WWW CHUYỂN LUÂN

Bài trong tháng

CHUYỂN LUÂN NĂM 2009

090228 Cháy
09304 Kẻ đánh lừa ba chế độ
Ai đă "nối giáo cho giặc"?
Alexandre Rhodes?!
Anthony Darlic: Ừa nhỉ, nếu ai cũng ốm cả...?
Anthony Darlic_Oba ma đă xuống tay
Anthony Darlic_Ăn giày
Bye bye giấc mộng con 2009
Bài đă đăng năm 2009
Bông Hồng ấy ngày xưa
Bệnh viện Hải thượng_Blog Nguyễn Triều: Phím
Bệnh viện Phật giáo_An ninh TD
Bệnh viện Phật giáo_An ninh TD 2
Bệnh viện Phật giáo_Báo Giác ngộ
Bệnh viện Phật giáo_Báo Giác ngộ 2
Bệnh viện Phật giáo_Báo khác
Bệnh viện Phật giáo_CATPHCM 2
Bệnh viện Phật giáo_Chuyện cá tháng Tư"
Bệnh viện Phật giáo_Chương tŕnh Hội thảo quốc tế Phật giáo
Bệnh viện Phật giáo_Cà khịa
Bệnh viện Phật giáo_Công an TP 1
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ 3
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ 4
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ 4_Minh Tâm làm từ thiện
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ Phỏng vấn bà Nhu Ḥa
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ: Lá thư biên tập
Bệnh viện Phật giáo_Nguyễn Thiếu Văn bào chữa cho Thích Minh Tâm
Bệnh viện Phật giáo_Nguyễn Thiếu Văn cho DIC sập bẫy
Bệnh viện Phật giáo_Nguyễn Thiếu Văn/Thích Minh Tâm
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao đông 1
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao đông 2
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao đông 3
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao đông 4
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao đông 5
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao động 6
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao động 7
Bệnh viện Phật giáo_Pháp Luật
Bệnh viện Phật giáo_Pháp Luật 2
Bệnh viện Phật giáo_Pháp Luật 3
Bệnh viện Phật giáo_Pháp luật 4
Bệnh viện Phật giáo_Pháp luật 5
Bệnh viện Phật giáo_Pháp luật 6
Bệnh viện Phật giáo_Pháp luật 6
Bệnh viện Phật giáo_Pháp luật 7
Bệnh viện Phật giáo_Phỏng vấn bà Nhu Ḥa
Bệnh viện Phật giáo_SGGP 2
Bệnh viện Phật giáo_TBKTSG
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 1_ENG
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 2
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 2_ENG
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 3
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 4
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 5
Bệnh viện Phật giáo_Tin sưu tầm các báo
Bệnh viện Phật giáo_Tiến sĩ thật hay giả?
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ 2
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ 3
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ 4
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ 6
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ 7
Bệnh viện Phật giáo_Tư cách học thuật và tư tưởng chính trị của Nguyễn Thiếu Văn-Thích Minh Tâm
Bệnh viện Phật giáo_VNEpress 2
Bệnh viện Phật giáo_VNExpress
Bệnh viện Phật giáo_VNExpress 3
Cho nước Mỹ và cho con người
Chuyện buồn đất nước
Chuyện hết ư năm 2008
Chân dung tên đại bịp_Quảng Trí
C̣n điều ǵ Obama chưa nói hết
Dự án Hải thượng Y viện và Quả lựu đạn cuối cùng
Giấc mơ chất lượng Việt
Hoàng Nguyên Nhuận: Người chết hai lần?
Hoàng Đông Tà_Phật cũng ngán Hoà thượng Tiến sĩ Barrister
Hoàng Đông Tà_Phật cũng ngán Hoà thượng Tiến sĩ Barrister
Hoàng Đông Tà_Phật cũng ngán Hoà thượng Tiến sĩ Barrister
Huỳnh Bất Hoặc: Nỗi buồn đối lập
Huỳnh Bất Hoặc: Tới luôn bác tài
HÀNH TR̀NH  HÓA GIẢI CỦA OBAMA
Hải thượng Y viện_Thanh niên 6
Hồng Quang_Bang giao với Vatican: Thách thức sinh tử
Khóc anh Phạm Thế Mỹ
Liên Thành và biến động miền Trung
Lăng ba vi bộ với Kissinger
Minh Trầm_Kư ức về Phạm Thế Mỹ
Mạt cưa mướp đắng
Mắt nhắm, mắt mở
Mặt trời vẫn mọc
Nguyễn Hữu Liêm_Trí tuệ Garcia
Nguyễn Thiếu Văn chống phá nhà nước Việt Nam
Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ qua đời_Thanhnien
Những ngả ba đường
Obama là Phật tử
Obama, cho đến khi núi lở non ṃn?
Phật Giáo dưới góc độ Hiện đại và Hậu hiện đại
Phật giáo được công nhận là tôn giáo vĩ đại nhất thế giới
QUO VADIS?
Thư gửi anh Cao Huy Thuần (nhân đọc Thấy Phật)
Ton giáo dưới mắt người vô chính phủ
Trắng trợn
TU và TÙ - TU TẬP và TẬP TU
Tuần lễ Văn hoá Phật Giáo
Tâm hiện đại
Tản mạn chuyện giữ ghế
VNN_Về thăm làng sư giả
Vài kỷ niệm với Phạm Thế Mỹ
Vũ Ngự Chiêu_TQ chiếm đất Việt nam
Vấn đề tài liệu Sử
Vấn đề tài liệu Sử_Phần 2 & 3
Đôi điều với Liên Thành về Biến động miền Trung
Đôi điều với Ma giữa ban ngày
Ảnh hưởng của Phong trào PG tranh đấu miền Trung

Những  Ngả  Ba  Đường

Nguyễn Đức Giang  

Tuổi  thơ  và  thời  cuộc. 

Vive  l´  Empereur  et  vive  le  Maréchal !  Vive  l´ Empereur  et  vive  le  Maréchal  !....Học  sinh  lớp  Sơ  Đẳng  niên  khoá  1943-1944 trường Sơ Học An Nông hai  tay  phất  hai  lá  cờ,  một  lá  cờ  Long Tỉnh (nền vàng có một sọc đỏ ở giữa, chỉ dùng ở Bắc và Trung Kỳ. Nam Kỳ thuộc đia dùng cờ Tam Tài của Pháp) và  một  lá Tam  Tài, hô  theo  cô  giáo  khi  hai  chiếc  xe  hơi  chạy  qua  cầu.  Phía  lề  cầu  đối  diện,  hương  chức  của  xă  và  một  số  bô  lăo  chắp  tay  vái  dài  về  phía  hai  chiếc  xe.  Tuy  có  giảm  tốc  độ,  nhưng  chỉ  một  phút  là  xe  vượt  qua  khỏi  cầu,  hướng  về  Huế.  Nghe  nói  Hoàng  Đế  ngự  về  kinh  sau  khi  nghỉ  mát  ở  Bạch  Mă. 

Mặt  trời  lên  đă  cao,  sức  nắng  gay  gắt  lên  cao  dần  theo  mặt  trời.  Đám  học  tṛ  con  trai  đă  cảm  thấy  ngứa  ngáy  dưới  đôi  chân  trần,  nh́n  ḍng  nước  trong  xanh  tươi  mát  lững  lờ  trôi  qua  cầu  một  cách  mời  gọi  mà  thèm  thuồng.  Giá  được  nhảy  ùm  xuống  nước…!   Đối  với  đám  con  trai  chín  mười  tuổi  hiếu  động  được  tham  gia  vào  những  chuyện  là  lạ  là  lấy  làm  thích  thú,  chứ  có  biết  chi  đến  l´  Empereur  và  le  Maréchal.  Việc  nghênh  đón  chỉ  diễn  ra  chừng  một  phút  nhưng  học  sinh  lớp  Sơ  Đẳng,  lớp  lớn  nhất  của  trường  Sơ  Học  An  Nông  đă  chuẩn bị  trước  mấy  ngày,  nào  làm  hai  thứ  cờ,  nào  tập  hô  khẩu  hiệu.  Cô  giáo  có  giải  thích  Empereur  là  ai,  Maréchal  là  ai,  nhưng  trẻ  con  nghe  tai  này  ra  tai  kia.  Đến  như  Hoàng  Đế  Bảo  Đại  cũng  c̣n  mơ  hồ  với  chúng,  huống  chi   thống  chế  Pétain  xa  lạ  của  chính  phủ  Pháp  ở  Vichy xa lắc xa lơ  thời  Đức  chiếm  đóng.   

Cũng  trong  cùng niên  khoá,  học  sinh  học  một  bài  học  thuộc  ḷng  không  nằm  trong  Quốc  Văn  Giáo  Khoa  Thư  Lớp  Sơ  Đẳng  như  thường  lệ,  chẳng  hạn :  ”Xuân  đi  học  coi  người  hớn  hở,  Gặp  cậu  Thu  đi  ở  giữa  đường….”,  mà : 

Hởi  anh  em  bạn  ṭng  chinh !

V́  sao  nước  Pháp  hưng  binh  phen  này ?

Chỉ  v́  người  Đức  cố  gây

Muốn  làm  bá  chủ  Đông  Tây  một  ḿnh.

Bấy  lâu  sinh  sự  hoành  hành , 

Chiếm  xong  Áo  Tiệp  lại  giành  Ba  Lan.

Kể  bao  xiết  nỗi  hung  tàn, 

Giết  người  cướp  của  dă  man  vô  cùng.

Pháp  Anh  hai  nước  một  ḷng.

Quyết  pḥ  công  lư  chẳng  dung  cường  quyền.

Đồng  minh  quân  đội  kết  liền,

Với  quân  thuộc  địa  khắp  miền  gần  xa, 

Binh  hùng  tướng  dũng  kéo  ra

Dưới  cờ  Đại  Pháp  thật  là  rất  nghiêm…..   

Hẳn  tác  giả  của  bài  thơ  là  một  người  Việt  lo  lắng  cho nước Pháp bị  Đức  xâm  lăng,  kêu  gọi  binh  sĩ  nước thuộc  địa  góp  máu  xương, công sức  để  bảo  vệ  mẫu  quốc.  Học  sinh  lớp  Sơ  Đẳng  bấy  giờ  về  Sử  kư,  học  nhà  Đinh  và  nhà  Tiền  Lê. Tuy  có  học  địa  dư về xứ  thuộc  địa  Nam  Kỳ  và  hai  xứ  bảo  hộ  Bắc,  Trung  Kỳ  nhưng  chỉ  chú  trọng  đến  Trung  Kỳ  12  tỉnh  từ  Thanh  Hoá  đến  B́nh  Thuận.  Và  mỗi  một  tỉnh,  huyện  lại  chú  trọng  đến  địa  phương  của  ḿnh.  Học  là  một  việc  mà  hiểu  và  nhận  thức  là  một  việc  khác.  Đám  học  sinh  con  nít  có  ai  biết  Pháp,  Anh,  Áo,  Tiệp,  Ba  Lan…  ở  chỗ  mô  chỗ  tê  nào  đâu,  nói chi  đến  những  nghịch  lư  trong  nội  dung  bài  thơ.  Nạn  nhân  của  chính  sách  thuộc  địa  hà  khắc  Pháp  lại  phải  đáp  lời  kêu  gọi  “quyết  pḥ  công  lư  chẳng  dung  cường  quyền”  của  Pháp  để  diệt  trừ  những  kẻ  “giết  người  cướp  của  dă  man  vô  cùng” ! 

 Sau  lớp  Sơ  Đẳng (cours  élémentaire),  học  sinh  thi  yếu  lược.  Đậu  yếu  lược,  muốn  học  tiếp  phải  vượt  qua  kỳ  thi  tuyển  vào  lớp  nh́  nhất  niên (cours  moyen un),  học  tiếng  Tây  nhiều  hơn.  Bấy  giờ  có  đến  hai  lớp  nh́,  nh́  nhất  niên  và  nh́  nhị  niên (cours  moyen  deux). Học  sinh cả  huyện  thi  “càng-cua”  tranh  nhau  vào  một  lớp  nh́  trường  huyện.   

Tôi  theo  chân  những  đàn  anh  trong  xă  học  lớp  nh́  nhị  niên  và  lớp  nhất (cours  supérieur)  cuốc  bộ  8km  về  Truồi  học  lớp  nh́  nhất  niên,  niên  khoá  1944-1945  trường  An  Lương  Đông, thời thầy Hiệu Trưởng Trương Quang Phương.  Năm  1945  là  một  năm  nhiều  biến  động  chính  trị  đẩy  đất  nước  vào  những  khúc  quanh  lịch  sử  mà  hệ  luỵ  của  chúng  đă  ảnh  hưởng  sâu  đậm  đến   thời  cuộc  qua  nhiều  giai  đoạn  suốt  hậu  bán  thế  kỷ  thứ  20  cho  đến  ngày  nay. 

Sáng  ngày  10-3-1945,  trên  đường  đi  học,  khi  đến  cầu  Truồi,  một  cảnh  tượng  khác  thường  diễn  ra.  Cầu  Truồi  vừa  dùng  cho  xe  lửa  vừa  cho  xe  hơi.  Trên  cầu  xuất  hiện  lính  Nhật  trong  tư  thế  tác  chiến.  Hai  đầu  cầu   đắp  ụ  có  lính  gác.  Qua  lại  trên  cầu  bị  cấm.  Chuyện  ǵ  đă  xảy  ra  trong  đêm ?  Những  người  lớn  hiếu  kỳ  tụ  tập  ở  đầu  cầu  tỏ  ra  hiểu  biết,  to  nhỏ  với  nhau  Nhật  đảo  chánh  Pháp.  Tôi  chẳng  hiểu  nghĩa  của  từ  “đảo  chánh”  và  tại  sao  Nhật  lại  đảo  chánh  Pháp,  được  nghỉ  học  là  vui  rồi.  Không  lâu  sau  đó,  học  sinh  được  học  một  bài  ngoài  chương  tŕnh,  không  những  học  mà  c̣n  phải  chép  mang  về cho  phụ  huynh.  Đó  là “ Lời  tuyên  bố  của  cụ  Lại  Bộ  Thượng  Thư  Phạm  Quỳnh”: 

Sáu  mươi  năm  trời,  bể  dâu  hai  cuộc,  Ất  Dậu  trước (1885)  kinh  thành  thất  thủ, Ất  Dậu  này (1945)  kinh  thành  khôi  phuc.  Lẽ  tuần  hoàn  của  lịch  sử  nghĩ  cũng  mầu  nhiệm  thay.  Nhờ  cuộc chiến tranh  Đại  Đông  Á,  nhờ  sức  hùng  cường  Hoàng  Quân  Nhật,  nước  Việt  Nam  ta  đă  bắt  đầu  lộ  diện  giữa  trời  Đông  sáng  sủa.  Vui  thay,  mừng  thay,  vẻ  vang  thay  ngày  27 tháng  giêng  năm  Ất  Dậu  niên  hiệu  Bảo  Đại  thứ  20  (9-3-1945- ngày, tháng và năm trong các ngoặc đơn là ghi chú  của người viết)  là  ngày  Việt  Nam  phục  quốc,  độc  lập,  tuyên  truyền. 

Dám  khuyên  tất  cả  đồng  bào  Việt  Nam, từ  Nam  chí  Bắc,  kẻ  chợ  nhà  quê,  hết  thảy  đều  đồng  tâm hiệp  lực, cấu  kết  cùng  nhau, bỏ  hết  tư  hiềm,  một  ḷng  v́  nghĩa,  xây  dựng  một  nước  Việt  Nam  độc  lập  phú  cường …”  

Dưới  áp  lực  của  Đức  Quốc  Xă,  chính  phủ  Pháp  Vichy  đă  phải  chấp  thuận  cho  quân  đội  Nhật  đồn  trú  ở  Đông  Dương  từ  lâu,  viện  cớ  là  để  triệt  đường  viện  trợ  vũ  khí  Hải  Pḥng-Vân  Nam  của  Đồng  Minh  cho  chính  phủ  Trùng  Khánh của Tưởng Giới Thạch kháng Nhật. Thật ra áp lực của chính phủ Pháp Vichy chỉ có giá trị gián tiếp. Trên thực tế quân đội Nhật từ Trung Hoa tràn xuống đă dùng vũ lực chiếm Lạng Sơn vào cuối tháng 9 năm 1940, đồng thời đổ bộ lên băi biển Đồ Sơn một lực lượng lớn và đang trên đường tiến đến Hải Pḥng. Pháp phải cử hai sĩ quan vội vàng đi gặp đợn vị tiền quân của Nhật để cho biết Hải Pḥng là một thành phố bỏ ngơ. Sau khi đă biết chắc như vậy, lính Nhật súng mang vai, hàng ngũ chỉnh tề tiến vào Hải Pḥng như một cuộc diễn binh. Qua những nhượng bộ quá mức đ̣i hỏi của hai toàn quyền Pháp liên tiếp nhau Catroux và Decoux và những biểu dương lực lượng quân sự, Nhật biết rơ thế yếu của Pháp ở Đông Dương. 

Tại  sao  cuộc  đảo  chánh  Nhật  diễn  ra  quá  muộn  màng,  trong  khi  thủ  đô  Pháp  đă  được  giải  phóng  từ  tháng  6-1944  và  Nhật  càng  ngày  càng  lép  vế  trên  mặt  trận  Thái  B́nh  Dương ?  Có nhiều cách lư giải : Thứ nhất, ngay từ những thắng lợi đầu tiên về cả hai mặt ngoại giao và quân sự, Nhật biết rơ thực lực của Pháp ở Đông Dưởng, bị cô lập với chính quốc và không trông mong ǵ nhận được sự giúp đỡ của Đồng Minh. Nếu muốn, Nhật có thể lật đổ Pháp ngay từ đầu. Nhưng Nhật muốn lấy chiến trường nuôi chiến trường, Nhật thiếu chuyên viên về mọi mặt để trực tiếp cai trị toàn cơi Việt Nam, nên dùng Pháp làm vai tṛ trung gian..Từ tháng 7 năm 1940 đến tháng 2 năm 1945, thời gian giữ chức toàn quyền Đông Dương, Decoux đă bóc lột nhân dân Đông Dương, nhất là nhân dân Việt Nam để nộp cho Nhật: xuất cảng sang Nhật 3,6 triệu tấn gạo và một số lượng cao-su trị giá bằng 12.907.023 kg vàng. Tính các khoản thương vụ khác và cung cấp tại chỗ cho quân đội Nhật tổng cọng lên đến 32.617.110 kg vàng, tương đương với 22 tỉ francs lúc bấy giờ. Trước sau Decoux c̣n cung cấp 1 tỉ 445 triệu đồng Đông Dương cho quân đội Nhật tiêu dùng tại chỗ.  Tất cả chỉ là tính toán trên mặt giấy tờ giữa hai ngân hàng Yokohama Species Bank và Banque de l´Indochine (Ngân Hàng Đông Dương), chính quyền Pháp ở Đông Dương không nhận lại được một xu. Dân Việt Nam một cổ mang đến hai tṛng, nạn đói đă bắt đầu hoành hành ở Bắc Việt, chỉ biết than vắn thở dài:” Gạo Nam Kỳ ai chở cho ai, dân Bắc Kỳ ngạ tử non hai triệu người.” Thứ hai, mặt trận Thái B́nh Dương càng ngày càng nghiêng thắng lợi về phía Đồng Minh, đúng ra là phía Mỹ. Đầu tháng 3 năm 1945 Mỹ chiếm đảo Palawan trong biển Đông (Nam Hải), theo đường chim bay, cách Việt Nam không đến 1.000km. Mỹ có thể đổ bộ lên Đông Dương để cắt đôi lực lượng Nhật ở Đông Nam Á.Trong trường hợp đó quân đội Pháp ở Đông Dương sẽ trở mặt. Tiên hạ thủ vi cường, Nhật ra tay trước.

Sau  biến  cố  ngày 9 tháng 3 năm 1945  tên  tuổi  của hai  nhân  vật  được  đề  cập  đến : Đức  Kỳ  Ngoại  Hầu  Cường  Đễ  và  ông  Ngô  Đ́nh  Diệm,  nhưng  người  Nhật  lại  sắp  xếp  cho  học  giả  Trần  Trọng  Kim  làm  thủ  tướng.  Chính  phủ  này  tồn  tại  hơn  năm  tháng  cho  đến  ngày  Việt  Minh  cướp  chính  quyền.  

Cuộc  cách  mạng  tháng  8  làm  nức  ḷng  toàn  dân.  Biểu  t́nh  khắp  nơi,  biểu  t́nh  ở  xă,  biểu  t́nh  ở  huyện, biểu tình ở sân  vận  động  Huế. Dọc  đường  quốc  lộ số một,  qua  mỗi  nơi  đều  có  những  hàng  ghè  nước  chè  cho  người  đi  biểu  t́nh  qua  đường.  Và  đoàn  biểu  t́nh  càng  ngày  càng  dài  lê  thê,  đông  như  kiến  cỏ. Người  ta  chào  nhau  bằng  cách  đưa  nắm  tay  mặt  lên  ngang  tai  phải,  mặt  mày  hân  hoan. Lần  đầu  tiên  nghe  đến  danh  xưng  Việt  Minh  và Hồ  Chí  Minh. Chẳng  mấy  ai  biết  Việt  Minh  và  Hồ  Chí  Minh  xuất  xứ  từ  đâu,  thuộc  đảng  phái  nào, chỉ  nghe  rỉ  tai  nhau : Việt  Minh  là  Việt  của  ḿnh.  Cuộc  diện  diễn  ra  vào  cuối  mùa  hè,  nghỉ  học,  ham vui  nên   tôi  thường  chạy  theo  những  cuộc  biểu  t́nh,  đi  bộ  20km  về  huyện ở Cầu  Hai  biểu t́nh,  vài  hôm  sau  lại  ngược  đường  20 km  lên  Huế  biểu  t́nh.  Không  hiểu  mấy  về  thời  cuộc,  nhưng  trong  đầu  óc  non  trẻ  đă  tiếp  nhận  một  cách  mơ  hồ  những  từ  mới :  cách  mạng,  độc  lập,  tự  do,  b́nh  đẳng… 

Tây  đi  rồi  Tây  trở  lại,  theo  gót  đoàn  quân  Anh  đến  Việt  Nam   giải  giới  quân  đội  Nhật  từ  vỉ  tuyến  13 vào Nam.  Quân  đội  Quốc Dân Đảng Trung Hoa  của  Tưởng  Giới Thạch làm nhiệm vu này  từ  vĩ  tuyến  13 ra Bắc. Pháp  khiêu  khích, đánh  chiếm  vài  thành  phố  ở  miền  Nam  và  mưu  tính  lập  ra  Nam  Kỳ  Quốc.  Phong  trào  Nam  Tiến  dấy  lên,  đưa  những  Vệ  Quốc  Quân  trẻ  chưa  được  huấn  luyện  và  trang  bị  kỹ  càng  vào  Nam  kháng  chiến.  Đó  đây  truyền  tụng  những  câu  ca  dao  thời  sự

Anh  nói  th́  hay  mà  vỗ  tay  th́  lỗi

Em  nghĩ  xưa  rày  nhiều  nỗi  oán  Anh

Đi  qua  giải  giáp  chưa  thành

Xúi  Tây  làm  loạn  sao  đành  Anh  ơi !  

Niên  khoá  1945-1946  tôi  được  gia  đ́nh  gởi  lên  Huế  học  lớp  nhất  trrường  Thế  Dạ,  lớp  nh́  nhị  niên  được  bải  bỏ  theo  chương  tŕnh  Hoàng  Xuân  Hăn.  Đầu  năm  1946  tôi  về  quê  nhân  những  ngày  nghỉ  học  và  gặp cuộc  bầu  cử  quốc  hội  đầu  tiên  nước  Việt  Nam  Dân  Chủ  Cọng  Hoà. Cử  tri  ở  nhà  quê  phần  nhiều  mù  chữ,  phải  học  thuộc  tên  những  ứng  cử  viên  lạ  hoắc.  Tôi  phải  theo  mẹ  ra  đ́nh  làng  bỏ  phiếu,  nhắc  đi  nhắc  lại  cho  mẹ  những  tên  Hoàng  Anh,  Đoàn  Trọng  Tuyến,  Thích  Mật  Thể  v..v..Không  những  mẹ  tôi  mà  những  người  có  chút  ăn  học  trong  xă  cũng  chẳng  biết  những  ông  đại biểu cho dân này  là  ai và từ đâu tới.  

Từ  bấy  đến  nay  ở  Việt  Nam  đă  diễn  ra  không  biết  bao  nhiêu  lần  bầu  cử,  gọi  là  để  thể  hiện  tinh  thần  dân  chủ.  Nhưng  người  dân  bị  sử  dụng  như  cái  bung  xung  che  đậy  cho  những  mưu  đồ  của  đảng  phái  hay  thế  lực  chính  trị.  Tôi  nhớ  một  buổi  cán  bộ  xă  ấp  hướng  dẫn  dân  chúng  “học  tập  bầu  cử  vào  dịp  trưng  cầu  dân  ư  dưới  thời  thủ  tướng  Ngô  Đ́nh  Diệm  để  truất  phế  Hoàng  Đế  Bảo  Đại  vào  tháng  10-1955.  “Xanh  bỏ  giỏ,  đỏ  bỏ  b́”,  cử  tri  thôn  quê  phải  học. S dân chúng lầm lẫn giữa  xanh  và   đỏ  khi  bỏ  giỏ  hay  bỏ  b́,  cán  bộ  c̣n  bắt  học  thêm “bỏ  phiếu  cho  Ngô  chí  sĩ”.  Để  kiểm  tra  lại,  người  hướng  dẫn  học  tập  hỏi  một  bà :  Bà  bỏ  phiếu  cho  ai ?  Trả  lời : Tui  bỏ  cho “ chiến  thỉ  tận  vong” ! (Chiến  sĩ  trận  vong,  thay  v́  Ngô  chí  sĩ . Người  nhà  quê  phát  âm  “TH”  thay  cho  “S”  và   bỏ  mẫu  tự  “R”  trong  vần  “TR”). Kết quả là  98,70%  cử tri bỏ phiếu đỏ vào b́. Ông Ngô Đ́nh Diệm thắng, nền Đệ Nhất Cọng Ḥa được khai sinh. Trải qua nhiều cuộc bầu cử, ít hay nhiều đều được định hướng trước. Và ngày nay, tuy h́nh thức có  khác  đi  đội  chút,  nhưng  đảng  cử  dân  bầu.  Thật  khốn  khổ  cho  người  Việt  Nam  được  thực  thi  quyền   cơ  bản  của  công  dân ! 

Ở đây, tưởng cũng nên nhắc lại hai nhân vật Bảo Đại và Ngô Đ́nh Diệm đă ràng buộc với nhau qua hai giai đoạn lịch sử v́ ”duyên và nợ” . Ông Ngô Đ́nh Diệm là Lại Bộ Thượng Thư, quan đầu triều lo về nội chính thời Bảo Đại mới từ Pháp về chấp chính. Năm 1933, Khâm sứ Trung Kư Eugène Chatel và Tổng Lư Ngự Tiền Văn Pḥng Phạm Quỳnh của Hoàng Đế Bảo Đại muốn tước bỏ quyền tư pháp của quan lại An-Nam, không cho họ xét xử, viện lư do quan lại An-Nam không có kiến thức về luật pháp. Việc này đă trực tiếp chạm đến quyền hạn của quan Lại Bộ Thượng Thư Ngô Đ́nh Diệm. Ông Ngô Đ́nh Diệm đă đơn thương độc mă chống lại chủ trương này. Trong cuộc tranh chấp, sau lưng của Chatel và Phạm Quỳnh có sự hổ trợ của Toàn Quyền Đông Pháp Pasquier. Hoàng Đế Bảo Đại lại tỏ ra do dự, không muốn làm mất lòng Chatel.Nhà vua chủ trương hoan nghênh mọi sự cải cách nhưng phải dưới ảnh hương của Pháp để khỏi rắc rối ! Kết cuộc, ông Ngô Đ́nh Diệm bị Toàn Quyền Đông Pháp thải hồi trước khi  ”treo ấn từ quan”. Và 22 năm sau, Ông Ngô Đ́nh Diệm trả được mối hận qua cuộc trưng cầu dân ư ”xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ b́” truất phế Bảo Đại. Ngô Đ́nh Diệm trở thành nguyên thủ quốc gia, và công dân Vỉnh Thụy lại một lần nửa lưu vong.  

Lính  Tây  nghênh  ngang  giữa  kinh  kỳ  và  nhiều  thành  phố  lớn  khác  theo  Hiệp  Định  Sơ  Bộ  kư  kết  ở  Fontainebleau  ngày  6-3-1946.  Vài  năm  sau  ở  chiến  khu  tôi  có  nghe  nói :  Hiệp  Định  Xít-Mác  rất  Mác-Xít.  Xít-mác  ( six  mars =  6  tháng  3)  có  thể  hiểu  được,  nhưng  Mác-Xít  là  ǵ  th́  mù  tịt.  Té  ra  là  một  biến  ngữ  từ  tên  Karl  Marx.  Cái  lôgíc  biện  chứng  Mác-xít  của  hiệp  định  Xít-Mác  được  người  ta  lư  giải  như  sau  :  Thứ  nhất,  cần  hoà  hoản  với  Pháp  để  mua  thời  gian  khi  bộ  đội  Việt  Minh  chưa  được  huấn  luyện  và  trang  bị  đầy  đủ  cho  một  cuộc  chiến  chống  Pháp.  Mà  chiến  tranh  th́  chắc  chắn  sẽ  xảy  ra.  V́  sau Đệ Nhị Thế Chiến,  tướng  De  Gaule  từ Anh về nước  cầm  quyền  đă  tuyên  bố :  nước  Pháp  sẽ  suy  yếu  nếu  mất  lănh  thổ  hải  ngoại. Ngụ ư  là  Pháp  sẽ  tái  chiếm  thuộc  địa  ở  Đông  Dương  và  Phi  Châu.  Thứ  hai,  mượn  Hiệp  Định  Sơ  Bộ  Xít-Mác  để  trục  quân  Tàu  của  Tưởng  Giới  Thạch  về  nước.  Một  mủi  tên  bắn  hai  con  chim.  Vừa  tránh  được  cái  hoạ  bành  trướng muôn  thưở  của  Trung  Hoa,  vừa  vô  hiệu  hoá  sự  ủng  hộ  của  đoàn  quân  Tàu  Quốc  Dân  Đảng  cho  một  số  đảng  phái  quốc  gia  đang  ráo  riết  chống  Việt  Minh  ở  Bắc  Việt,  ngay  giữa  ḷng  Hà  Nội  và  rải  rác  khắp  nơi,  từ  Vỉnh  Yên  đến  Việt  Tŕ,  Lao  Kay,  Yên  Báy…Với tuần lể vàng thu được của quần chúng nhiệt tâm vì nền độc lập của tổ quốc, Việt Minh  lo lót cho những tướng Tàu tham lam và đói khát  nên đă  đạt  được  mục  đích.  Những  căn  cứ  của  Đại  Việt  Quốc  Dân  Đảng  và  Việt  Nam  Quốc  Dân  Đảng  bị  tấn  công  và  nhanh  chóng  tan  rả. 

Trường  Khải  Định  giao  cho  quân  đội  Pháp  đóng.  Học  sinh  từ  lớp  đệ  nhị  niên  trở  lên  được  chuyển  vào  học  trong  đại  nội.  Lớp  đệ  nhất  niên  chúng  tôi  (niên  khoá  1946-1947)  học  ở  trường  Thuận  Hoá gần  đồng  An  Cựu.  Chẳng  biết  Pháp  và  Việt  Minh  sắp  xếp  làm  sao  mà  trong  thời  gian  này  ở  múi  cầu  Trường  Tiền,  phía  hữu  ngạn,  một  bên  có  người  lính  Pháp  đứng  gác,  bên  đối  diện,  một  vệ  quốc  quân.  Anh  vệ  quốc  quân  trẻ  trong  quân  phục  màu  xanh,  trang  bị  với  một  khẩu  mitrailette,  tuy nhỏ  con,  nhưng  trông  hào  hùng oai  vệ,  thách  thức  với  người  lính  Pháp  gồ  ghề  đối  diện.  Mỗi  lần  đi  ngang  đó,  tôi  thầm  mơ  ước sau này được  đóng vai một vệ  quốc  quân.  

 T́nh  thế  căng  thẳng  từng  ngày  một.  Quân  Pháp  đang  đánh  ra  miền  Trung  và  đe  doạ  miền  Bắc.  Việc  phải  đến  đă  đến,  tổng  tấn  công  vào  tháng  11  năm  1946.  Với  vũ  khí  thô  sơ, sử dụng  mọi  phương  tiện  khả  hữu  kể  cả  xông  khói  ớt  mọi  đốt  với  rơm.  Trong  hai  tháng  Việt  Minh  không  hạ  được  mấy  đồn  Tây  ở  Huế  cho  đến  ngày  vỡ  mặt  trận. Trong  giai  đoạn  này  chiến  tranh  không  diễn  ra  ở  thôn  quê,  nhưng  không  khí  rất  căn  thẳng.  Lệnh  tiêu  thổ  kháng  chiến  bắt  buộc  phá  hũy  những  nhà  gạch  lợp  ngói ở những xă nằm dọc theo quốc lộ một,  vườn  không  nhà  trống.  Quốc  lộ  một bị  đào  đứt  ngang  từng  đoạn,  trên  đường  ngổn  ngang  những  thân  cây  lớn,  cốt  để cản  đường  tiến  quân  của  Pháp.  Dân  đào  đường  rồi Tây bắt dân  phải  lấp.  Quân  Pháp  không  gặp  chống  đối  trên  đường  từ  Đà  Nẵng  ra  Huế. Đi  đến  đâu  họ  cũng  xây  đồn  đắp  lũy  ở  những đầu  cầu  lớn.  Đoàn  quân  viễn  chinh  trắng  có,  đen  có  với  sự  hợp  tác  của  những  tay  chỉ  điểm  địa  phương  gây  tang  tóc  đau  thương  không  kể  xiết,  nhất  là  ở  vùng  nông  thôn.  Họ  là  dân  giang  hồ  tứ  chiến  gồm  người  Pháp,  người  Maroc,  người  Tunisi,  người  Sénegal,  người  Trung  Phi…xa  nhà  có  thương  chi  dân  ḿnh, mua  vui  bằng  những   hành  động  ngang  ngược,  bạo  tàn  giết  người  cướp  của  đốt  nhà,  hảm  hiếp…  nên  đă  đẩy  quần  chúng  nông  thôn  về  phía  Việt  Minh.   

T́m  một  hướng  đi 

Ở  nhà  quê  chậm  chân  hơn  anh  em  ở  thị  thành,  tôi  trở  lại  trường  trể.  Năm  đệ  nhất  niên  kể  ra  chỉ  học được  già  nửa  niên  khóa. Vào đầu  năm  đệ  nhị  niên (lớp  đệ  lục), thầy  quốc  văn  ra  một  bài  luận  với  đầu  đề :  ”Trong  tương  lai  em  chọn  nghề  ǵ ?  Tại  sao?”.  Tôi  viết  sẽ  đi  lính  để  bảo  vệ  tổ  quốc,  chống  xâm  lăng.  Thầy  đă  gọi  riêng  tôi,  khen  ngợi  có  tinh  thần  yêu  nước  và  khuyên  nên  hết  sức thận  trọng.  Tôi  cám  ơn  thầy  và  chỉ  vài  ngày  sau,  viết  cho  ông  thân  sinh một  lá  thư,  trong  đó  có câu  :  ”Con  thoát  ly  gia  đ́nh  để  phụng  sự  tổ  quốc”,  rồi  ra  đi, đi  kháng  chiến,  v́  đă  có  liên  lạc  trước.  Tôi  không  rơ  là  đă  học  ở  đâu  mấy  cụm  từ  rất  sáo  thoát-ly-gia-đinh,  phụng-sự-tổ-quốc.  Vào thời đó, trong  giới  học  sinh,  kể  cả  ở  lứa  tuổi  c̣n  nhỏ,  đă  truyền  tụng  những  từ tương  đối  lạ tai  như bài  phong  phản  đế, chiến  khu,  kháng  chiến, thực dân…. 

Chiến  khu mà  lần  đầu  tiên  tôi  đặt  chân  đến  là   vài  dăy  nhà  sàn  thô  sơ  lợp  tranh  dọc  theo  một  bờ  suối,  nằm  sâu  trong  rừng,  đi  non  một  ngày  đường   mới  đến  làng  mạc.  Nơi  đây  chỉ  có  năm  bảy  cán  bộ  thoát  ly,  nhưng  họ  cũng  không  ở  chiến  khu  thường  xuyên  mà  đi  về  các  xă  hoạt  động.  Năm  bảy  ngày  mới  tập  trung  về  chiến  khu  để  kiểm  điểm  công  tác  rồi  lại  ra  đi.  Tôi  được  giao  làm  liên  lạc  viên  cho  anh  liên  xă  đội  trưởng.  Lực  lượng  của  liên  xă  đội,  ngoại  trừ  anh  liên  xă  đội  trưởng  với  một  khẩu  mousqueton,  không  c̣n  ai,  chỉ  có  những  tiểu  tổ  dân  quân  không  được  vơ  trang  ở  các  xă.  Họ  là  những  nông  dân  sinh  hoạt  b́nh  thường  ở  các  thôn  xóm,  khi  hữu  sự  mới  tham  gia  công  tác,  thông  thường  là  công  tác  phá  hoại,  chủ  yếu  nhằm  vào  đường  xe  lửa,  đường  dây  thép  hay  tổ  chức  mít-tinh…Hấp  dẫn  nhất  đối  với  một  đứa  trẻ  tuổi mười  bốn  mười  lăm  là  bắn  quấy  phá  giữa  đêm  khuya. Tôi  được  hướng  dẫn sử  dụng  khẩu  mousqueton  bắn vào  đồn Tây, khi  đồn  này  khi  đồn  khác, có  lần  bắn  đến  phát  thứ  bảy  đạn  mới  nổ.  Trong  đồn  đáp  lại  bằng  nhiều  loại  súng,  anh  xă  đội  trưởng  và  tôi  đă  chuồn  êm. 

Mấy tháng sau, được biệt  phái  làm  liên  lac  cho  một  đơn  vị  chính  qui, tôi cảm  thấy  như  ḿnh  lớn  hơn  một   đứa  trẻ  mười  bốn,  mười  lăm  qua  những  cuộc  hành  quân  băng  đèo  lội  suối,  qua  những  lần  nghe  cán  bộ  chỉ  huy  chuyện  tṛ.  Họ thường nói  chuyện với  nhau  pha  nhiều  tiếng  Pháp.Tôi chẳng  hiểu Ất Giáp ǵ  mấy,  nhưng  chính  điều  này  đă  có  một  ảnh  hưởng  lớn  đến  quyết  định  của  tôi  sau  này. 

”Ai  từng  vô  sông  Hương,  từng  nương  Thiên  Mụ,  từng  ngụ  Đập  Đá,  Văn  Xá  Truồi  Nong…  giờ  đây  khói  lửa  ngập  trời…”  Bài  ca  B́nh  Trị  Thiên  Khói  Lửa  đă  thân  thương  gởi  gắm  tâm  t́nh  về  quê  ḿnh :  ”B́nh  Trị  Thiên  ơi  miền  thân  mến,  có  ai  xuôi  về  cho  ta  nhắn  thương  yêu”….  ”Đoàn  quân  đi  thấp thoáng  trong  đêm  không  một  v́  sao ….Bao  em  tôi  đôi  mắt  sáng  ngời,  say  sưa  trong  quân  dồn  bước  tiến”…và  kết  thúc :  ”Hẹn  ngày  mai  chiến  thắng  chớ  quên  đường  về  làng  xưa,  em  vẫn  mong  chờ,  đến  ngày  ấy  đôi  ta  cùng  mơ”....  Tôi  đă  mơ  có  một  ngày,  qua  các  xóm  làng  ḿnh  từng  đặt  chân  đến  hay  ngay  trên  đường  Trần  Hưng  Đạo,  giữa  ḷng  cố  đô  Huế  tôi  diễn  hành  trong  đoàn  quân  chiến  thắng  trước  hàng  trăm  hàng  ngàn  cặp  mắt  ngưỡng  mộ  và  khâm  phục  của  nhiều  người  đẹp. Ở tuổi dậy th́  mười  bốn  mười  lăm  mộng  mơ,  những  t́nh  cảm  lăng  mạn  về  phái  tính  đă phản  phất  vấn  vương  và  t́nh  yêu  quê  hương  quyện  vào nhau  như  mời  gọi,  như  thúc  dục  dấn  thân  để  vượt  thắng  mọi  gian  truân  trên  các  nẻo  đường kháng  chiến  gian  khổ, khổ  mà  vẫn  thấy  rất vui. 

Có  người  cho  rằng  đó  là  chuyện  bồng  bột  thiếu  chín  chắn  của  trẻ  con  và  đánh  giá  thấp  phong  trào  ”xếp  bút  nghiên ”  xem  như  đă  bị  Cọng  Sản  lợi  dụng.  Ăn  chưa  no  lo  chưa  tới  như  tôi  lúc  bấy  giờ và  chưa  từng  nghe  đến  hai  chữ  Cọng  Sản  th́  bồng  bột  với  tánh  anh  hùng  rơm  th́  chẳng  nói  làm  chi.  Ông  Nguyễn  Hải  Thần  lănh  tụ  Việt  Nam  Quốc  Dân  Đảng,  ông  Nguyễn  Tường  Tam  lănh  tụ  Đại  Việt  Dân  Chính  từ  Trung  Quốc  về  tham  gia  Chính  Phủ  Liên  Hiệp, ông  Vũ  Hồng  Khanh  đại  diện  Việt  Nam  Quốc  Dân  Đảng  cùng  với ông  Hồ  Chí  Minh  kư  tên  vào  Hiệp  Định  Sơ  Bộ  6  tháng  3  chẳng  lẽ  không  biết  người  đứng  đầu  Việt  Nam  Độc  Lập  Đồng  Minh  Hội  là  một  nhân  vật  của  Đệ  Tam  Quốc  Tế ?  Những  trí  thức  ôn  ḥa  miền  Nam  như  các  ông  Hồ  Văn  Ngà,  Bùi  Quang  Chiêu…cũng  tham  gia  kháng  chiến  từ  giai  đoạn  đầu. Các  nhà  nho  như  Huỳnh  Thúc  Khán,  Phan  Khôi  và  nhóm  Nhân  Văn  Giai  Phẩm  theo  Việt  Minh  chẳng  lẽ  v́  lư  tưởng  cọng  sản ? Những  nhà  khoa  bảng   Nguyễn  Mạnh  Tường,  Nguyễn  Khắc  Viện…đă  rời  bỏ  nước  Pháp  để  về  ngoài  Bắc…. Những  vị  này  và  hàng  hàng  lớp  lớp  trí  thức  khác  theo  Việt  Minh  kháng  chiến v́ nền độc lập của tổ quốc hay v́ lư tưởng cọng  sản ? Họ tham gia phong trào Việt Minh v́  muc  đích  cao cả ”quốc gia hưng vong,thất phu hữu trách”, nhưng về  sau  nếu  không  thoát  ra  kịp  th́  bị  khuất  phục,  cuốn  vào  cỗ  máy  nghiền  của chính  quyền  chuyên  chính  vô  sản,  hoặc  trở thành  hàng  thần  lơ  láo,  hoặc  bị  thanh  trừng  bằng  cách  này  hay  cách  khác.   

Người  Pháp  trở  lại  Việt  Nam   thật  sự  với  ư  đồ  tái  xâm  lược. Đầu  tháng  3  năm  1946  Cao  Ủy  Pháp  o  Sàigon,  Đô  Đốc  D´Argenlieu  thừa  nhận  chính  phủ  Nam  Kỳ  Tự  Trị  của  ông  Nguyễn  Văn  Thinh.  Và  về  sau,  tuy  có  một  Quốc  Gia  Việt  Nam  dưới  sự  lănh  đạo  của  Hoàng  Đế  Bảo  Đại, trên  thực  tế  thực  quyền  ở  Việt  Nam  vẫn  ở  trong  tay  người  Pháp. Đầu năm  1982,  một  phái  đoàn  Pháp  sang  trại  tị  nạn  Palawan  để  hướng  dẫn  cho  những  thuyền  nhân  được  tàu  La  Lumiere  vớt  lập  hồ  sơ  tái định  cư ở Pháp.  Họ  thông  báo,  những  người  sinh  tại  Nam  Kỳ  trước  ngày  kư  kết  Hiệp  Định  Geneve  20-7-1954  sau  khi  đến  Pháp,  không  xin  nhập  tich  mà  xin  ”hồi  tịch”.  Những  quân  nhân  nhập  ngũ  trước  ngày  đó  có  thể  sưu  tra  lư  lịch  trong  văn  khố  Pháp.  Điều  này  chứng  tỏ  người  Pháp  vẫn  xem  Nam  Kỳ  là  xứ  thuộc  địa,  Bắc  và  Trung  Kỳ  là  xứ  bảo  hộ,  nguyên  trạng  như  thời  đô  hộ  Pháp.  Chủ  trương  này  của  Pháp  đă  được  Bộ  Trưởng  Pháp  Quốc  Hải  Ngoại  Coste  Floret  khẳng  định  trong  buổi  gặp  gở  giữa  thủ  tướng  Pháp  Robert  Schuman  và  Cựu  Hoàng  Bảo  Đại  vào  năm  1947 : ”Hiện  nay,  chỉ  có  những  hiệp  ước  kư  kết  từ  ngày  xưa  với  triều  đ́nh  An  Nam  là  có giá  trị  mà  thôi...”  (Bao  Đại,  Con  Rồng  Việt  Nam,  NXB  Xuân  Thu,  trang  304).  Trong  hoàn  cảnh  rối  ren  phức  tạp đó  của  đất  nước,  nếu  viện  lí  do  chống  Việt  Minh  hay  chống  Cọng  để  đứng  vào hàng ngũ  thực  dân  Pháp  e  rẳng  không  hợp  lí  hợp  t́nh.

Giữa  năm  1948  tôi  bị  sốt  rét  nặng,  được  đưa  đi  điều  trị  ở  bệnh  viện chiến  khu  Thừa  Thiên.  Vị  bác  sĩ  trẻ  người  Bắc  điều  khiển  bệnh  viện  này  tên  Đàn.  Vài  mươi  năm  sau  tôi  được  ông  thứ  trưởng  Bộ  Giáo  Dục  Việt  Nam  Cọng  Ḥa  Nguyễn  Danh  Đàn  tiếp  kiến.  Rơ  ràng  là  bác  sĩ  Đàn  ở  bệnh  viện  chiến  khu  Thừa  Thiên.  Tôi  có  lầm  người  chăng ?  Sốt  rét  là  một  chứng  bệnh   nóng  lạnh có  hẹn  giờ. Phải  nói  là  ”rét  sốt”  mới  đúng, v́ lạnh  trước  nóng  sau.  Lạnh  buốt gan  từ  trong  ruột  lạnh  ra,  nóng  đổ  mồ  hôi  hột  từ  ngoài  da  nóng  vào.  Con  sâu  sốt  rét  nằm  phục  trong  máu,  cơ  thể  yếu  yếu  là  nó  vùng  dậy.  Chưa  dứt  sốt  rét  lại  bị  thũng.  Thân  thể  gầy  g̣  như  ma  đói  nhưng  khuôn  mặt  và  hai  bàn  chân,  hai  bàn  tay  lại  trương  lên.  Tôi  được  đưa  về  an  dưỡng  ở  khu 3  huyện  Phú  Lộc.  Khu  3  là  vùng  từ Mỹ  Lợi  đến  Đông  Am  Mỹ  Á,  ngoài  ṿng  kiểm  soát  của  Pháp.  Khẩu  phần  bội  dưỡng  thường  thường  có  thêm  một  món  dành  cho  heo,  cám  mịn  trộn  với  đường  để  có  vitamin.  Uống  thuốc  Bắc,  hết  thũng  th́  ghẻ  lở  ra  khắp  châu  thân.  Nhưng  có  lẽ  nhờ  sức  trai,  mọi  bệnh  tật  bị  đẩy  lui  dần  dần.  

 Cuối  năm  1948  có  tin   ở  vùng  ”tự  do”  ngoài  xă  Phong  Chương, huyện  Phong  Điền một  trường  trung  học có  tên  Nguyễn  Chí  Diểu  được  thành  lập, tôi  được  khuyến  khích  đi  học.  Hệ  thống  giáo  dục  được  thu  ngắn  lại,  bốn  năm  tiểu  học,  ba  năm  trung  học  đệ  nhất  cấp  và hai  năm  trung  học  đệ  nhị  cấp. Hàng  ngũ  giáo  chức  có  các  anh  Tôn  Thất  Lương,  Nguyễn  Kỳ,  Phạm  Doăn  Hân (con  dược  sĩ  Phạm  Doăn  Điềm)  và  về  sau  tăng  cường  thêm  anh  Thân  Trọng  Ninh,  anh  ruột  anh  Thân  Trọng  Sinh.  Chưa  đầy  bảy  tháng,  tôi  học  hai  lớp,  cuối  năm  lớp  sáu  và  đầu  năm  lớp  bảy.  Lại động  ḷng  bốn  phương  trước  phong  trào  Rèn  Cán  Chỉnh  Quân  và  Tổng  Phản  Công  tôi  lại  lên  đường. Ngày  14  tháng  9  năm  1949,  bốn  anh  vệ  quốc  quân  và  tôi  lọt  vào  một  ổ  phục  kích  ở  Hiền  Sĩ,  ba  người  chết  tại  chỗ,  một  người  chạy  thoát,  tôi  bi  thương  và  bị  bắt  giam.  Nhà  giam  là  kho  đạn  cũ  Mang  Cá  do Tây  để  lại,  được  đục  lỗ  thông  hơi  và  ngăn  đôi  bên  nam  bên  nữ. 

 Nhà  đă  bị  đốt,  gia  đ́nh tôi  tản  cư  đến  một  vùng  do  Việt  Minh  kiểm  soát.  Do  thiếu  thông  tin  chính  xác,  gia  đ́nh  nhận  được  tin  tôi  bị  bắn  ở  miền  bắc  tỉnh Thừa  Thiên  nên tôi được  thượng  lên  bàn  thờ  với  một  lư  hương  nhỏ. Mỗi  bữa  ăn,  quanh  mâm  cơm  có  chén  cơm  đôi  đũa  dành  cho  người  mới  chết.  Tù  mới,  không  được  đi  làm  nên  không  có  cách  ǵ  liên  lạc  với  gia  đ́nh,  phải  làm  ”tù  mồ  côi”  hơn  bốn  tháng  cho  đến  sau  Tết  Canh  Dần  năm  1950.  Tuy  vậy  đôi  khi  cũng  cảm  thấy  ấm  ḷng,  được  các  bạn  tù  thương  t́nh chia xẻ đồ thăm nuôi,  trong  số  đó  có rất nhiều  nam  nữ  học  sinh  Huế.  

Một buổi trưa chủ nhật đẹp trời, tôi được  báo có  người  hỏi  thăm  ngoài  hàng  rào trại giam, vội vàng phóng ra, ngơ ngác  nh́n  quanh  th́  có  người  gọi  tên.  Chị  tôi, chị Sen !  Chị  em  cầm  tay  nhau  qua  hàng  rào kẻm gai,  chị  tôi  khóc  như  đưa  đám  làm  cho  những  người  đi  thăm  nuôi  rất  đổi  ngạc nhiên.  ”Mạ  khóc  ngày  khóc  đêm,  cha  thẩn  thờ  như  người  mất  hồn  khi  nghe  tin  mi  chết…Bữa  cơm  có  khúc  cá   mạ  cũng  để  nơi  chỗ  trống  dành  cho  mi  rồi  nói :ăn  đi  con …Mới  đây,  con  Ẩn  tin  cho  biết,  chắc  chắn  thấy  mi  trên  xe  chở  tù  đi  làm  qua  cầu  Trường  Tiền…Mới  đổi  được  50  Đông  Dương,  mạ  thúc  chị  đi  Huế  xem  có  thiệt  hay  không.  Mạ  nóng  ruột  lắm  nhưng  đi  hai  người,  tiền  xe  tiền  tàu  ăn  hết… Qua  bên  lao  Thừa  Phủ,  họ  nói  không  có  thằng  Giang  nào  17  tuổi  người  Nong  ở  đây.  Họ chỉ qua lao Mang Cá hỏi thử…Đứng  chờ  mà  vái  Trời  là  thằng  Giang  thiệt  chớ  không  phải  một  thằng  khác  trùng  tên…Biết  tin  con Ẩn  có  thiệt  hay  không  mà  bới  xách…”  Chị  tôi  vừa  nói  vừa  khóc  rồi  lận  lưng  ra  cho  25  đồng.  Một  bà  đứng  bên  cạnh  mủi  ḷng  cho  5  đồng. Từ đó, tuy việc thăm  nuôi  họa  hiếm  nhưng  tôi  không  c̣n  là  ”tù  mồ  côi”  nữa. 

Đi  hay  ở  lại. 

Trưa  ngày  16  tháng  11  năm  1951  tôi  cầm  giấy  phóng  thích  trong  tay.  Giấy  kư  ngày  12  tháng  11,  và  về sau tôi  đă  lấy  ngày  này  làm  ngày  sinh  khi  làm  lại  mọi  thứ  giấy  tờ  cá  nhân  của  ḿnh.  Đồ tế nhuyển  của  riêng  tây  gồm  một  cái  mền  có  ghi  số  tù,  một  bộ  quần  áo  và  vài  thứ  vặt  vạnh  nhét  vào  cái  bị  lác  xách  ṭn  teng  ra  nhà  tù.  Trong  túi  có  số tiền  200  đồng .  Tôi  được  chọn  vào  số  mười  mấy  tù  nhân  ra  làm  nhà  cho  Trung  Tá  Nguyễn  Ngọc  Lễ  ngoài  cửa  Hậu  do  ”man  khai”  có  học  thợ  mộc. Mỗi  buổi  sáng,  bà  Lễ  chở  đến  một  rổ  ḿ có nhân thịt,  phát cho  mỗi  người  một  ổ.  Ngoài  ra,  bà  c̣n  cho  mỗi  người  10  đồng  một  ngày công.  May  sao  giữa  buổi  sáng  hôm  đó,  khi  người  lính  ra  dẫn  tôi  về  trại  để  được  phóng  thích  th́  bà  Lễ  cũng  vừa  đến.  Bà  tính  sổ  làm  việc,  tôi  làm  được  19  ngày,  bà  cho  luôn  200. Ra  khỏi  tù  việc  đầu  tiên  là  đến  trước  chợ  Đông  Ba  tự  khao  một  tô  bún  ḅ,  sau  đó  t́m  đến  tiệm  cho  thuê  xe  đap  ở  cửa  Thượng  Tứ. Vừa  ca  bài  ca  con  cá,  vừa  năn  nỉ  tỉ tê cũng  thuê  được  xe,  2  đồng /giờ  với  tờ  giấy  phóng  thích.  Đạp cho  sướng  chân,  đạp  lên  Kim  Long,  đạp  ra  An  Ḥa,  đạp  xuống  Bao  Vinh,  đạp  qua An  Cựu,  đạp  về  Vỹ  Dạ…Đă  bốn  năm  chưa  được  cỡi  xe  đạp.  Vừa  đạp  vừa  nặn  óc  suy  nghĩ :  Đi  Hay  Ở ?.   

Đi  th́  quá  đơn  giản.  Về  với  gia  đ́nh  ở  vùng  Việt  Minh  kiểm  soát, đi  kháng  chiến  hay  đi  học  lại.  Chuyện  đất  nước  c̣n  dài,  có  đi  kháng  chiến  với  tŕnh  độ  học  vấn  chưa thực sự hết  lớp  đệ  lục th́ về  sau  cũng  chỉ  làm  một  tay  chạy  hiệu. C̣n  đi  học  lại  ở ” vùng  tự  do”   xem  như  học  cho  có.  Nghe  tiếng  máy  bay,  thầy  tṛ  bỏ  chạy. Nghe  Tây  đi  càng  quét  cũng  chạy,  có  khi  chạy  đến  ba  bốn  ngày mới trở về. Tuy  đă  vào  lớp  bảy  (theo  hệ  thống  giáo  dục  mới),  tương  đương  với  đệ  tứ,  nhưng đó  chỉ  là  kể  lớp  sắp  hàng  mà  lện.  Thật  sự  tŕnh  độ  chưa  đến  đâu. 

Ở  Huế,  những  trường  trung  học  công  lập  và  tư  thục  phần nhiều  tập  trung  ở  hữu  ngạn  sông  Hương  nên  có  những  ḍng  học  tṛ  đi về sáng chiều. Thời  gian  ở  tù,  hằng  ngày xe  lính  đến  chở  đi  làm  tạp  dịch,  thấy  những  ḍng  học  tṛ  xuôi  ngược,  tôi  nao  nao  trong  dạ,  ước  muốn  đi  học  lại.  Mà  đi  học  kiếm  thêm  ít  chữ  nghĩa  th́  phải  học  ở  Huế.  Nhưng  chuyện  đâu  có  đơn  giản.  Tứ  cố  vô  thân,  nương  náu  vào  đâu  để  giải  quyết  vệc  ăn  ở  mà  đi  học ?  Vô  kế  khả  thi !   

Đạp  xe  rông  cả  buổi  chiều,  ăn  hàng  xong  có  muốn  về  quê  cũng  đă  lỡ  xe  lỡ  tàu,  tôi  trở  lại  Trại  Cải  Huấn (nhà tù) mới  được  xây  dựng  phía  trong  cửa  Trài  thay  thế  cho  nhà  lao  Mang  Cá  để  xin  ngủ  lại  một  đêm,  viện  lẽ  về  quê  không  kịp. Ông  trung  sĩ  nhất  già  trại  phó  rất dễ  chịu,  tù  thường  gọi  là  Bon  Papa,  thương t́nh  cho  ngủ  nhờ  trong  nhà,  phía  ngoài  hàng  rào  trại,  ngủ  chung  với  một  người  bạn  tù  ông  lấy  ra  để  phục dịch  cho  gia  đ́nh. Hôm  sau  lại  xách  gói  lên  đường.  

Tuy  chưa  mấy  rơ  ràng đường hướng,  nhưng  tôi có cảm  tưởng  đă  t́m  được  một  lối  thoát  nên  rất  yên  tâm.  Cùng  lắm  th́   trở  lại  tỉ  tê  với  Bon  Papa  xin  ”ở  đợ”  tạm  thời  rồi  sẽ  hạ  hồi  phân  giải.  Ông  được  việc  nhà  mà  chẳng  tốn  kém  chi,  chỉ  tốn một  xuất  cơm  tù.  Phấn  khởi,  tôi  tự thưởng  cho  ḿnh  một  chầu  xi-nê  cô-bồi  ở  rạp  Tân  Tân. Trong ḍng  người  ồn  ào  tuông  ra  khỏi  rạp  xi-nê,  bổng  có  tiếng  kêu : Giang !  Quay  lại,  tôi  ngạc  nhiên  nhận  ra  anh  Thân  Trọng  Ninh,  ông  thầy  cũ  trường  Nguyễn  Chí  Diểu  ngoài  Phong  Điền.  Anh  Ninh  cũng vừa  rời  bỏ  hàng  ngũ  kháng  chiến  về  thành.  Sau  khi  biết  tâm  sự  và  hoàn  cảnh  của  tôi,  anh  bảo  dọn  đồ  đạc  về  nhà  anh  ở  tạm.  Tôi  chỉ  vào  cái  bị  lác,  cho  biết  gia  tài  điền  sản  chỉ  có  chừng  nớ,  vật  bất  ly  thân.  Đă  có  quí  nhân  pḥ  trợ  rồi ! 

Tôi ở chung  với  anh  Thân  Trọng  Ninh  tại  nhà  anh  Thân  Trọng  Sinh  gần  Đập  Đá  một  tuần. Biết  được  tâm  nguyện  của  tôi  hai  anh  tận  t́nh  t́m  cách  giúp  đỡ.  Anh  Sinh  liên  lạc  với  ông Từ  Bộ  Quưnh,  chủ  sự  pḥng  Xă  Hội  xin  cho  tôi  vào  ở  Trại  Tế  Bần  và  xin  ông  Nguyễn  Như  Minh,  hiệu  trưởng  trường  trung  học  tư  thục  Nguyễn  Du,  nơi  anh  có  dạy  tư,  cho  tôi  được  học  miển  phí.  Ngày  ra  riêng,  tài  sản  của  tôi  phong  phú  hơn,  ngoài  những  bộ  áo  quần  cũ,  anh  Ninh  c̣n  dúi  cho  tôi  50  đồng.  Chữ  Tế  Bần  phản  ảnh  đúng  hoàn  cảnh  của  những  người  sống  trong  trại.  Đui  què  mẻ  sứt…ăn  mày  ăn  xin…đủ  hạng  người  cùng  khổ  vô  gia  cư.  Anh  giám  thị  trại  biết  tôi  là  học  tṛ,  cho  ở  trên  một  căn  gác  9 m2,  chung  với  một  thanh  niên  xứ  Nghệ.  Chẳng  biết  cái  nhà  dùng  làm  Trại  Tế  Bần  nguyên  thủy  xây  cất  theo  kiểu  ǵ  mà  căn  gác  duy  nhất  nằm  chèo  queo lơ lửng,  không  dính  với  tầng  trệt,  lên  xuống  phải  dùng  một  cái  thang  tre  rất  dài. Căn  gác  về  sau  được  phong  thành  ”Chiêu  Anh  Quán”, v́  có nhiều  ”tài  tử  giai  nhân”  chiếu  cố. Người  được  xét  trợ  cấp  gồm  hai  hạng :  nội  trú,  trại  lo  việc  ăn  ở,  ngoại  trú  mỗi  tháng  đến  lảnh  12kg  gạo  và  36 đồng.  Những  người  nương  thân  vào  Trại  Tế  Bần,  nội  hay  ngoại  trú,  để  ăn  học  mà  tôi  c̣n  nhớ,  về  sau gọi là  đạt được một chút  thành  công có  các  giáo  chức Đặng  Văn  Bôn,  Hoàng  Toại,  Vơ  Ái  Ngự (cả  ba  đều  đă  ra  người  thiên  cỗ),  Nguyễn  Đức  Giang,  trung  tá  (hay  đại  tá ?)  Phan  Bá  Kỳ  và  tiến  sĩ  Nguyễn  Trường......C̣n rất nhiều, không nhớ hết nổi 

Những  chuyển  biến  phức  tạp  của thời cuộc. 

Năm  1952,  1953  có  nhiều  người  trốn  khỏi  vùng Việt  Minh  để  về  thành.  Mỗi  người  có  một  hoàn  cảnh,  trở  về  từ  những  địa  phương  khác  nhau,  kể  những  câu  chuyện  khác  nhau,  nhưng  có một  điểm  chung  là  không  thể  sống  nỗi  với  Việt  Minh, nếu  không  là  đảng  viên  Cọng  Sản.  Lần  đầu  tiên  tôi nghe  nói  nhiều  về  Cọng  Sản,  nhưng  vẫn  nghĩ  rằng,  những  người  trở  về  có  thể  v́  gia  đ́nh,  v́  không  chịu  nỗi  kham khổ.  Tuy  vậy  trong  đầu  đă  manh  nha  những  câu  hỏi :  Tại  sao…và  tại  sao…?  Những  người  có  ăn  học  lại  không  được  đóng  góp  tích  cực  vào  công  cuộc  giải  phóng  quê  hương ?  Vậy  th́  sau  khi  thu  thập  được  một  tŕnh  độ  học  vấn  nào  đó,  ḿnh  có  nên  trở  về  với  kháng  chiến  hay  không ?  Những  người  tham  gia  phong  trào  Việt  Minh  từ  đầu  đến  bảy  tám  năm  sau  c̣n  bị  đặt  ra  bên  lề,  c̣n  ḿnh,  trở  về  sau  một  thời  gian  ở  ”trong  ḷng  địch”,  ai tin ?  Và  rồi  sẽ  ra  sao ?  Nền  độc  lập  của  tổ  quốc  là  điều  quan  trọng  thiết  yếu  đối  với  toàn  dân,  tại  sao  lại  phải  có  một  nhóm  cai  thầu ? Cứ  nghĩ  lẩn  quẩn  như  thế  để tự  trôi  theo  ḍng  chảy  Quốc  Gia, qua những hoàn cảnh cá nhân và giai đoạn lịch sử của đất nước . 

Qua  những  tin  tức  thâu  lượm  rải  rác  trên  báo  chí  về  Cải  Cách  Ruộng  Đất,  về  việc  đàn  áp  những  trí  thức  bất  đồng  quan  điểm  của  các  nhóm  Nhân  Văn,  Giai  Phẩm…tôi  vẫn  c̣n  ngờ  ngợ. Phải chăng người ta đă phóng đại nhiều chuyện v́ lư do tuyên truyền.  Nhưng  rồi  sự  thật  càng  ngày  càng  hiễn  lộ,  có  sách  có  chứng.  Ông  Nguyễn  Mạnh  Tường,  đứng  trên  quan  điểm  của  một  nhà  luật  học  nêu  lên  những  sai  lầm  của  cuộc  Cải  Cách  Ruộng  Đất  qua  bài  phát  biểu  trong  buổi  họp  của  Mặt  Trận  Tổ  Quốc  ở  Hà  Nội  ngày  30  tháng  10  năm  1956. Vụ  đàn  áp  đẩm  máu  ở  Hung  Gia  Lợi  vào  tháng  11  năm  1956,  chẳng có  kẻ  thù  nào  bên  ngoài  nhúng  tay  vào,  chỉ  v́  nhân  dân  Hung  Gia  Lợi  đứng  lên  đ̣i  hỏi  tự  do.  Kết  thúc  đại  hội  Đảng  Cọng  Sản  Liên  Xô  lần  thứ  20  cũng  vào  năm  1956,  Kruschov  đă  lên  án  Stalin  sùng  bái  cá  nhân,  độc  tài,  giết  hại  và  đày  ải  hàng  triệu  người,  kể  cả  những  đồng  chí  thân cận với  ḿnh.  Trong  bản  dịch  Việt  ngữ  hồi  kư  của  bà  quả  phụ  Mussolini  có  viết : May  mắn  cho  Lenin,  chết  trước  khi  Stalin  nắm  được  quyền.  Nếu  không,  ông  ta  cững  bị  thanh  trừng…Và  chính  tai  ḿnh  được  nghe  một  bài  tham  luận  phát  ra  trên  đái  phát  thanh  Hà  Nội : ”Ai  Gây  Ra  Nạn  Đói  Ở  Miền  Nam ?”,  rồi  quy  kết  cho  Mỹ  Diệm !  Trong  lúc  đó  Miền Nam sung túc, lo  hàn  gắn  những  đổ  vỡ,  xây  dựng  và  phát  triển, đang  vươn  lên  sau  chín  năm  bị chiến  tranh tàn phá, nhất là ở Liên Khu 5 gồm các tỉnh Nam-Ngăi-B́nh-Phú.  

Những chuyển biến dồn dập  của  thời  cuộc  đă  đẩy  đất  nước  đến  một  khúc  quanh  mới,  hiệp  định  Geneve  được  kư  kết  ngày  20  tháng  7  năm  1954,  chia  đôi  đất  nước  mà  sau  này  gọi  là  Ngày  Quốc  Hận.  Ai  là  người  có  ḷng  mà  chẳng  buồn,  chẳng  hận  khi  đất  nước  bị  phân  chia ?  Nhưng  b́nh  tâm  mà  nghĩ,  nếu  không  có  ngày  này,  người  Pháp  vẫn tiếp tục  ngự  trị  trên  đất  nước  Việt  Nam  th́  người  chống  Cọng  đứng  ở  vị  thế  nào  để  phát  huy  Chính  Nghĩa  Quốc  Gia?  Một nửa đất nước gọi là độc lập, nhưng nằm trong quỉ đạo của khối Cộng Sản, mọi quyền tự do của công dân bị tước đoạt để cho một chính thể độc tài toàn trị được củng cố. Một nửa đất nước cũng độc lập trong khối tự do, nhưng qua hai chế độ Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Ḥa không phát huy được chính nghỉa quốc gia một cách trong sáng, mà càng ngày càng lún sâu vào ṿng ảnh hưởng của Mỹ, nếu không nói là lệ thuộc vào Mỹ.   

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam có nhiều điều phức tạp về nhận đinh cho cả người Việt lẫn người ngoại quốc. Nam và Bắc đánh nhau mà gọi là nội chiến cả Nam lẫn Bắc đều không chấp nhận. Đối với Miền Nam th́ phải là chống Cọng Sản xâm lăng, đối với Miền Bắc th́ phải là cuộc chiến giải phóng. Gọi chiến cuộc Việt Nam là cuộc chiến tranh ủy nhiệm của hai khối quốc-cọng, cả hai miền Nam Bắc vẫn bác bỏ để tỏ ra rằng ḿnh không bị lệ thuộc vào một thế lực ngoại lai, cho dù Hà Nội trở trời v́ sự thay đổi thời tiết ở Mạc tư Khoa và Sài-g̣n nóng lạnh v́ khí hậu bất thường ơ Hoa Thịnh Đốn.  Và  ngày nay, nói về cuộc chiến Việt Nam, người Tây phương thường gọi : Chiến Tranh Việt Nam Một để chỉ giai đoạn 1945 – 1954 và Chiến Tranh Việt Nam Hai để chỉ giai đoạn 1954 – 1975. Danh nghĩa như thế nào đi nữa th́ cuộc chiến dai dẳng ba mươi năm là một ḷ sát sanh khổng lồ đă thiêu hủy hàng triệu binh sĩ và thường dân của hai miền Nam Bắc lẽ ra có thể tránh được. Những nước thuộc địa khắp nơi trên thế giới từ Á Châu đến Phi Châu đến Mỹ Châu La Tinh, sau Đệ Nhị Thế Chiến, dần dà thu hồi được độc lập mà không có một cuộc chiến tranh tương tàn khốc liệt và dai dẳng như Việt Nam, v́ họ không có một đảng chính trị liên kết chặt chẻ với phong trào Cọng Sản quốc tế.  

Trên b́nh diện quốc tế, Liên Xô và khối Đông Âu tan rả sau hơn 70 năm ḍ dẫm xây dựng Xă Hội Chủ Nghĩa với hàng triệu sinh linh lót đường mà vẫn chơi vơi, đành quay lại 180 độ. Ở Việt Nam sau hơn 50 năm ở Miền Bắc và hơn 30 năm ”Mỹ cút Ngụy nhào”, không có một xă hội lư tưởng như theo sách vở và tuyên truyền rằng, một xă hội trong đó mọi người đều b́nh đẳng, giai cấp bị triệt tiêu, làm theo sức, hưởng theo nhu cầu, mọi quyền tự do được phát huy và tôn trọng….Thay vào đó lại phát sinh  một giai cấp thống trị hà khắc đối với quảng đại quần chúng hơn cả thời phong kiến và thực dân. Thưc trạng ở Việt Nam ngày nay đă phơi bày mặt trái của tấm huy chương XHCN. 

C̣n về phía ”quốc gia”, có thể có nhiều người không đồng ư với cách nh́n này. Thực sự mà nói, nếu có ư nghĩa ”quốc gia” ở miền Nam Việt Nam th́ chỉ có kể từ sau hiệp định Geneve 1954. Giai đoạn 1945-1954 có thể nói là giai đoạn hậu thuộc địa Pháp. Mặc dầu trên danh nghĩa có một Quốc Gia Việt Nam trong khối Liên Hiệp Pháp dưới quyền quốc trưởng Bảo Đại, nhưng trên thực tế Pháp nắm quyền chủ động. Hiệp định Geneve đă khai thông một bế tắc cho lập trường quốc gia chống cọng. 

Thời kỳ đầu của nền Đệ Nhất Cọng Ḥa có thể nói là một thời kỳ tương đối ”thái b́nh thịnh trị”.Bắc Việt tin rằng sẽ ăn chắc trong cuộc hiệp thương chính trị, tổng tuyển cử  vào năm 1956 để giải quyết sự thống nhất Nam-Bắc với lối bầu cử áp chế ở miền Bắc như hầu hết các nước Cọng Sản, với những cán bộ nằm vùng đang được âm thầm gài lại ở Miền Nam để chờ cơ hội. Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm vin vào việc Quốc Gia Việt Nam không kư vào bản hiệp định Geneve nên không có bổn phận thi hành. Điểm son của nền Đệ Nhất Cọng Ḥa là dẹp bỏ lực lượng vũ trang của giáo phái, chấm dứt t́nh trạng sứ quân ở Nam Phần. Nhưng tổng thống Ngô Đ́nh Diệm trị quốc như tề gia, để cho gia đ́nh và tôn giáo xen vào nhiều quyết định lớn của quốc gia. Mới đây, ông Nguyễn Hữu Châu (hay Trần Ngọc Châu, nguyên thị trưởng Đà Nẵng), trong một bài viết có đề cập đến vai trò của Đức Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục. Theo ông Châu, Đức Tổng Giám Mục đã quyết định nhiều việc nước với tư cách ”quyền huynh thế phụ”. Khi quyền hành của ”Nhà Ngô” đă được củng cố, vào những năm đầu thập niên 60 thế kỉ trước, những nhóm chữ có ư nghĩa tiêu cực gán cho chế độ được truyền tụng trong dân gian ”độc tài”, ”gia đ́nh trị”….Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm có lẽ quá tin tưởng vào sự vững chắc của pḥng tuyến chống Cọng Đông Nam Á với những vai tṛ tưởng rằng không thay thế được đối với Mỷ như Lư Thừa Vảng, Tưởng Giới Thạch, Mac Saysay, Sukarno, Ngô Đ́nh Diệm nên không để cho một thế lực hay cá nhân nào cho là không đáng tin cậy xen vào bộ máy chính quyền. Điển h́nh nhất là phản ứng thô bạo của chính quyền đối với Tuyên Ngôn Caravelle. 

Đầu thập niên 1960 cán bộ nằm vùng và du kích quân cọng sản bắt đầu khuấy động mạnh ở nông thôn. Ở thành thị không khí chính trị ngột ngạt v́ nạn độc tài. Đây là thời gian nhiều người ”trở lại đạo” để mưu cầu địa vị hay giữ địa vị. Trước t́nh trạng đó, 18 chính khách gồm những nhân vật danh tiếng đă họp nhau, gởi cho tổng thống Ngô Đinh Diệm một bức thư với lời lẽ trang trọng, tế nhị và ôn ḥa, đưa đề nghị khẩn cấp thay đổi chính sách, ban hành các quyền tự do dân chủ để cứu văn t́nh thế đất nước. 

Thư gởi đi mà chẳng thấy hối âm nên nhóm nhân sĩ quyết định công bố bức thư qua một cuộc họp báo tổ chức ở khách sạn Caravelle ngày 26-4-1960. V́ thế về sau bức thư được gọi là Tuyên Ngôn Caravelle. Ngay ngày hôm sau mật vụ và cảnh sát lùng bắt những người đứng tên trong bức thư, cho dù họ là những nhân vật ôn ḥa và nổi danh, như  Trần Văn Hương, Trần Văn Đỗ, Phan Khắc Sửu, Nguyễn Lưu viên, Phan Huy Quát, Phan quang Đán, Trần Văn Tuyên… Bác sĩ Trần Văn Đỗ, chú ruột của bà Ngô Đ́nh Nhu là một trong những người đầu tên bị đưa vào khám. Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm không chấp nhận đảng phái hay cá nhân đối lập, cho dù là những đảng phái có nhiều thành tích chống cọng như Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cũng trong thời gian này một sự kiện xảy ra như một đ̣n nặng nề giáng thêm xuống chế độ Đệ Nhất Cọng Ḥa là vụ tự tử của nhà cách mạng lăo thành, nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, cột trụ của Tự Lực Văn Đoàn. Ông tự tử để tránh bị bắt, bị đưa ra ṭa  Ông viết huyết thư để lại, nói rằng chỉ có lịch sử mới phán xét ông, chứ không phải chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Ông Phan Huy Quát đắc cử dân biểu Quốc Hội Lập Hiến, nhưng bị loại v́ ”gian lận bầu cử”. Các ông Phan Quang Đán, Nguyễn Trân cũng đắc cử dân biểu Quốc Hội năm 1959 nhưng bị loại, v́ ”vi phạm luật bầu cử” ! Người ta qui kết rằng nền Đệ Nhất Cọng Ḥa có tham vọng Công Giáo hóa miền Nam Việt Nam. T́nh h́nh chính trị nội bộ Miền Nam diễn tiến càng ngày càng căn thẳng và phức tạp cho đến một lúc phải ”thay ngựa giữa ḍng”. Mà đă gọi là ngựa th́ không thể nào tự chạy đến đích mà phải có người cầm cương. 

Người cầm cương đă tiếp tục quyết định vận mạng của Việt Nam dưới thời Đệ Nhị Cọng Ḥa, dùng viện trợ quân sự và kinh tế ép buộc quân dân Miền Nam theo chính sách chống cọng kiểu Mỹ. Ngày 8 tháng 3 năm 1965 Hoa Kỳ đổ bộ hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến lên Đà Nẵng trước sự ngỡ ngàng của thủ tướng Phan Huy Quát. Kể từ đó, Hoa Kỳ đă ”Mỹ Hóa” cuộc chiến ở Việt Nam, trực tiếp tham chiến, có lúc quân số lên đến nửa triệu. Mỗi lần gia tăng lực lượng tham chiến theo nhu cầu chiến trường đều được quyết địn trước ở Hoa Thịn Đốn. Chính phủ Việt Nam chỉ được thông báo lấy lệ. Sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ và Đồng Minh ở Miền Nam Việt Nam đă được Bắc Việt triệt để khai thác làm lợi khí tuyên truyền ở trong nước và trên trường quốc tế, cáo buộc Mỹ xâm lăng Việt Nam.  

Mỹ có nhằm mục đích xâm lăng Việt Nam không ?  Cho đền giữa thế kỷ 20, hầu hết các nước ở châu Á đều là thuộc địa của Tây phương, trừ Nhật Bản va Thái Lan, trong đó Phi Luật Tân là thuộc địa của Mỹ.  Sau hơn ba thế kỷ bị người Tây Ban Nha từ Mexico chiếm làm thuộc địa, Phi Luật Tân được nhường lại cho Mỹ vào năm 1898 sau cuộc chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha. Năm 1934 Phi Luật Tân được quyền tự trị nội bộ rộng răi. V́ vậy mà trong thời kỳ bị Nhật chiếm đóng từ 1941 đến 1944, Phi Luật Tân đă sát cánh với Mỹ để chống Nhật. Sau Đệ Nhị Thế Chiến Phi Luật Tân là nước được trao trả độc lập sớm nhất, năm 1946. Nếu muốn chiếm thuộc địa th́ đă có sẵn một cựu thuộc địa, hà cớ chi Mỹ lại phiêu lưu dấn thân vào cuộc chiến Việt Nam, gián tiếp  tiếp tay cho quân viễn chinh Pháp, rồi về sau trực tiếp tham chiến. Một cuộc chiến Mỹ phải trả một giá quá đắt về tài sản, nhân mạng và hệ lụy lâu dài của nó như một vết thương hằn sâu vào lịch sử và xă hội Mỹ. ”Đế quốc Mỹ” tham chiến ở Việt Nam không phải v́ ư đồ xâm lược, nhưng muốn biến Miền Nam Việt Nam thành một tiền đồn chống cọng, sau khi Trung Cọng đă làm chủ lục địa Trung Hoa vào năm 1949. Nhưng cách thức chống cọng kiểu Mỹ, những quyết định gần như đơn phương của Hoa Thịnh Đốn về chiến cuộc và sự hiện diện của quân đội Mỹ ở Miền Nam đă tạo cho Miền Bắc một lợi thế tuyên truyền, không những trong nước mà rộng khắp cả thế giới. Trong ṿng tay bảo bọc của Mỹ, quân dân Miền Nam bị giới hạn ư nghĩa phát huy lập trường quốc gia chống cọng sản xâm lăng.

Bắc Việt càng mở rộng chiến tranh, Phong Trào Ḥa B́nh và Phản Chiến càng lan tràn khắp các quốc gia Tây phương, kể cả ở Mỹ. Đâu đâu cũng đ̣i Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Dần dà hoàn cảnh buộc Mỹ phải thay đổi lập trường về cuộc chiến. Con đường đi đến ḥa b́nh là con đường Việt Nam Cọng Ḥa bị cưỡng bức đến bờ vực thẳm với Hiệp Định Paris Kư kết ngày 27 tháng 1 năm 1973. Hiệp định này qui định những điều khoản vô cùng bất lợi cho Việt Nam Cọng Ḥa. Chẳng hạn điều 5 qui định trong ṿng 60 ngày Hoa Kỳ và Đồng Minh phải rút về nước mà chẳng đề cập ǵ đến sự hiện diện của quân đội của Việt Nam Dân Chủ Cong Ḥa tại miền Nam, hay điều 7 qui định một cách tổng quát là Việt Nam Cọng Ḥa và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam không được nhận quân đội, cố vấn, kỹ thuật chiến tranh, khí giới đạn dược vào Miền Nam Việt Nam…...Vị thế của Việt Nam Cọng Ḥa bị đặt ngang hàng với một tổ chức ngoại vi trá h́nh của Bắc Việt. Cuộc chiến được ”Việt Nam hóa”. Quân dân Miền Nam tiếp tục chống cọng trong cái thế một vơ sĩ bị trói hai tay trên vơ đài. Tinh hinh này lại được đối phương nhận thức rơ ràng hơn phía Mỹ và việt Nam Cọng Ḥa. Trong ”Đại Thắng Mùa Xuân”, thượng tướng Văn Tiến Dũng viết ;”Mỹ đă giảm viện trợ làm cho kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng quân đội Sàigon không thể thực hiện theo ư muốn. Hỏa lực sút giảm 60%, v́ thiếu bom đạn; khả năng di động giảm 50% v́ thiếu máy bay, xe cộ và nhiên liệu.” Có một sự kiện khó hiểu là mới đây, trên các diễn đàn có phổ biến một phần Hôi Kư của tướng Vơ Nguyên Giáp. Tướng Giáp viết rằng, năm 1972 nếu không lực Hoa Kỳ tiếp tục cuộc oanh tạc Bắc Việt thêm vài ngày nữa, Hà Nội sẽ đầu hàng. Chẳng lẽ một điều quan trọng như vậy mà CIA không nắm bắt được để Hoa Kỳ phải ḥa đàm trong thế thua thiệt về Hiệp Định Paris, nguyên nhân sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam.  

Nói lên những chuyện ai cũng biết để minh thị một điều: Trong thế phân lập Quốc-Cọng, sự chọn lựa lập trường quốc gia không phải là không trả giá. Cứ nhắn mắt mà chống cọng theo kiểu Mỹ, theo ông Ngô Đ́nh Diệm, theo các tướng lảnh mà có người sớm đánh tối đầu gây cho ḿnh cái cảm tưởng có sự mất mát một phần khí tiết của kẻ tự nguyện dấn thân 

 Chạy giặc và ”Chạy giặc”.  Lại ở hay đi ? 

Dòng ”cử tri bỏ phiếu bằng chân” như những làn sóng cuồn cuộn trên quốc lộ một xuôi về phía Nam từ B́nh Định, Phú Yên, từ các tỉnh Cao Nguyên đă được lệnh ”di tản chiến thuật” đổ về miền duyên hải. Đến Nha Trang như một vị trí an toan đầu tiên, trường nào trống là họ tấp vào trú tạm. Chính quyền Khánh Ḥa-Nha Trang đă ra lệnh cho ty Giao Dục và Thanh Niên thiết lập ba trại tiếp cư tại ba trường Trung Học lớn là Vơ Tánh, Nữ Trung Học va Kỹ Thuật. Nhưng chỉ trong hai ngày số trại tiếp cư lên đến 27. Nhiệm vụ điều hành các trại tiếp cư do Ty Giáo Dục đảm nhiệm với sự yểm trợ của Ty Xă Hội, Y Tế, Cảnh Sát Quốc Gia và Pḥng Truyền Tin tỉnh. Việc điều hành gặp vài trở ngại. Thứ nhất, trở ngại nhân sự. Một số giáo chức đă tự động rời nhiệm sở, dù có lệnh công chức phải ứng trực 100%. Số c̣n lại phải làm ngày làm đêm mà thiếu người để luân phiên; 24/24 giờ giấc nào cũng có người nhập trại, phải cập nhật danh sách để chuyển nhu cầu cho ty Xă Hội và Y Tế. Thứ hai, số người nhập trại rất phức tạp. thường dân có, công chức có, quân nhân với cả đoàn quân xa với đầy đủ vũ khí và gia đ́nh cũng có. Anh em quân nhân nóng lòng với chuyện gạo cơm, mắm muối, chiếu chăn cho gia đ́nh nên gây trở ngại không ít cho ban điều hành mà cảnh sát không dám can thiệp. Tôi đă tŕnh bày với các trung tâm trưởng rằng, mặc dầu có lệnh công chức phải ứng trực 100%, nhưng chúng ta gánh vác việc này là do ḷng tự nguyện hơn là một trách nhiệm bị ràng buộc có tính hành chánh. Tuy vậy, từ nay chúng ta hăy nghe ngóng, quan sát để có một phản ứng kịp thời thích hợp cho gia đ́nh. 

Một cuộc chạy giặc lạ lùng, chỉ thấy chạy và chạy, khộng thấy bóng dáng giặc cũng không nghe tiếng súng. Liên lạc qua điện thoại từng ngày từng giờ được biết các thành phố lớn ở phía Bắc lần lược bỏ ngỏ; Huế rồi Đà Nẵng, đến Qui Nhỏn, Tuy Ḥa…Đối phương không đánh mà thắng, thắng không kịp. Những thành phố bỏ ngỏ không dám vào, phải có ”cách mạng 30-4” đi rước mới vào tiếp nhận. Đánh như thế mà Mỹ cũng cút, ngụy cũng nhào mới lạ! 

Chiều ngày 31 tháng 3, tôi họp với 27 trung tâm trưởng tiếp cư. Sau khi nắm được tình hình chung và nhu cầu thực tế, tôi điện thoại cho hai cơ quan yểm trợ; chẳng có trả lời. Đến thẳng dinh tỉnh trưởng, tôi thấy cuộc nói chuyện giữa đại tá tỉnh trưởng với hai ông phó tỉnh, phó thị cùng năm ba trưởng cơ quan  rất căn. Nghe tôi báo cáo tình hình, đại tá tỉnh trưởng nói : Kể từ giờ phút này, không bàn đến công vụ nữa. Mặt trận Khánh Dương đã vỡ, muộn lắm là  chiều mai một sư đoàn pháo VC sẽ uy hiếp Nha Trang. Sáng mai các anh đến đậy, tôi đâu caca anh đó. Tôi nghe mà rụng rời tay chân. Với tầm hiểu biết của chín tuần huấn luyện quân sự, tôi nghĩ một sư đoàn pháo với cơ man nào là súng cối, đại bác sẽ dập vào Nha Trang thỉ còn chi là thành phố và dân chúng ! Vả lai, tôi đã động viên anh em cố gắng làm việc vài ba ngày nữa, vì đã nghe các trại tiếp sẽ chuyển vào Phan Rang hay Phan Thiết. Chẳng lẽ bây giờ bỏ mặc anh em, âm thầm chạy tháo thân một mình 

Để tránh rắc rối với quân cảnh và cảnh sát trong giờ giới nghiêm, tôi mượn xe và tài xế của đại tá tỉnh trưởng chạy quanh giải quyết một số công việc khẩn. Tiếp xúc với các trung tâm trưởng hay người trực qua điện thoại hoặc qua máy truyền tin, tôi chỉ nói ngắn gọn: Tôi không có th́ giờ giải thích dài ḍng. Kể từ giờ phút này, anh em bỏ trống cửa kho, để mọi sổ sách liên quan đến trung tâm trên bàn làm việc rồi lặng lẻ về để lo việc nhà. Giả từ và chúc lành cho nhau mà không cầm được nước mắt. Ngày mai sẽ ra sao trong t́nh trạng nhiểu nhương sắp tới! Ngày hôm sau, 1 tháng 4 năm 1975, tôi cùng bốn gia đ́nh đồng nghiệp chạy về phía Nam. Đường bị chận ở B́nh Tuy, chúng tôi bị kẹt ba ngày ở Phan Thiết mới thuê được ghe đi Vũng Tàu và đến Sài G̣n chiều ngày 5-4-1975. 

Từ trung tuần tháng tư, không khí Sàigon sôi động lên từng giờ vì tình hình chính trị căn thẳng bên trong và áp lực quân sự nặng nề của Bắc quân từ bên ngoài. Các Ty Giáo Dục chạy giặc tập trung làm việc lại ở Sài-gòn, chủ yếu là làm lương tháng tư cho giáo chức và nhân viên chạy loạn.. Nhưng vì thủ tục rườm rà của Kiểm Soát Ước Chi nên chẳng có ai lảnh được tháng lương cuối cùng trong đời làm việc của mình. Làm việc mà tai mắt để ngoài đường, quan sát và nghe ngóng từ Dinh Độc Lập qua trụ sở Quốc Hội, từ Tòa Dại Sứ Mỹ đến phi trường Tân Sơn Nhất…Đâu đâu cũng nghe bàn tán chuyện ra đi. Có nhiều thông tin trái ngược nhau, chẳng biết tin vào đâu. 

Trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, một sĩ quan cấp tá, nghe nói đã từng làm việc với thiếu tướng Nguyễn Hòa Hiệp đặt cọc mua một cái nhà gần phi trường, tỏ ra nắm vững thông tin đã nói với tôi : Chẳng chạy đi đâu hết, cậu để mà xem. Đồng thời nghe phong thanh giải pháp Merillon. Theo đó, Bắc Việt không tiến chiếm toàn cỏi Miền Nam mà duy trì một phần đất cho hai phe: Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Việt Nam Cọng Hòa! Mới gần đây, trên mạn internet có phổ biến một đoạn băng, ghi âm hồi ký của Đại Sứ Pháp Merillon viết về giai đoạn cuối cùng của Việt Nam Cọng Hòa. Trong đó, ông Đại Sứ cho biết đã có sự thỏa thuận với Chu Ân Lai và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam về giải pháp một ”Miền Nam Thu Hẹp”. Và ông qui kết chính tướng Dương Văn Minh đã làm hỏng kế hoạch này, dồng thời ông cho rằng tướng Minh đã giết chết hai nền Cọng Hòa ở Miền Nam. 

 Lấy sự hiểu biết tầm thường như của tôi để luận về thời cuộc cũng thấy trong tình thế ”một tuần ba vua” của Miền Nam vào cuối tháng tư 75 thì đời nào con cáo già Lê Dức Thọ lại không thừa thắng xông lên mà lại chấp nhận giải pháp Merillon. Vả lại, Bắc Việt nặn ra Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chỉ là nhu cầu giai đoạn chứ đâu có xem chính thức là một thực thể chính trị. Bỏ qua một bên lối phê phán của phe này đối với cánh khác. Thử nghiêm chỉnh đặt một vấn đề: Khuôn mặt nào trong số chính khách Miền Nam có thể cứu vản đất nước trong lúc Bắc Việt đang ở trong thế gần như ”bất chiến tự nhiên thành”? Tôi không có ý muốn bênh vực hay phê phán tướng Minh, chỉ hơi ngạc nhiên một chút là ông tin vào đâu để đòi cho được cụ Trần Văn Hương trao quyền tổng thống, khi có thể đếm được từng ngày ngồi trên ghế này. Phải chăng ông muốn đóng vai một Petain Việt Nam?

Ngày 24 tháng 4 năm 1975 tại nhà anh Tôn Thất Kiên có một buổi họp mặt khá trưởng giả với rượu Tây bên bàn mạc chược. Ngoài chủ nhà còn có các anh Ngô Nẩm, Trương Ân, Đặng Canh Thìn, một bác sĩ quân y tôi không nhớ tên và tôi. Chúng tôi có bàn đến chuyện đi hay ở lại, và nếu đi thì đi như thế nào. Mỗi người một ý. Tôi nêu lên một ý kiến dứt khoát, nếu còn một phần đất nào nằm dưới quyền kiểm soát của Việt Nam Cọng Hòa, tôi sẽ chạy đến đó. Còn không, tôi sẽ chấp nhận thực tế. Tôi không ”chống Mỹ cứu nước”, nhưng cảm thấy tủi nhục khi Quốc Hội Mỹ đặt Miền Nam Việt Nam lên bàn mổ xẻ để xét quân viện cứu nguy khẩn cấp. Miền Nam đã trở thành một món hàng ế ẩm rẻ tiền. Từ quân viện 1,1 tỉ do tổng thống Nixon hứa hẹn trước khi từ chức, bị cắt xén còn lại 700 triệu, khấu trừ 400 triệu tiêu thâm vào tài khoá năm trước. 300 triệu để cứu nguy Miền Nam cuối cùng cũng không có. Chỉ có một ngân khoản để đưa một số người Việt Nam làm việc cho Mỹ ra khỏi nước, tránh bị cọng sản trả thù. Sau này, đọc các tác phẩm của tiến sĩ Nguyễn tiến Hưng, thấy cám cảnh cho thân phận một đặc sứ của tổng thống Thiệu bị rẻ rúng như thế nào khi ”đi ăn mày viện trợ” Ba mươi bốn năm về trước, 1,1 tỉ đô-la để cứu nguy một đất nước không tìm đâu ra khi đồng minh đã quay lưng lại. Ngày nay, mổi năm đô la đổ vào Việt Nam bảy tám tỉ để làm giàu cho những người ngồi xổm trên quyền lực! 

Tôi đã đặt vấn đề rõ ràng: Anh em chúng ta gồm có luật sư, bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, có thể xem là những thành phần trí thức của Miền Nam. Ai trong chúng ta đã làm việc cho Mỹ để được bốc đi? Hoặc bằng một cách nào đó qua được Mỹ, nếu một phóng viên hỏi cắc cớ, tại sao những trí thức như các anh còn chạy theo Mỹ khi chiến tranh đã kết thúc thì biết làm sao mà trả lời. Và nói cho ngay tình, tôi có muốn chạy cũng không phải dễ. Vợ con đùm đề, chẳng thế chẳng thần biết níu vào lưng ai.  

Cái giá không muốn ”chạy giặc” hay không ”chạy giặc” được là sáu năm tù, chẳng học tập cải tạo gì được với ông trại phó không biết chữ và đám lau chau công an mà tù khi nào cũng ” thưa, trình cán bộ”.  Còn cải tạo lao động thì khá tốt, tù khổ sai mà không lao động tốt thì còn chi là vinh quang! Ra tù với giấy ”tạm tha” và lệnh quản chế một năm. Điều này có nghĩa là ra khỏi nơi cư trú phải có giấy phép đặc biệt, mỗi sáng thứ hai phải đến đồn công an trình sổ ghi chép mọi sự sinh hoạt hằng ngày trong tuần. Con cái học hành bị trở ngại vì lí lịch ngụy quyền của cha. Những đứa học cấp ba, đậu được ”tú tài bác Hồ”, dù có thi đậu vào đại học cũng không được địa phương cắt hộ khẩu. Những đứa học xong cấp hai không được thi lên cấp ba. Trong nhà lớn nhỏ đều lao vào lao động để mưu sinh. Mới gần năm chục, tôi còn đủ sức lao động nhưng không biết xoay xở sinh kế bằng đường nào. Chẳng xin phép chính quyền địa phương, viết tấm bảng để trước nhà quảng cáo mở ẩu một lớp dạy tư nhưng không có học trò. Ai dám cho con đến học với một người mới ra tù? Vả lại, vào thời buổi ấy học trò thường theo học tư với thầy dạy ở trường để được điểm cao ! Đã tính đi đạp xích lô, nhưng nhiều anh em cựu đồng nghiệp tận tình khuyên can: cái mặt ông mà đạp xích lô ở Nha Trang là bôi bác chế độ, có mà lại vào tù sớm. Tính lui tính tới không còn con đường nào ngoài con đường Đức Trần Hưng Đạo đứng trước căn cứ hải quân đã chỉ : ra khơi. 

Ngả tư sau cùng. Quê hương là đâu ? 

Vơ vét sạch sành sanh hết của cải trong nhà, kể cả bán lô đất 1.050m2 mua trong khuôn viên của bác Thái Văn Cư, thân phụ của đồng nghiệp Thái Hồng Ngọc bên Đồng Đế để dưỡng già về sau, cùng với sự giúp đỡ của bạn bè, tôi và đứa con trai đầu lòng ra đi. Chuyến đi được sắp đặt cho bốn gia đình và thân nhân. Sau sáu ngày đêm lênh đênh trên biển cả chúng tôi cặp bờ Phi Luật Tân vào ngày 31-5-1982. May mắn thay, chuyến hải hành xuôi chèo mát mái như một cuộc đi dạo trên sông! 

-               Tại sao anh xin định cư ở Mỹ? Một nhân viên phái đoàn phỏng vấn Mỹ hỏi tôi ở trại tị nạn Palawan.

-               Tôi có nhiều bằng hữu ở khắp nước Mỹ. Tôi đã đến Mỹ hai lần và biết qua nước Mỹ. Tôi và con tôi có thể nói được ít nhiều tiếng Anh sẽ ít gặp trở ngại khi làm lại cuộc đời. Tôi trả lời.

-               Anh có muốn bảo lảnh gia đình còn lại ở việt Nam và đứa con đang định cư ở Dan Mạch sang Mỹ không ?

-               Đó là đều mong muốn duy nhất của tôi.

-               Anh rất thành thật. Nhiều người tị nạn không muốn tiết lộ có thân nhân định cư ở nước khác, sợ bị Mỹ từ chối.

-               Tôi không thuộc diện chối bỏ một đứa con để được đi Mỹ.

-               Dù anh có một đứa con đang định cư ở Đan Mạch, nhưng anh đã ở tù sáu năm và trước kia đã giữ một chức vụ điều khiển nên chúng tôi chấp thuận cho anh và con anh đi Mỹ.

Hai ngày sau, anh Mỹ này gọi tôi lên văn phòng và nói: Xin lỗi anh, tôi đã quyết định lầm. Nếu Đan Mạch từ chối, chúng tôi sẽ chấp thuận cho cha con anh đi Mỹ. Tái ông thất mã, biết đâu là may đâu là rủi. Tôi hoàn toàn không thất vọng bị Mỹ từ chối vì có một đứa con vượt biên năm 1980, được tàu Đan Mạch vớt và đang định cư tại nước này. Một người bạn trong trại tị nạn giới thiệu một em học trò cũ ở trường Nguyễn Huệ Tuy Hòa có cùng họ Nguyễn để nhờ bảo lảnh sang Úc. Em này sốt sắn, yêu cầu tôi cung cấp một số dử kiện để lập hồ sơ. 

Một buổi chiều thứ sáu trung tuần thàng 12 năm 1982 cô Janine, đại diện Cao Ủy Tị Nạn tại trại Palawan thông báo chúng tôi có giấy đi Đan Mạch. Tôi cho cô ấy biết là chúng tôi có xin định cư tại Úc, chẳng biết kết quả ra sao. Tôi làm việc với Hội Đồng Đại Diện trại tị nạn nên có chút quen biết riêng. Cô ấy sốt sắn hứa sẽ liên lạc với tòa Đại Sứ Úc vào sáng thứ hai để hỏi tin tức. Bất ngờ ngày chủ nhật một đại diện tòa Đại Sứ Úc ớ Phi Luật Tân đến trại, mang theo danh sách 86 người được Úc chấp thuận cho định cư, trong đó có hai cha con tôi. Cô Janine báo ngay cho tôi và nói: các anh là những người rất may mắn. Nhiều thuyền nhân ở trại bốn năm năm chưa được nước nào nhận. Trong lúc các anh chỉ sáu tháng mà được hai nước nhận cho tái định cư. Chúc mừng ! Nếu muốn đi Úc phải ở lại trại thêm hai tháng, chờ khám sức khỏe. Còn muốn đi Đan Mạch, chậm nhất là ngày mai thứ hai 14 tháng 12 phải trả lời để chúng tôi thu xếp cho các anh rời Palawan ngày hôm sau. Các anh sẽ lên đường đi Đan Mạch ngày thứ năm 17 tháng 12   

Đường về Việt Nam đã bị bít lối. Vào đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, kẻ ra đi bị qui kết là phản bội, còn mong chi ngày trở về. Câu tục ngữ ”ghét của nào Trời trao của đó” không đúng với tôi trong trưởng hợp này. Giận và ghét đồng minh Mỹ nhưng đâu được đi Mỹ. Ngả tư đường chỉ còn hai hướng: Đan Mạch ở Bắc Bán cầu và Úc ở Nam bán cầu. Tôi không đưa ra một quyết định nào, chi phân tích sự lợi hại cho bản thân và gia đình của hai hướng đi với con. Đi Úc, có chút vốn liếng ngôn ngữ nhưng gia đình chia ra ba nơi. Đi Đan Mạch, tuy gia đình chỉ còn hai nơi nhưng gặp trở ngại lớn là phải bắt đầu học Đan ngữ từ a,b,c…Một cô gái Anh làm việc thiện nguyện ở trại tị nạn nói, cô ta từng ở Đan Mạch ba tháng mà không phát âm chính xác được từ ØL (có nghĩa là bia). Thêm vào đó, một người quen đang định cư tại Đan Mạch viết thư thăm cho biết, ở vương quốc này mổi năm có 12 tháng mùa đông. Thời gian còn lại là mùa hè! 

Trong tình trạng phân vân chưa quyết thì sáng thứ hai 14 tháng 12, ngày chúng tôi phải trả lời cô Janine đi hay ở thì nhận được thư của đứa con từ Đan Mạch. Nó than thở cảm thấy rất cô đơn. Một số ít ỏi người Việt Nam định cư tại thành phố Odense hoặc có gia đình hay có quan hệ với nhau bằng cách này hay cách khác. Còn nó, tứ cố vô thân nên rất mong tôi và anh nó sớm sang Đan Mạch.Tôi để cho con quyết định. Và tình cảm gia đình vượt lên trên mọi thứ. Hội Đồng Tị Nạn không thông báo cho đứa con ỏ Đan Mạch biết ngày giờ chúng tôi đến.Về sau mới vở lẽ,  nhiều thuyền nhân kinh hãi khi nghe tin được Đan Mạch nhận cho tái định cư. Họ cứ tưởng mổi năm nước này có sáu tháng ngày và sáu tháng đêm! Vì vậy mà đến giờ lên đường là họ trốn. Thân nhân ở Đan Mạch được thông báo ra phi trường đón người nhà nhưng chẳng có ai khi máy bay đến. Mấy năm về sau, khi đã mọc thêm chút lông chút cánh, tôi làm việc cho Hội Đồng Tị Nạn địa phương. Một ngày mùa đông rét buốt, tôi có bổn phận ra phi trường đón hai thanh niên và một phụ nữ sang từ trại tị nạn Pula Bidong. Rút kinh nghiệm bản thân, tôi yêu cầu nhân viên lái xe đi đón mang theo ba cái mền. Quả nhiên ba người tị nạn xuống máy bay co ro cúm rúm với áo quần mùa hè phong phanh. Trên đường về nơi tạm cư, thấy đất trời mông mênh một màu trắng xóa, cây cối giơ sườn điểm những hoa tuyết đầu cành, cô gái giọng Bắc thốt lên: Giời ơi! Còn kinh khủng hơn vùng kinh tế mới. Cây cối không mọc lá nỗi thì còn làm ăn gì được. Một trong hai thanh niên nói nhỏ với tôi: Người ta đi Mỹ đi Úc, cháu bị đi Đan Mạch, không dám báo về nhà, sợ gia đình mặc cảm ! 

Ở Đan Mạch mà nói tốt cho Đan Mạch chẳng khác nào mèo khen mèo dài đuôi. Vương quốc nhỏ bé với 5,3 triệu dân ở Bắc Âu này có một hệ thống an sinh xã hội tuyệt vời. Giáo dục và y tế miển phí. Từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi từ giả cuộc đời lúc nào cũng được nhà nước quan tâm bằng cách này hay cách khác. Đan Mạch còn là một nước thật sự dân chủ pháp trị, ”pháp bất vị ông to bà lớn”. Mấy tháng trước đây bà bộ trưởng tư pháp lái xe quẹo phải, tông một người đi xe đạp chạy thẳng. Cảnh sát lập biên bản, tịch thu bằng lái xe. Đó là một trong rất nhiều thí dụ. 

Nếu nói đất lành chim đậu thì Đan Mạch quả là đất quá lành cho chim đậu. Tính đến nay, con chim thiên di lạc đàn đã gởi thân nơi đây hơn 26 năm, thời gian dài hơn bất cứ ở một nơi nào trên quê hương của nó. Tôi đã mang quốc tịch Đan Mạch. Đan Mạch đải ngộ tôi trong công ăn việc làm, cho phép toàn bộ gia đình đoàn tu, cưu mang tôi trong tuổi già. Tôi dược đối xử ngang hàng với người Đan về nhiều phương diện. Nhưng tôi chưa cảm nhận được đất nước này là ”quê hương thứ hai” của mình. Những thứ tạo-ra-tôi, từ hình hài, ngôn ngữ, phong tục tập quán, gạo cơm, mắm muối… không phát xuất từ đây. Là công dân Đan Mạch nhưng tôi lại băn khoăn, khắc khoải với chuyện Hoàng Sa, Trường Sa đã rơi vào tay giặc, ải Nam Quan, thác Bản Giốc đã đổi chủ thay ngôi…Vì tôi là một người Việt Nam ư ?  Người Việt mà về quê phải xin hộ chiếu nhập cảnh, bị chính người Việt đối xử như du khách ngoại quốc ! Tôi đã trở lại Việt Nam mấy lần, nhưng không biết dùng từ gì cho chính xác: ”Về-Việt-Nàm” hay ”Đi-Việt-Nam”. Về là về nhà, về nơi chôn nhau cắt rún của mình, về quê hương…Nhưng trong hoàn cảnh người Việt tha phương, nói ”Về Việt Nam” người ta có cho là mình nhìn lạm hay không. Còn nói ”Đi Việt Nàm” thì có vẻ vô tình quá, sao đành. Rốt cuộc rồi những ngả ba, ngả tư đường vẫn còn tồn tại trên địa lí thực tế hay trong tâm tư. 

Đôi lời tâm tình. 

Đường đời tôi trải qua trên sáu mươi năm kể từ ngày ra khỏi vòng tay bảo bọc của song thân, hoa gấm cũng có mà chông gai cũng nhiều. Những hướng đi mà tôi đã chọn hay do hoàn cảnh đưa đẩy phần nhiều ”tiền hung hậu kiết”. Đôi khi có một vaì thành tựu hoặc may mắn bất ngờ mà tôi nghĩ sức người khó có thể đạt được, và hình như có sự an bài của một sức mạnh siêu nhiên. May mắn cho tôi là đã chọn nghề dạy học và có cơ duyên tiếp cận với Đạo Phật; hai điều ràng buộc tôi vào cái khung Đạo Lý và Đạo Đức Nghề Nghiệp. Thiếu những ràng buộc này, chẳng biết những tánh xấu như tham, giận, kiêu căng… sẽ đẩy tôi đến những ngõ cụt nào trên đường đời Tôi đã gặt hái được những thành quả gieo trồng từ kiếp trước chăng hay đã vay nợ trong kiếp sống hiện tiền ? 

Nghĩ cho cùng, cho dù đường đời có vạn nẽo, cho dù bất cứ đang ở đâu, ai ai cũng chỉ có một ”lối về” với hai ngả : Thiên Đường/Cỏi Tịnh Độ hay Địa Ngục, tôi không lo, vì cả hai nơi tôi đều có bằng hữu. Lo là lo ít nhiều phải thanh thỏa những món nợ đời để được an lạc trong kiếp sống hiện tiền.

Nguyễn Đức Giang     

   

  © Chuyển Luân 2008

 

CHUYỂN LUÂN ONLINE