, những
người trở về có thể v́ gia đ́nh, v́ không chịu
nỗi kham khổ. Tuy vậy trong đầu đă manh nha những
câu hỏi : Tại sao…và tại sao…? Những người có ăn
học lại không được đóng góp tích cực vào công
cuộc giải phóng quê hương ? Vậy th́ sau khi thu
thập được một tŕnh độ học vấn nào đó, ḿnh có
nên trở về với kháng chiến hay không ? Những người
tham gia phong trào Việt Minh từ đầu đến bảy tám
năm sau c̣n bị đặt ra bên lề, c̣n ḿnh, trở về
sau một thời gian ở ”trong ḷng địch”, ai tin ? Và
rồi sẽ ra sao ? Nền độc lập của tổ quốc là điều
quan trọng thiết yếu đối với toàn dân, tại sao
lại phải có một nhóm cai thầu ? Cứ nghĩ lẩn quẩn
như thế để tự trôi theo ḍng chảy Quốc Gia, qua
những hoàn cảnh cá nhân và giai đoạn lịch sử của đất nước .
Qua những tin tức thâu lượm rải rác
trên báo chí về Cải Cách Ruộng Đất, về việc đàn
áp những trí thức bất đồng quan điểm của các nhóm
Nhân Văn, Giai Phẩm…tôi vẫn c̣n ngờ ngợ. Phải chăng
người ta đă phóng đại nhiều chuyện v́ lư do tuyên truyền.
Nhưng rồi sự thật càng ngày càng hiễn lộ, có sách
có chứng. Ông Nguyễn Mạnh Tường, đứng trên quan
điểm của một nhà luật học nêu lên những sai lầm
của cuộc Cải Cách Ruộng Đất qua bài phát biểu
trong buổi họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở Hà Nội
ngày 30 tháng 10 năm 1956. Vụ đàn áp đẩm máu ở
Hung Gia Lợi vào tháng 11 năm 1956, chẳng có kẻ
thù nào bên ngoài nhúng tay vào, chỉ v́ nhân dân
Hung Gia Lợi đứng lên đ̣i hỏi tự do. Kết thúc
đại hội Đảng Cọng Sản Liên Xô lần thứ 20 cũng
vào năm 1956, Kruschov đă lên án Stalin sùng bái
cá nhân, độc tài, giết hại và đày ải hàng triệu
người, kể cả những đồng chí thân cận với ḿnh.
Trong bản dịch Việt ngữ hồi kư của bà quả phụ
Mussolini có viết : May mắn cho Lenin, chết trước
khi Stalin nắm được quyền. Nếu không, ông ta cững
bị thanh trừng…Và chính tai ḿnh được nghe một bài
tham luận phát ra trên đái phát thanh Hà Nội : ”Ai
Gây Ra Nạn Đói Ở Miền Nam ?”, rồi quy kết cho Mỹ
Diệm ! Trong lúc đó Miền Nam sung túc, lo hàn gắn
những đổ vỡ, xây dựng và phát triển, đang vươn lên
sau chín năm bị chiến tranh tàn phá, nhất là ở Liên Khu
5 gồm các tỉnh Nam-Ngăi-B́nh-Phú.
Những chuyển biến dồn dập của thời cuộc
đă đẩy đất nước đến một khúc quanh mới, hiệp định
Geneve được kư kết ngày 20 tháng 7 năm 1954, chia
đôi đất nước mà sau này gọi là Ngày Quốc Hận. Ai
là người có ḷng mà chẳng buồn, chẳng hận khi đất
nước bị phân chia ? Nhưng b́nh tâm mà nghĩ, nếu
không có ngày này, người Pháp vẫn tiếp tục ngự trị
trên đất nước Việt Nam th́ người chống Cọng đứng
ở vị thế nào để phát huy Chính Nghĩa Quốc Gia?
Một nửa đất nước gọi là độc lập, nhưng nằm trong quỉ đạo
của khối Cộng Sản, mọi quyền tự do của công dân bị tước đoạt
để cho một chính thể độc tài toàn trị được củng cố. Một nửa
đất nước cũng độc lập trong khối tự do, nhưng qua hai chế độ
Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Ḥa không phát huy được chính nghỉa
quốc gia một cách trong sáng, mà càng ngày càng lún sâu vào
ṿng ảnh hưởng của Mỹ, nếu không nói là lệ thuộc vào Mỹ.
Cuộc chiến tranh ở Việt Nam có nhiều điều
phức tạp về nhận đinh cho cả người Việt lẫn người ngoại
quốc. Nam và Bắc đánh nhau mà gọi là nội chiến cả Nam lẫn
Bắc đều không chấp nhận. Đối với Miền Nam th́ phải là chống
Cọng Sản xâm lăng, đối với Miền Bắc th́ phải là cuộc chiến
giải phóng. Gọi chiến cuộc Việt Nam là cuộc chiến tranh ủy
nhiệm của hai khối quốc-cọng, cả hai miền Nam Bắc vẫn bác bỏ
để tỏ ra rằng ḿnh không bị lệ thuộc vào một thế lực ngoại
lai, cho dù Hà Nội trở trời v́ sự thay đổi thời tiết ở Mạc
tư Khoa và Sài-g̣n nóng lạnh v́ khí hậu bất thường ơ Hoa
Thịnh Đốn. Và ngày nay, nói về cuộc chiến Việt Nam, người
Tây phương thường gọi : Chiến Tranh Việt Nam Một để chỉ giai
đoạn 1945 – 1954 và Chiến Tranh Việt Nam Hai để chỉ giai
đoạn 1954 – 1975. Danh nghĩa như thế nào đi nữa th́ cuộc
chiến dai dẳng ba mươi năm là một ḷ sát sanh khổng lồ đă
thiêu hủy hàng triệu binh sĩ và thường dân của hai miền Nam
Bắc lẽ ra có thể tránh được. Những nước thuộc địa khắp nơi
trên thế giới từ Á Châu đến Phi Châu đến Mỹ Châu La Tinh,
sau Đệ Nhị Thế Chiến, dần dà thu hồi được độc lập mà không
có một cuộc chiến tranh tương tàn khốc liệt và dai dẳng như
Việt Nam, v́ họ không có một đảng chính trị liên kết chặt
chẻ với phong trào Cọng Sản quốc tế.
Trên b́nh diện quốc tế, Liên Xô và khối Đông
Âu tan rả sau hơn 70 năm ḍ dẫm xây dựng Xă Hội Chủ Nghĩa
với hàng triệu sinh linh lót đường mà vẫn chơi vơi, đành
quay lại 180 độ. Ở Việt Nam sau hơn 50 năm ở Miền Bắc và hơn
30 năm ”Mỹ cút Ngụy nhào”, không có một xă hội lư tưởng như
theo sách vở và tuyên truyền rằng, một xă hội trong đó mọi
người đều b́nh đẳng, giai cấp bị triệt tiêu, làm theo sức,
hưởng theo nhu cầu, mọi quyền tự do được phát huy và tôn
trọng….Thay vào đó lại phát sinh một giai cấp thống trị hà
khắc đối với quảng đại quần chúng hơn cả thời phong kiến và
thực dân. Thưc trạng ở Việt Nam ngày nay đă phơi bày mặt
trái của tấm huy chương XHCN.
C̣n về phía ”quốc gia”, có thể có nhiều
người không đồng ư với cách nh́n này. Thực sự mà nói, nếu có
ư nghĩa ”quốc gia” ở miền Nam Việt Nam th́ chỉ có kể từ sau
hiệp định Geneve 1954. Giai đoạn 1945-1954 có thể nói là
giai đoạn hậu thuộc địa Pháp. Mặc dầu trên danh nghĩa có một
Quốc Gia Việt Nam trong khối Liên Hiệp Pháp dưới quyền quốc
trưởng Bảo Đại, nhưng trên thực tế Pháp nắm quyền chủ động.
Hiệp định Geneve đă khai thông một bế tắc cho lập trường
quốc gia chống cọng.
Thời kỳ đầu của nền Đệ Nhất Cọng Ḥa có thể
nói là một thời kỳ tương đối ”thái b́nh thịnh trị”.Bắc Việt
tin rằng sẽ ăn chắc trong cuộc hiệp thương chính trị, tổng
tuyển cử vào năm 1956 để giải quyết sự thống nhất Nam-Bắc
với lối bầu cử áp chế ở miền Bắc như hầu hết các nước Cọng
Sản, với những cán bộ nằm vùng đang được âm thầm gài lại ở
Miền Nam để chờ cơ hội. Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm vin vào
việc Quốc Gia Việt Nam không kư vào bản hiệp định Geneve nên
không có bổn phận thi hành. Điểm son của nền Đệ Nhất Cọng
Ḥa là dẹp bỏ lực lượng vũ trang của giáo phái, chấm dứt
t́nh trạng sứ quân ở Nam Phần. Nhưng tổng thống Ngô Đ́nh
Diệm trị quốc như tề gia, để cho gia đ́nh và tôn giáo xen
vào nhiều quyết định lớn của quốc gia. Mới đây, ông Nguyễn
Hữu Châu (hay Trần Ngọc Châu, nguyên thị trưởng Đà
Nẵng), trong một bài viết có đề cập đến vai trò
của Đức Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục. Theo ông Châu,
Đức Tổng Giám Mục đã quyết định nhiều việc nước
với tư cách ”quyền huynh thế phụ”. Khi quyền hành của
”Nhà Ngô” đă được củng cố, vào những năm đầu thập niên 60
thế kỉ trước, những nhóm chữ có ư nghĩa tiêu cực gán cho chế
độ được truyền tụng trong dân gian ”độc tài”, ”gia đ́nh
trị”….Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm có lẽ quá tin tưởng vào sự
vững chắc của pḥng tuyến chống Cọng Đông Nam Á với những
vai tṛ tưởng rằng không thay thế được đối với Mỷ như Lư
Thừa Vảng, Tưởng Giới Thạch, Mac Saysay, Sukarno, Ngô Đ́nh
Diệm nên không để cho một thế lực hay cá nhân nào cho là
không đáng tin cậy xen vào bộ máy chính quyền. Điển h́nh
nhất là phản ứng thô bạo của chính quyền đối với Tuyên Ngôn
Caravelle.
Đầu thập niên 1960 cán bộ nằm vùng và du
kích quân cọng sản bắt đầu khuấy động mạnh ở nông thôn. Ở
thành thị không khí chính trị ngột ngạt v́ nạn độc tài. Đây
là thời gian nhiều người ”trở lại đạo” để mưu cầu địa vị hay
giữ địa vị. Trước t́nh trạng đó, 18 chính khách gồm những
nhân vật danh tiếng đă họp nhau, gởi cho tổng thống Ngô Đinh
Diệm một bức thư với lời lẽ trang trọng, tế nhị và ôn ḥa,
đưa đề nghị khẩn cấp thay đổi chính sách, ban hành các quyền
tự do dân chủ để cứu văn t́nh thế đất nước.
Thư gởi đi mà chẳng thấy hối âm nên nhóm
nhân sĩ quyết định công bố bức thư qua một cuộc họp báo tổ
chức ở khách sạn Caravelle ngày 26-4-1960. V́ thế về sau bức
thư được gọi là Tuyên Ngôn Caravelle. Ngay ngày hôm sau mật
vụ và cảnh sát lùng bắt những người đứng tên trong bức thư,
cho dù họ là những nhân vật ôn ḥa và nổi danh, như Trần
Văn Hương, Trần Văn Đỗ, Phan Khắc Sửu, Nguyễn Lưu viên,
Phan Huy Quát, Phan quang Đán, Trần Văn Tuyên… Bác sĩ
Trần Văn Đỗ, chú ruột của bà Ngô Đ́nh Nhu là một trong những
người đầu tên bị đưa vào khám. Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm
không chấp nhận đảng phái hay cá nhân đối lập, cho dù là
những đảng phái có nhiều thành tích chống cọng như Đại Việt,
Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cũng trong thời gian này một sự kiện
xảy ra như một đ̣n nặng nề giáng thêm xuống chế độ Đệ Nhất
Cọng Ḥa là vụ tự tử của nhà cách mạng lăo thành, nhà văn
Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, cột trụ của Tự Lực Văn Đoàn. Ông
tự tử để tránh bị bắt, bị đưa ra ṭa Ông viết huyết thư
để lại, nói rằng chỉ có lịch sử mới phán xét ông, chứ không
phải chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Ông Phan Huy Quát đắc cử dân biểu
Quốc Hội Lập Hiến, nhưng bị loại v́ ”gian lận bầu cử”. Các
ông Phan Quang Đán, Nguyễn Trân cũng đắc cử dân biểu Quốc
Hội năm 1959 nhưng bị loại, v́ ”vi phạm luật bầu cử” ! Người
ta qui kết rằng nền Đệ Nhất Cọng Ḥa có tham vọng Công Giáo
hóa miền Nam Việt Nam. T́nh h́nh chính trị nội bộ Miền Nam
diễn tiến càng ngày càng căn thẳng và phức tạp cho đến một
lúc phải ”thay ngựa giữa ḍng”. Mà đă gọi là ngựa th́ không
thể nào tự chạy đến đích mà phải có người cầm cương.
Người cầm cương đă tiếp tục quyết định vận
mạng của Việt Nam dưới thời Đệ Nhị Cọng Ḥa, dùng viện trợ
quân sự và kinh tế ép buộc quân dân Miền Nam theo chính sách
chống cọng kiểu Mỹ. Ngày 8 tháng 3 năm 1965 Hoa Kỳ đổ bộ hai
tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến lên Đà Nẵng trước sự ngỡ ngàng
của thủ tướng Phan Huy Quát. Kể từ đó, Hoa Kỳ đă ”Mỹ Hóa”
cuộc chiến ở Việt Nam, trực tiếp tham chiến, có lúc quân số
lên đến nửa triệu. Mỗi lần gia tăng lực lượng tham chiến
theo nhu cầu chiến trường đều được quyết địn trước ở Hoa
Thịn Đốn. Chính phủ Việt Nam chỉ được thông báo lấy lệ. Sự
hiện diện của quân đội Hoa Kỳ và Đồng Minh ở Miền Nam Việt
Nam đă được Bắc Việt triệt để khai thác làm lợi khí tuyên
truyền ở trong nước và trên trường quốc tế, cáo buộc Mỹ xâm
lăng Việt Nam.
Mỹ có nhằm mục đích xâm lăng Việt Nam không
? Cho đền giữa thế kỷ 20, hầu hết các nước ở châu Á đều là
thuộc địa của Tây phương, trừ Nhật Bản va Thái Lan, trong đó
Phi Luật Tân là thuộc địa của Mỹ. Sau hơn ba thế kỷ bị
người Tây Ban Nha từ Mexico chiếm làm thuộc địa, Phi Luật
Tân được nhường lại cho Mỹ vào năm 1898 sau cuộc chiến tranh
Mỹ-Tây Ban Nha. Năm 1934 Phi Luật Tân được quyền tự trị nội
bộ rộng răi. V́ vậy mà trong thời kỳ bị Nhật chiếm đóng từ
1941 đến 1944, Phi Luật Tân đă sát cánh với Mỹ để chống
Nhật. Sau Đệ Nhị Thế Chiến Phi Luật Tân là nước được trao
trả độc lập sớm nhất, năm 1946. Nếu muốn chiếm thuộc địa th́
đă có sẵn một cựu thuộc địa, hà cớ chi Mỹ lại phiêu lưu dấn
thân vào cuộc chiến Việt Nam, gián tiếp tiếp tay cho quân
viễn chinh Pháp, rồi về sau trực tiếp tham chiến. Một cuộc
chiến Mỹ phải trả một giá quá đắt về tài sản, nhân mạng và
hệ lụy lâu dài của nó như một vết thương hằn sâu vào lịch sử
và xă hội Mỹ. ”Đế quốc Mỹ” tham chiến ở Việt Nam không phải
v́ ư đồ xâm lược, nhưng muốn biến Miền Nam Việt Nam thành
một tiền đồn chống cọng, sau khi Trung Cọng đă làm chủ lục
địa Trung Hoa vào năm 1949. Nhưng cách thức chống cọng kiểu
Mỹ, những quyết định gần như đơn phương của Hoa Thịnh Đốn về
chiến cuộc và sự hiện diện của quân đội Mỹ ở Miền Nam đă tạo
cho Miền Bắc một lợi thế tuyên truyền, không những trong
nước mà rộng khắp cả thế giới. Trong ṿng tay bảo bọc của
Mỹ, quân dân Miền Nam bị giới hạn ư nghĩa phát huy lập
trường quốc gia chống cọng sản xâm lăng.
Bắc Việt càng mở rộng chiến tranh, Phong
Trào Ḥa B́nh và Phản Chiến càng lan tràn khắp các quốc gia
Tây phương, kể cả ở Mỹ. Đâu đâu cũng đ̣i Mỹ rút quân khỏi
Việt Nam. Dần dà hoàn cảnh buộc Mỹ phải thay đổi lập trường
về cuộc chiến. Con đường đi đến ḥa b́nh là con đường Việt
Nam Cọng Ḥa bị cưỡng bức đến bờ vực thẳm với Hiệp Định
Paris Kư kết ngày 27 tháng 1 năm 1973. Hiệp định này qui
định những điều khoản vô cùng bất lợi cho Việt Nam Cọng Ḥa.
Chẳng hạn điều 5 qui định trong ṿng 60 ngày Hoa Kỳ và Đồng
Minh phải rút về nước mà chẳng đề cập ǵ đến sự hiện diện
của quân đội của Việt Nam Dân Chủ Cong Ḥa tại miền Nam, hay
điều 7 qui định một cách tổng quát là Việt Nam Cọng Ḥa và
Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam không được nhận quân đội, cố
vấn, kỹ thuật chiến tranh, khí giới đạn dược vào Miền Nam
Việt Nam…...Vị thế của Việt Nam Cọng Ḥa bị đặt ngang hàng
với một tổ chức ngoại vi trá h́nh của Bắc Việt. Cuộc chiến
được ”Việt Nam hóa”. Quân dân Miền Nam tiếp tục chống cọng
trong cái thế một vơ sĩ bị trói hai tay trên vơ đài. Tinh
hinh này lại được đối phương nhận thức rơ ràng hơn phía Mỹ
và việt Nam Cọng Ḥa. Trong ”Đại Thắng Mùa Xuân”, thượng
tướng Văn Tiến Dũng viết ;”Mỹ đă giảm viện trợ làm cho kế
hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng quân đội Sàigon không
thể thực hiện theo ư muốn. Hỏa lực sút giảm 60%, v́ thiếu
bom đạn; khả năng di động giảm 50% v́ thiếu máy bay, xe cộ
và nhiên liệu.” Có một sự kiện khó hiểu là mới đây, trên các
diễn đàn có phổ biến một phần Hôi Kư của tướng Vơ Nguyên
Giáp. Tướng Giáp viết rằng, năm 1972 nếu không lực Hoa Kỳ
tiếp tục cuộc oanh tạc Bắc Việt thêm vài ngày nữa, Hà Nội sẽ
đầu hàng. Chẳng lẽ một điều quan trọng như vậy mà CIA không
nắm bắt được để Hoa Kỳ phải ḥa đàm trong thế thua thiệt về
Hiệp Định Paris, nguyên nhân sự sụp đổ của Miền Nam Việt
Nam.
Nói lên những chuyện ai cũng biết để minh
thị một điều: Trong thế phân lập Quốc-Cọng, sự chọn lựa lập
trường quốc gia không phải là không trả giá. Cứ nhắn mắt mà
chống cọng theo kiểu Mỹ, theo ông Ngô Đ́nh Diệm, theo các
tướng lảnh mà có người sớm đánh tối đầu gây cho ḿnh cái cảm
tưởng có sự mất mát một phần khí tiết của kẻ tự nguyện dấn
thân
Chạy giặc và ”Chạy giặc”. Lại ở hay
đi ?
Dòng ”cử tri
bỏ phiếu bằng chân” như những làn sóng cuồn cuộn trên
quốc lộ một xuôi về phía Nam từ B́nh Định, Phú Yên, từ các
tỉnh Cao Nguyên đă được lệnh ”di tản chiến thuật” đổ về miền
duyên hải. Đến Nha Trang như một vị trí an toan đầu tiên,
trường nào trống là họ tấp vào trú tạm. Chính quyền Khánh
Ḥa-Nha Trang đă ra lệnh cho ty Giao Dục và Thanh Niên thiết
lập ba trại tiếp cư tại ba trường Trung Học lớn là Vơ Tánh,
Nữ Trung Học va Kỹ Thuật. Nhưng chỉ trong hai ngày số trại
tiếp cư lên đến 27. Nhiệm vụ điều hành các trại tiếp cư do
Ty Giáo Dục đảm nhiệm với sự yểm trợ của Ty Xă Hội, Y Tế,
Cảnh Sát Quốc Gia và Pḥng Truyền Tin tỉnh. Việc điều hành
gặp vài trở ngại. Thứ nhất, trở ngại nhân sự. Một số giáo
chức đă tự động rời nhiệm sở, dù có lệnh công chức phải ứng
trực 100%. Số c̣n lại phải làm ngày làm đêm mà thiếu người
để luân phiên; 24/24 giờ giấc nào cũng có người nhập trại,
phải cập nhật danh sách để chuyển nhu cầu cho ty Xă Hội và Y
Tế. Thứ hai, số người nhập trại rất phức tạp. thường dân có,
công chức có, quân nhân với cả đoàn quân xa với đầy đủ vũ
khí và gia đ́nh cũng có. Anh em quân nhân nóng lòng với
chuyện gạo cơm, mắm muối, chiếu chăn cho gia đ́nh nên gây
trở ngại không ít cho ban điều hành mà cảnh sát không dám
can thiệp. Tôi đă tŕnh bày với các trung tâm trưởng rằng,
mặc dầu có lệnh công chức phải ứng trực 100%, nhưng chúng ta
gánh vác việc này là do ḷng tự nguyện hơn là một trách
nhiệm bị ràng buộc có tính hành chánh. Tuy vậy, từ nay chúng
ta hăy nghe ngóng, quan sát để có một phản ứng kịp thời
thích hợp cho gia đ́nh.
Một cuộc chạy giặc lạ lùng, chỉ thấy chạy và
chạy, khộng thấy bóng dáng giặc cũng không nghe tiếng súng.
Liên lạc qua điện thoại từng ngày từng giờ được biết các
thành phố lớn ở phía Bắc lần lược bỏ ngỏ; Huế rồi Đà Nẵng,
đến Qui Nhỏn, Tuy Ḥa…Đối phương không đánh mà thắng, thắng
không kịp. Những thành phố bỏ ngỏ không dám vào, phải có
”cách mạng 30-4” đi rước mới vào tiếp nhận. Đánh như thế
mà Mỹ cũng cút, ngụy cũng nhào mới lạ!
Chiều ngày 31 tháng 3, tôi họp với 27
trung tâm trưởng tiếp cư. Sau khi nắm được tình hình
chung và nhu cầu thực tế, tôi điện thoại cho hai cơ
quan yểm trợ; chẳng có trả lời. Đến thẳng dinh tỉnh
trưởng, tôi thấy cuộc nói chuyện giữa đại tá tỉnh
trưởng với hai ông phó tỉnh, phó thị cùng năm ba
trưởng cơ quan rất căn. Nghe tôi báo cáo tình hình,
đại tá tỉnh trưởng nói : Kể từ giờ phút này, không
bàn đến công vụ nữa. Mặt trận Khánh Dương đã vỡ,
muộn lắm là chiều mai một sư đoàn pháo VC sẽ uy
hiếp Nha Trang. Sáng mai các anh đến đậy, tôi đâu caca
anh đó. Tôi nghe mà rụng rời tay chân. Với tầm hiểu
biết của chín tuần huấn luyện quân sự, tôi nghĩ một
sư đoàn pháo với cơ man nào là súng cối, đại bác
sẽ dập vào Nha Trang thỉ còn chi là thành phố và
dân chúng ! Vả lai, tôi đã động viên anh em cố gắng
làm việc vài ba ngày nữa, vì đã nghe các trại tiếp
sẽ chuyển vào Phan Rang hay Phan Thiết. Chẳng lẽ bây
giờ bỏ mặc anh em, âm thầm chạy tháo thân một mình
Để tránh rắc rối với quân cảnh và
cảnh sát trong giờ giới nghiêm, tôi mượn xe và tài
xế của đại tá tỉnh trưởng chạy quanh giải quyết
một số công việc khẩn. Tiếp xúc với các trung tâm trưởng
hay người trực qua điện thoại hoặc qua máy truyền tin, tôi
chỉ nói ngắn gọn: Tôi không có th́ giờ giải thích dài ḍng.
Kể từ giờ phút này, anh em bỏ trống cửa kho, để mọi sổ sách
liên quan đến trung tâm trên bàn làm việc rồi lặng lẻ về để
lo việc nhà. Giả từ và chúc lành cho nhau mà không cầm được
nước mắt. Ngày mai sẽ ra sao trong t́nh trạng nhiểu nhương
sắp tới! Ngày hôm sau, 1 tháng 4 năm 1975, tôi cùng bốn gia
đ́nh đồng nghiệp chạy về phía Nam. Đường bị chận ở B́nh
Tuy, chúng tôi bị kẹt ba ngày ở Phan Thiết mới thuê được ghe
đi Vũng Tàu và đến Sài G̣n chiều ngày 5-4-1975.
Từ trung tuần tháng tư, không khí
Sàigon sôi động lên từng giờ vì tình hình chính trị
căn thẳng bên trong và áp lực quân sự nặng nề của
Bắc quân từ bên ngoài. Các Ty Giáo Dục chạy giặc
tập trung làm việc lại ở Sài-gòn, chủ yếu là làm
lương tháng tư cho giáo chức và nhân viên chạy loạn..
Nhưng vì thủ tục rườm rà của Kiểm Soát Ước Chi nên
chẳng có ai lảnh được tháng lương cuối cùng trong
đời làm việc của mình. Làm việc mà tai mắt để
ngoài đường, quan sát và nghe ngóng từ Dinh Độc Lập
qua trụ sở Quốc Hội, từ Tòa Dại Sứ Mỹ đến phi
trường Tân Sơn Nhất…Đâu đâu cũng nghe bàn tán chuyện
ra đi. Có nhiều thông tin trái ngược nhau, chẳng biết
tin vào đâu.
Trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, một sĩ
quan cấp tá, nghe nói đã từng làm việc với thiếu
tướng Nguyễn Hòa Hiệp đặt cọc mua một cái nhà gần
phi trường, tỏ ra nắm vững thông tin đã nói với tôi :
Chẳng chạy đi đâu hết, cậu để mà xem. Đồng thời nghe
phong thanh giải pháp Merillon. Theo đó, Bắc Việt không
tiến chiếm toàn cỏi Miền Nam mà duy trì một phần
đất cho hai phe: Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và
Việt Nam Cọng Hòa! Mới gần đây, trên mạn internet có
phổ biến một đoạn băng, ghi âm hồi ký của Đại Sứ
Pháp Merillon viết về giai đoạn cuối cùng của Việt
Nam Cọng Hòa. Trong đó, ông Đại Sứ cho biết đã có
sự thỏa thuận với Chu Ân Lai và Mặt Trận Giải Phóng
Miền Nam về giải pháp một ”Miền Nam Thu Hẹp”. Và ông
qui kết chính tướng Dương Văn Minh đã làm hỏng kế
hoạch này, dồng thời ông cho rằng tướng Minh đã giết
chết hai nền Cọng Hòa ở Miền Nam.
Lấy sự hiểu biết tầm thường như của
tôi để luận về thời cuộc cũng thấy trong tình thế
”một tuần ba vua” của Miền Nam vào cuối tháng tư 75
thì đời nào con cáo già Lê Dức Thọ lại không thừa
thắng xông lên mà lại chấp nhận giải pháp Merillon.
Vả lại, Bắc Việt nặn ra Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam chỉ là nhu cầu giai đoạn chứ đâu có xem chính
thức là một thực thể chính trị. Bỏ qua một bên lối
phê phán của phe này đối với cánh khác. Thử nghiêm
chỉnh đặt một vấn đề: Khuôn mặt nào trong số chính
khách Miền Nam có thể cứu vản đất nước trong lúc
Bắc Việt đang ở trong thế gần như ”bất chiến tự
nhiên thành”? Tôi không có ý muốn bênh vực hay phê
phán tướng Minh, chỉ hơi ngạc nhiên một chút là ông
tin vào đâu để đòi cho được cụ Trần Văn Hương trao
quyền tổng thống, khi có thể đếm được từng ngày
ngồi trên ghế này. Phải chăng ông muốn đóng vai một
Petain Việt Nam?
Ngày 24 tháng 4 năm 1975 tại nhà anh Tôn
Thất Kiên có một buổi họp mặt khá trưởng giả với
rượu Tây bên bàn mạc chược. Ngoài chủ nhà còn có
các anh Ngô Nẩm, Trương Ân, Đặng Canh Thìn, một bác
sĩ quân y tôi không nhớ tên và tôi. Chúng tôi có bàn
đến chuyện đi hay ở lại, và nếu đi thì đi như thế
nào. Mỗi người một ý. Tôi nêu lên một ý kiến dứt
khoát, nếu còn một phần đất nào nằm dưới quyền
kiểm soát của Việt Nam Cọng Hòa, tôi sẽ chạy đến
đó. Còn không, tôi sẽ chấp nhận thực tế. Tôi không
”chống Mỹ cứu nước”, nhưng cảm thấy tủi nhục khi
Quốc Hội Mỹ đặt Miền Nam Việt Nam lên bàn mổ xẻ để
xét quân viện cứu nguy khẩn cấp. Miền Nam đã trở
thành một món hàng ế ẩm rẻ tiền. Từ quân viện 1,1
tỉ do tổng thống Nixon hứa hẹn trước khi từ chức,
bị cắt xén còn lại 700 triệu, khấu trừ 400 triệu
tiêu thâm vào tài khoá năm trước. 300 triệu để cứu
nguy Miền Nam cuối cùng cũng không có. Chỉ có một
ngân khoản để đưa một số người Việt Nam làm việc cho
Mỹ ra khỏi nước, tránh bị cọng sản trả thù. Sau
này, đọc các tác phẩm của tiến sĩ Nguyễn tiến
Hưng, thấy cám cảnh cho thân phận một đặc sứ của
tổng thống Thiệu bị rẻ rúng như thế nào khi ”đi ăn
mày viện trợ” Ba mươi bốn năm về trước, 1,1 tỉ đô-la
để cứu nguy một đất nước không tìm đâu ra khi đồng
minh đã quay lưng lại. Ngày nay, mổi năm đô la đổ vào
Việt Nam bảy tám tỉ để làm giàu cho những người
ngồi xổm trên quyền lực!
Tôi đã đặt vấn đề rõ ràng: Anh em
chúng ta gồm có luật sư, bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, có
thể xem là những thành phần trí thức của Miền Nam.
Ai trong chúng ta đã làm việc cho Mỹ để được bốc đi?
Hoặc bằng một cách nào đó qua được Mỹ, nếu một
phóng viên hỏi cắc cớ, tại sao những trí thức như
các anh còn chạy theo Mỹ khi chiến tranh đã kết thúc
thì biết làm sao mà trả lời. Và nói cho ngay tình,
tôi có muốn chạy cũng không phải dễ. Vợ con đùm đề,
chẳng thế chẳng thần biết níu vào lưng ai.
Cái giá không muốn ”chạy giặc” hay
không ”chạy giặc” được là sáu năm tù, chẳng học tập
cải tạo gì được với ông trại phó không biết chữ và
đám lau chau công an mà tù khi nào cũng ” thưa, trình
cán bộ”. Còn cải tạo lao động thì khá tốt, tù
khổ sai mà không lao động tốt thì còn chi là vinh
quang! Ra tù với giấy ”tạm tha” và lệnh quản chế
một năm. Điều này có nghĩa là ra khỏi nơi cư trú
phải có giấy phép đặc biệt, mỗi sáng thứ hai phải
đến đồn công an trình sổ ghi chép mọi sự sinh hoạt
hằng ngày trong tuần. Con cái học hành bị trở ngại
vì lí lịch ngụy quyền của cha. Những đứa học cấp
ba, đậu được ”tú tài bác Hồ”, dù có thi đậu vào
đại học cũng không được địa phương cắt hộ khẩu.
Những đứa học xong cấp hai không được thi lên cấp ba.
Trong nhà lớn nhỏ đều lao vào lao động để mưu sinh.
Mới gần năm chục, tôi còn đủ sức lao động nhưng không
biết xoay xở sinh kế bằng đường nào. Chẳng xin phép
chính quyền địa phương, viết tấm bảng để trước nhà
quảng cáo mở ẩu một lớp dạy tư nhưng không có học
trò. Ai dám cho con đến học với một người mới ra
tù? Vả lại, vào thời buổi ấy học trò thường theo
học tư với thầy dạy ở trường để được điểm cao ! Đã
tính đi đạp xích lô, nhưng nhiều anh em cựu đồng
nghiệp tận tình khuyên can: cái mặt ông mà đạp xích
lô ở Nha Trang là bôi bác chế độ, có mà lại vào tù
sớm. Tính lui tính tới không còn con đường nào ngoài
con đường Đức Trần Hưng Đạo đứng trước căn cứ hải
quân đã chỉ : ra khơi.
Ngả tư sau cùng. Quê hương là đâu
?
Vơ vét sạch sành sanh hết của cải
trong nhà, kể cả bán lô đất 1.050m2 mua trong khuôn
viên của bác Thái Văn Cư, thân phụ của đồng nghiệp
Thái Hồng Ngọc bên Đồng Đế để dưỡng già về sau,
cùng với sự giúp đỡ của bạn bè, tôi và đứa con
trai đầu lòng ra đi. Chuyến đi được sắp đặt cho bốn
gia đình và thân nhân. Sau sáu ngày đêm lênh đênh trên
biển cả chúng tôi cặp bờ Phi Luật Tân vào ngày
31-5-1982. May mắn thay, chuyến hải hành xuôi chèo mát
mái như một cuộc đi dạo trên sông!
-
Tại sao anh xin định cư ở Mỹ? Một nhân viên
phái đoàn phỏng vấn Mỹ hỏi tôi ở trại tị nạn
Palawan.
-
Tôi có nhiều bằng hữu ở khắp nước Mỹ. Tôi đã
đến Mỹ hai lần và biết qua nước Mỹ. Tôi và con tôi
có thể nói được ít nhiều tiếng Anh sẽ ít gặp trở
ngại khi làm lại cuộc đời. Tôi trả lời.
-
Anh có muốn bảo lảnh gia đình còn lại ở việt
Nam và đứa con đang định cư ở Dan Mạch sang Mỹ không ?
-
Đó là đều mong muốn duy nhất của tôi.
-
Anh rất thành thật. Nhiều người tị nạn không
muốn tiết lộ có thân nhân định cư ở nước khác, sợ
bị Mỹ từ chối.
-
Tôi không thuộc diện chối bỏ một đứa con để
được đi Mỹ.
-
Dù anh có một đứa con đang định cư ở Đan Mạch,
nhưng anh đã ở tù sáu năm và trước kia đã giữ một
chức vụ điều khiển nên chúng tôi chấp thuận cho anh
và con anh đi Mỹ.
Hai ngày sau, anh Mỹ này gọi tôi lên văn
phòng và nói: Xin lỗi anh, tôi đã quyết định lầm.
Nếu Đan Mạch từ chối, chúng tôi sẽ chấp thuận cho
cha con anh đi Mỹ. Tái ông thất mã, biết đâu là may
đâu là rủi. Tôi hoàn toàn không thất vọng bị Mỹ từ
chối vì có một đứa con vượt biên năm 1980, được tàu
Đan Mạch vớt và đang định cư tại nước này. Một
người bạn trong trại tị nạn giới thiệu một em học
trò cũ ở trường Nguyễn Huệ Tuy Hòa có cùng họ
Nguyễn để nhờ bảo lảnh sang Úc. Em này sốt sắn, yêu
cầu tôi cung cấp một số dử kiện để lập hồ sơ.
Một buổi chiều thứ sáu trung tuần
thàng 12 năm 1982 cô Janine, đại diện Cao Ủy Tị Nạn
tại trại Palawan thông báo chúng tôi có giấy đi Đan
Mạch. Tôi cho cô ấy biết là chúng tôi có xin định cư
tại Úc, chẳng biết kết quả ra sao. Tôi làm việc với
Hội Đồng Đại Diện trại tị nạn nên có chút quen
biết riêng. Cô ấy sốt sắn hứa sẽ liên lạc với tòa
Đại Sứ Úc vào sáng thứ hai để hỏi tin tức. Bất
ngờ ngày chủ nhật một đại diện tòa Đại Sứ Úc ớ
Phi Luật Tân đến trại, mang theo danh sách 86 người
được Úc chấp thuận cho định cư, trong đó có hai cha
con tôi. Cô Janine báo ngay cho tôi và nói: các anh là
những người rất may mắn. Nhiều thuyền nhân ở trại
bốn năm năm chưa được nước nào nhận. Trong lúc các
anh chỉ sáu tháng mà được hai nước nhận cho tái
định cư. Chúc mừng ! Nếu muốn đi Úc phải ở lại
trại thêm hai tháng, chờ khám sức khỏe. Còn muốn đi
Đan Mạch, chậm nhất là ngày mai thứ hai 14 tháng 12
phải trả lời để chúng tôi thu xếp cho các anh rời
Palawan ngày hôm sau. Các anh sẽ lên đường đi Đan Mạch
ngày thứ năm 17 tháng 12
Đường về Việt Nam đã bị bít lối. Vào
đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, kẻ ra đi bị qui
kết là phản bội, còn mong chi ngày trở về. Câu tục
ngữ ”ghét của nào Trời trao của đó” không đúng với
tôi trong trưởng hợp này. Giận và ghét đồng minh Mỹ
nhưng đâu được đi Mỹ. Ngả tư đường chỉ còn hai hướng:
Đan Mạch ở Bắc Bán cầu và Úc ở Nam bán cầu. Tôi
không đưa ra một quyết định nào, chi phân tích sự lợi
hại cho bản thân và gia đình của hai hướng đi với
con. Đi Úc, có chút vốn liếng ngôn ngữ nhưng gia đình
chia ra ba nơi. Đi Đan Mạch, tuy gia đình chỉ còn hai
nơi nhưng gặp trở ngại lớn là phải bắt đầu học Đan
ngữ từ a,b,c…Một cô gái Anh làm việc thiện nguyện ở
trại tị nạn nói, cô ta từng ở Đan Mạch ba tháng mà
không phát âm chính xác được từ ØL (có nghĩa là
bia). Thêm vào đó, một người quen đang định cư tại Đan
Mạch viết thư thăm cho biết, ở vương quốc này mổi năm
có 12 tháng mùa đông. Thời gian còn lại là mùa hè!
Trong tình trạng phân vân chưa quyết thì
sáng thứ hai 14 tháng 12, ngày chúng tôi phải trả
lời cô Janine đi hay ở thì nhận được thư của đứa con
từ Đan Mạch. Nó than thở cảm thấy rất cô đơn. Một
số ít ỏi người Việt Nam định cư tại thành phố
Odense hoặc có gia đình hay có quan hệ với nhau bằng
cách này hay cách khác. Còn nó, tứ cố vô thân nên
rất mong tôi và anh nó sớm sang Đan Mạch.Tôi để cho
con quyết định. Và tình cảm gia đình vượt lên trên
mọi thứ. Hội Đồng Tị Nạn không thông báo cho đứa con
ỏ Đan Mạch biết ngày giờ chúng tôi đến.Về sau mới
vở lẽ, nhiều thuyền nhân kinh hãi khi nghe tin được
Đan Mạch nhận cho tái định cư. Họ cứ tưởng mổi năm
nước này có sáu tháng ngày và sáu tháng đêm! Vì
vậy mà đến giờ lên đường là họ trốn. Thân nhân ở
Đan Mạch được thông báo ra phi trường đón người nhà
nhưng chẳng có ai khi máy bay đến. Mấy năm về sau, khi
đã mọc thêm chút lông chút cánh, tôi làm việc cho
Hội Đồng Tị Nạn địa phương. Một ngày mùa đông rét
buốt, tôi có bổn phận ra phi trường đón hai thanh niên
và một phụ nữ sang từ trại tị nạn Pula Bidong. Rút
kinh nghiệm bản thân, tôi yêu cầu nhân viên lái xe đi
đón mang theo ba cái mền. Quả nhiên ba người tị nạn
xuống máy bay co ro cúm rúm với áo quần mùa hè
phong phanh. Trên đường về nơi tạm cư, thấy đất trời
mông mênh một màu trắng xóa, cây cối giơ sườn điểm
những hoa tuyết đầu cành, cô gái giọng Bắc thốt lên:
Giời ơi! Còn kinh khủng hơn vùng kinh tế mới. Cây cối
không mọc lá nỗi thì còn làm ăn gì được. Một trong
hai thanh niên nói nhỏ với tôi: Người ta đi Mỹ đi Úc,
cháu bị đi Đan Mạch, không dám báo về nhà, sợ gia
đình mặc cảm !
Ở Đan Mạch mà nói tốt cho Đan Mạch
chẳng khác nào mèo khen mèo dài đuôi. Vương quốc nhỏ
bé với 5,3 triệu dân ở Bắc Âu này có một hệ thống
an sinh xã hội tuyệt vời. Giáo dục và y tế miển
phí. Từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi từ giả cuộc
đời lúc nào cũng được nhà nước quan tâm bằng cách
này hay cách khác. Đan Mạch còn là một nước thật
sự dân chủ pháp trị, ”pháp bất vị ông to bà lớn”.
Mấy tháng trước đây bà bộ trưởng tư pháp lái xe
quẹo phải, tông một người đi xe đạp chạy thẳng. Cảnh
sát lập biên bản, tịch thu bằng lái xe. Đó là một
trong rất nhiều thí dụ.
Nếu nói đất lành chim đậu thì Đan
Mạch quả là đất quá lành cho chim đậu. Tính đến
nay, con chim thiên di lạc đàn đã gởi thân nơi đây hơn
26 năm, thời gian dài hơn bất cứ ở một nơi nào trên
quê hương của nó. Tôi đã mang quốc tịch Đan Mạch. Đan
Mạch đải ngộ tôi trong công ăn việc làm, cho phép
toàn bộ gia đình đoàn tu, cưu mang tôi trong tuổi già.
Tôi dược đối xử ngang hàng với người Đan về nhiều
phương diện. Nhưng tôi chưa cảm nhận được đất nước
này là ”quê hương thứ hai” của mình. Những thứ
tạo-ra-tôi, từ hình hài, ngôn ngữ, phong tục tập
quán, gạo cơm, mắm muối… không phát xuất từ đây. Là
công dân Đan Mạch nhưng tôi lại băn khoăn, khắc khoải
với chuyện Hoàng Sa, Trường Sa đã rơi vào tay giặc,
ải Nam Quan, thác Bản Giốc đã đổi chủ thay ngôi…Vì
tôi là một người Việt Nam ư ? Người Việt mà về quê
phải xin hộ chiếu nhập cảnh, bị chính người Việt
đối xử như du khách ngoại quốc ! Tôi đã trở lại
Việt Nam mấy lần, nhưng không biết dùng từ gì cho
chính xác: ”Về-Việt-Nàm” hay ”Đi-Việt-Nam”. Về là
về nhà, về nơi chôn nhau cắt rún của mình, về quê
hương…Nhưng trong hoàn cảnh người Việt tha phương, nói
”Về Việt Nam” người ta có cho là mình nhìn lạm hay
không. Còn nói ”Đi Việt Nàm” thì có vẻ vô tình quá,
sao đành. Rốt cuộc rồi những ngả ba, ngả tư đường
vẫn còn tồn tại trên địa lí thực tế hay trong tâm
tư.
Đôi lời tâm tình.
Đường đời tôi trải qua trên sáu mươi năm
kể từ ngày ra khỏi vòng tay bảo bọc của song thân,
hoa gấm cũng có mà chông gai cũng nhiều. Những hướng
đi mà tôi đã chọn hay do hoàn cảnh đưa đẩy phần
nhiều ”tiền hung hậu kiết”. Đôi khi có một vaì thành
tựu hoặc may mắn bất ngờ mà tôi nghĩ sức người khó
có thể đạt được, và hình như có sự an bài của một
sức mạnh siêu nhiên. May mắn cho tôi là đã chọn nghề
dạy học và có cơ duyên tiếp cận với Đạo Phật; hai
điều ràng buộc tôi vào cái khung Đạo Lý và Đạo Đức
Nghề Nghiệp. Thiếu những ràng buộc này, chẳng biết
những tánh xấu như tham, giận, kiêu căng… sẽ đẩy tôi
đến những ngõ cụt nào trên đường đời Tôi đã gặt
hái được những thành quả gieo trồng từ kiếp trước
chăng hay đã vay nợ trong kiếp sống hiện tiền ?
Nghĩ cho cùng, cho dù đường đời có
vạn nẽo, cho dù bất cứ đang ở đâu, ai ai cũng chỉ
có một ”lối về” với hai ngả : Thiên Đường/Cỏi Tịnh
Độ hay Địa Ngục, tôi không lo, vì cả hai nơi tôi đều
có bằng hữu. Lo là lo ít nhiều phải thanh thỏa
những món nợ đời để được an lạc trong kiếp sống
hiện tiền.
Nguyễn Đức Giang
|