WWW CHUYỂN LUÂN

Bài trong tháng

CHUYỂN LUÂN NĂM 2009

090228 Cháy
09304 Kẻ đánh lừa ba chế độ
Ai đă "nối giáo cho giặc"?
Alexandre Rhodes?!
Anthony Darlic: Ừa nhỉ, nếu ai cũng ốm cả...?
Anthony Darlic_Oba ma đă xuống tay
Anthony Darlic_Ăn giày
Bye bye giấc mộng con 2009
Bài đă đăng năm 2009
Bông Hồng ấy ngày xưa
Bệnh viện Hải thượng_Blog Nguyễn Triều: Phím
Bệnh viện Phật giáo_An ninh TD
Bệnh viện Phật giáo_An ninh TD 2
Bệnh viện Phật giáo_Báo Giác ngộ
Bệnh viện Phật giáo_Báo Giác ngộ 2
Bệnh viện Phật giáo_Báo khác
Bệnh viện Phật giáo_CATPHCM 2
Bệnh viện Phật giáo_Chuyện cá tháng Tư"
Bệnh viện Phật giáo_Chương tŕnh Hội thảo quốc tế Phật giáo
Bệnh viện Phật giáo_Cà khịa
Bệnh viện Phật giáo_Công an TP 1
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ 3
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ 4
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ 4_Minh Tâm làm từ thiện
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ Phỏng vấn bà Nhu Ḥa
Bệnh viện Phật giáo_Giác ngộ: Lá thư biên tập
Bệnh viện Phật giáo_Nguyễn Thiếu Văn bào chữa cho Thích Minh Tâm
Bệnh viện Phật giáo_Nguyễn Thiếu Văn cho DIC sập bẫy
Bệnh viện Phật giáo_Nguyễn Thiếu Văn/Thích Minh Tâm
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao đông 1
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao đông 2
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao đông 3
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao đông 4
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao đông 5
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao động 6
Bệnh viện Phật giáo_Người Lao động 7
Bệnh viện Phật giáo_Pháp Luật
Bệnh viện Phật giáo_Pháp Luật 2
Bệnh viện Phật giáo_Pháp Luật 3
Bệnh viện Phật giáo_Pháp luật 4
Bệnh viện Phật giáo_Pháp luật 5
Bệnh viện Phật giáo_Pháp luật 6
Bệnh viện Phật giáo_Pháp luật 6
Bệnh viện Phật giáo_Pháp luật 7
Bệnh viện Phật giáo_Phỏng vấn bà Nhu Ḥa
Bệnh viện Phật giáo_SGGP 2
Bệnh viện Phật giáo_TBKTSG
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 1_ENG
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 2
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 2_ENG
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 3
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 4
Bệnh viện Phật giáo_Thanh niên 5
Bệnh viện Phật giáo_Tin sưu tầm các báo
Bệnh viện Phật giáo_Tiến sĩ thật hay giả?
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ 2
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ 3
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ 4
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ 6
Bệnh viện Phật giáo_Tuổi trẻ 7
Bệnh viện Phật giáo_Tư cách học thuật và tư tưởng chính trị của Nguyễn Thiếu Văn-Thích Minh Tâm
Bệnh viện Phật giáo_VNEpress 2
Bệnh viện Phật giáo_VNExpress
Bệnh viện Phật giáo_VNExpress 3
Cho nước Mỹ và cho con người
Chuyện buồn đất nước
Chuyện hết ư năm 2008
Chân dung tên đại bịp_Quảng Trí
C̣n điều ǵ Obama chưa nói hết
Dự án Hải thượng Y viện và Quả lựu đạn cuối cùng
Giấc mơ chất lượng Việt
Hoàng Nguyên Nhuận: Người chết hai lần?
Hoàng Đông Tà_Phật cũng ngán Hoà thượng Tiến sĩ Barrister
Hoàng Đông Tà_Phật cũng ngán Hoà thượng Tiến sĩ Barrister
Hoàng Đông Tà_Phật cũng ngán Hoà thượng Tiến sĩ Barrister
Huỳnh Bất Hoặc: Nỗi buồn đối lập
Huỳnh Bất Hoặc: Tới luôn bác tài
HÀNH TR̀NH  HÓA GIẢI CỦA OBAMA
Hải thượng Y viện_Thanh niên 6
Hồng Quang_Bang giao với Vatican: Thách thức sinh tử
Khóc anh Phạm Thế Mỹ
Liên Thành và biến động miền Trung
Lăng ba vi bộ với Kissinger
Minh Trầm_Kư ức về Phạm Thế Mỹ
Mạt cưa mướp đắng
Mắt nhắm, mắt mở
Mặt trời vẫn mọc
Nguyễn Hữu Liêm_Trí tuệ Garcia
Nguyễn Thiếu Văn chống phá nhà nước Việt Nam
Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ qua đời_Thanhnien
Những ngả ba đường
Obama là Phật tử
Obama, cho đến khi núi lở non ṃn?
Phật Giáo dưới góc độ Hiện đại và Hậu hiện đại
Phật giáo được công nhận là tôn giáo vĩ đại nhất thế giới
QUO VADIS?
Thư gửi anh Cao Huy Thuần (nhân đọc Thấy Phật)
Ton giáo dưới mắt người vô chính phủ
Trắng trợn
TU và TÙ - TU TẬP và TẬP TU
Tuần lễ Văn hoá Phật Giáo
Tâm hiện đại
Tản mạn chuyện giữ ghế
VNN_Về thăm làng sư giả
Vài kỷ niệm với Phạm Thế Mỹ
Vũ Ngự Chiêu_TQ chiếm đất Việt nam
Vấn đề tài liệu Sử
Vấn đề tài liệu Sử_Phần 2 & 3
Đôi điều với Liên Thành về Biến động miền Trung
Đôi điều với Ma giữa ban ngày
Ảnh hưởng của Phong trào PG tranh đấu miền Trung

Đất Đai Việt Nam Bị Trung Hoa Nhân Dân Cộng Ḥa Quốc Xâm Chiếm 

Nguyên Vũ Vũ Ngự Chiêu

 

Không ai có thể phủ nhận một sự thực: quốc gia tự nhận là Trung Hoa Nhân Dân Cộng Ḥa Quốc [Zhonghua Renmin Gongheguo] đă kiên nhẫn xâm chiếm và cướp đoạt đất đai của các lân bang hơn 2000 năm qua để lập nên đế quốc hiện nay.

[Trung Hoa có lẽ đă trở thành quốc gia từ đời nhà Shang (Thương, khoảng 1500-1000 TTL). Chính quyền thống nhất đầu tiên ở miền Bắc sông Dương tử là Ch’in Shih Huangti (Tần Thủy Hoàng (246-210 TTL). Chế độ bắt đầu xâm lăng các tiểu quốc miền Nam là Tây Hán hay Tiền Hán (206 TTL-5STL, 25-220)] 

Ngoài những phần lănh thổ của dân Mongols, Tibet và Manchu bị cưỡng ép sát nhập vào lănh thổ, THNDCHQ c̣n tự nhận chủ quyền trên đảo Đài Loan và cả vùng biển Nam, nơi có dầu hỏa và nhiều tài nguyên thiên nhiên khác dưới thềm lục địa, mà họ mệnh danh là “vùng chiến lược sinh tồn.”

[Xem Vũ Ngự Chiêu, “From Embargo to Normalization;” tiểu luận J.D. 5/1999, University of Houston Law School, Houston, TX; unpublished] 

Việt Nam là một trong những nạn nhân trường kỳ của tham vọng đế quốc, thực dân Hán tộc [Hanism].

Những người cầm quyền ở Bắc Kinh hay các thủ đô chính trị khác luôn tự nhận “chủ quyền thượng quốc” trên Việt Nam. Năm 1407, dưới danh nghĩa [pretext] “phù Trần, diệt Hồ” Chu Lệ (Yên vương Lệ, Minh Thành Tông, 1403-1424) xâm lăng và cướp đoạt chủ quyền Việt Nam, đặt ra “Giao Chỉ” rồi “An Nam đô hộ.” Sau 20 năm kháng chiến–do con cháu nhà Trần cầm đầu, hay những lănh tụ địa phương khác, đặc biệt là Lê Lợi–quân Minh phải triệt thoái khỏi nước ta. “B́nh Ngô Đại Cáo” của Lê Lợi–do Nguyễn Trăi soạn thảo–là tuyên ngôn độc lập hùng hồn nhất của người Việt với cường quốc phía Bắc. Tuy nhiên, thực tế chính trị–trong thế giới luật kẻ mạnh–khiến Đại Việt phải chấp nhận hệ thống quan hệ ngoại giao thông hiếu qui tâm về Yên Kinh; nhận sắc phong và triều cống định kỳ vua Trung Hoa. Hệ thống “thông hiếu” [tributary network] này khiến có thể ngộ nhận về chủ quyền chính trị thực sự ở Đại Việt. Thực tế, vua quan Việt luôn tự giữ một khoảng cách vừa phải theo luật kẻ yếu–mềm dẻo, uốn cong mà không găy. Ái Tân Giác La Hoàng Lịch (1736-1794)–thường được biết như Càn Long hay Cao Tông–là vua Trung Hoa cuối cùng nếm mùi thất bại trong cuộc xâm chiếm Đại Việt bằng vơ lực năm 1788-1789.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh, mang quân xâm chiếm, chia ra quận huyện để đặt dân Việt vào “ṿng lễ giáo” Hán tộc [kiểu cho đào mộ tổ tiên Lê Lợi năm 1418; Thông sử, 208 [truyện Trịnh Khả], chỉ là một trong những biện pháp lấn đất giành dân.

Vua quan Trung Hoa không bỏ qua bất cứ cơ hội rối loạn chính trị, hay tranh chấp quyền lực nào trong nội địa Việt Nam để mở rộng bờ cơi. Mặc dù lên giọng giả đạo đức như chẳng xá ǵ một thôn động trong núi, hay ví thử có vàng mọc trên mặt đất cũng chẳng tham, Trung Hoa đă cướp đoạt của Đại Việt nhiều vùng quặng mỏ dài theo biên giới. Mỏ vàng Quảng Nguyên, hay những mỏ sắt, mỏ đồng, mỏ bạc ở Tây Bắc Bắc Việt. Điển h́nh nhất là vào thời nhà Hồ (1400-1407), nhà Mạc (1527-1593, 1593-1677), và thời Lê-Trịnh-Nguyễn-Tây Sơn (1769-1802). Các vua đầu nhà Nguyễn, từ Gia Long tới Thiệu Trị, cũng chấp nhận “bỏ quên” 6 châu Hưng Hóa mất vào tỉnh Vân Nam. Năm 1882, dưới áp lực thực dân Pháp, Tự Đức và những “Hán nhân” khác, c̣n xin nội phụ nhà Thanh–một việc làm khó giữ bí mật ngàn đời! [Sử quan Nguyễn chép vào Thực Lục đời Minh Mạng “Hán nhân” thay v́ người Việt. Diễn giải Hán nhân là người thấm nhuần văn hóa Hán là một ngụy biện lố bịch]

“La vérité sur les relations sino-vietnmiennes;” La Chine et le Monde [“Sự thật về quan hệ Trung Hoa-Việt Nam,” trong Trung Hoa và Thế Giới] (Beijing: Beijing Information, 1982), tr. 102-141; 

Nếu người Pháp không chiếm đóng Việt Nam–“đặt lại quận huyện, mở cửa cho dân An-na-mít vào thế giới văn minh” Đại Pháp [tiêu biểu bằng việc cho Nguyễn Thân-Ngô Đ́nh Khả-Lê Tựu Khiết đào mộ lănh tụ kháng chiến quân Phan Đ́nh Phùng năm 1896, trộn với thuốc súng mà bắn đi, hay treo đầu Hoàng “Ba” Thám ở Nhă Nam suốt 3 ngày năm 1913]–chẳng hiểu t́nh trạng biên giới Việt Nam biến hóa ra sao dưới sự khuynh đảo của bọn thổ phỉ và hải tặc Trung Hoa, cùng lính đánh thuê cho Pháp. (Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, tập III)

Nhưng ngay sau khi cuộc nội chiến Quốc-Cộng (1945-1975) c̣n đang tiếp diễn, THNDCHQ lại bắt đầu một chu tŕnh tằm thực mới. Hai ḥa ước về biên giới đất liền và lănh hải vịnh Bắc Bộ năm 1999 và 2000 mới chỉ là khởi đầu. Đầu thiên kỷ 2000, lănh đạo THNDCHQ bắt chước Mao Trạch Đông tới tắm băi biển Đà Nẵng, tuyên bố muốn thấy thanh thiếu niên Hoa-Việt vui cười an b́nh sống bên nhau, nhưng thỉnh thoảng lại sai chiến hạm tới bắn giết thanh niên Việt chỉ để giành độc quyền những túi vàng đen ở khu vực quần đảo Trường Sa mà THNDCHQ đặt tên là Nansha! [Đó là chưa kể đưa hàng mạo hóa [“nhái”] vào lũng đoạn thị trường Việt Nam; thu mua quặng thô từ những tỉnh biên giới; thường trực áp lực Việt Nam trong nhiều lănh vực, kiểu trúng thầu với giá rẻ mạt những công tŕnh tái thiết do viện trợ quốc tế bảo trợ]

Trong khi đó, một viên chức Lai Châu tiết lộ (năm 2005) rằng thổ dân và thổ quan THNDCHQ ở vùng biên giới tiếp tục xâm lấn lănh thổ Việt Nam. Họ tuyên bố “ở đâu có chuối xanh là lănh thổ Trung Quốc.” Phương cách tằm thực này–tạo nên những cuộc va chạm ở các tỉnh biên giới–nhiều khi không do chính quyền trung ương chủ xướng, nhưng kết quả cuối cùng vẫn là làng bênh làng, “Thiên triều” bắt ép “bồi thần.”

Những vùng đất bị TH xâm lấn nhiều nhất nằm ở phía Tây Bắc hơn phía Đông Bắc–như Trấn Nam Quan (ải Pha Lũy, nay là Hữu Nghị Quan) hay Thác Bản Giốc. Vài địa danh lịch sử như “ải Lê Hoa” trong trận chiến đánh đuổi quân Minh của Lê Lợi, đă “vào bản đồ” Mông Tự, Vân Nam, từ năm nào không rơ.

Nhiều “chuyên viên Trung Hoa” trong nước–v́ một lư do nào đó–vẫn nuôi ảo tưởng về ḷng thành thực của Mao Trạch Đông và tinh thần “quốc tế vô sản” của Mao, đổ mọi trách nhiệm cho Đặng Tiểu B́nh. Không nhận hiểu dă tâm của Mao khi sử dụng xương máu người Việt củng cố trận tuyến chiến lược Đông Nam, trong cuộc đương đầu sắt máu với Liên Bang Mỹ. Nếu c̣n sống và đủ tỉnh táo, những “chuyên viên” này nên đọc lại hồi kư Vũ Đ́nh Hoè, đoạn nói về cảnh Mao tiếp phái đoàn VNDCCH ở Di Niên Đường. Mao thỉnh thoảng ném kẹo táo, trái cây cho Tôn Đức Thắng, Vũ Đ́nh Hoè và các đại diện Việt, ân cần nói: Ăn đi, ăn nhiều đi, rồi đánh giặc cho khoẻ! (Vũ Đ́nh Hoè, Hồi kư, 2004:938) Cũng nên đọc lại những bài viết của Trường Chinh, v.. v... trên tờ Tạp Chí Cộng Sản, trước khi chết không nhắm mắt vào năm 1988.

V́ tư liệu về việc cắt đất, cắt lănh hải cho Trung Cộng của nhóm Lê Công Phụng, do lệnh từ Bộ Chính Trị Đảng CSVN, chưa được bạch hoá–nhưng là một sự thực lịch sử, giống như lá thư Phạm Văn Đồng gửi cho Chu Ân Lai năm 1958 mà chúng tôi đă công bố cách đây hơn 20 năm [Xem Chính Đạo, 55 Ngày & 55 Đêm, in lần thứ 5 (Houston: Văn Hóa, 1987, 1999), tr. 20; Việt Nam Niên Biểu, I-C: 1955-1963 (Houston: Văn Hóa, 2000), tr. 120] khiến không thể không nghĩ đến quặng uranium ở mỏ Tĩnh Túc, Pia Ouac, mà chuyên viên Nhật t́m ra trong khoảng 1946-1947–chỉ ghi lại những trường hợp mất đất tiêu biểu nhất trước thời Pháp thuộc:

 

I. GIA Đ̀NH HỒ QUÍ LY:

Tháng 3/1405, Hồ Hán Thương sai Hoàng Hối Khanh cắt đất Lộc Châu (59 xă thôn) của Lạng Sơn cho nhà Minh. (CM, XII:7; (1998), I:720-721; ĐVSKTB, 1997:518)

Hoàng Quảng Thành, thổ quan Tư Minh, tâu lên rằng nhà Trần đă cướp đất Cổ Lâu [Lộc Châu] (Lạng Sơn). Chu Lệ cho lệnh Quí Ly trả lại đất trên. Nay sứ nhà Minh lại qua. Hán Thương sai Hối Khanh làm “cát địa sứ.”

Quí Ly không hài ḷng việc Hối Khanh cắt nhượng quá nhiều đất. Ngầm cho lệnh đầu độc các thổ quan do nhà Minh bổ nhiệm. Tuy nhiên, châu Tây Long và huyện Tây Lâm này ngày nay nằm trong lănh thổ đạo Điền Nam, tỉnh Quảng Tây, của THNDCHQ. (CM XII:7, 1998, I:721)

Tháng 9 Bính Tuất (1406), Chu Lệ (Thành Tổ 1403-1424) [con thứ tư Nguyên Chương; cướp ngôi của cháu là Doăn Văn (Kiến Văn hay Huệ Tông 1399-1402). (ĐVSKTB, 1997:515)] sai quân tràn sang xâm chiếm Đại Việt, dưới danh nghĩa phù Trần diệt Hồ.

Ngày 20/1/1407, quân Minh chiếm Hà Nội. Tháng 6/1407, Hồ Quí Ly, Hồ Hán Thương và toàn gia bị Liễu Thăng bắt sống ở cửa biển Kỳ La, Thanh Hoa [Hà Tĩnh]. (CM, q. XII:17-19, 21; (1998), I:731-732, 734-735)

 

II. GIA Đ̀NH MẠC ĐĂNG DUNG:

V́ nhà Mạc (1527-1593)–giống như nhà Tây Sơn (1778-1802), chỉ c̣n ghi lại trong “quốc sử” phong kiến như “Ngụy” và “nghịch thần truyện” (Xem, Lê Quí Đôn, Thông sử, 1978, III:253-397)–xin ghi lại những chi tiết sau theo “quốc sử”:

A. Ngày 30/11/1540, Mạc Đăng Dung giao cho Mạc Phúc Hải (1540-1546) giữ chính quyền, rồi cùng Minh Văn và hơn 40 thuộc hạ qua Trấn Nam Quan tạ tội với quan tướng Minh.

Nguyên bọn Tướng nhà Minh là Cừu Loan và Mao Bá Ôn đă tới Quảng Tây, tập trung quân lính chuẩn bị đánh Đại Việt. Đạo quân nhà Minh, kể cả chính binh và kỳ binh (quân lưu động), dự trù lên tới 220,000, chia làm ba cánh xâm phạm Đại Việt theo ngả Bằng Tường, Long Châu và Tư Minh. Vân Nam cũng được lệnh mang ba đội tiễu binh, mỗi đội 21,000, từ ghềnh Liên Hoa (Mông Tự, phủ Khai Hóa nhà Thanh [nguyên là đất của Việt, mất vào dịp nào không rơ]) tràn vào Đại Việt.

Lại truyền hịch hạch tội Đăng Dung diệt nhà Lê, ai bắt được một tội nhân sẽ thưởng 2 nén vàng và ban quan tước. (CM,CB, 27:31-32; 1998, II:114-115)

Mặt khác, dụ bảo cha con Đăng Dung tự trói ḿnh đợi tội, dâng nạp sổ sách đất đai, dân đinh, sẽ được tha tội chết.

Đăng Dung bèn sai sứ sang gặp bọn Bá Ôn dàn xếp. Bá Ôn đồng ư ngày 30/11/1540, Đăng Dung phải làm lễ đầu hàng tại Trấn Nam Quan. Ngày này, Đăng Dung cùng cháu là Văn Minh và hơn 40 tùy tùng quấn giây thao vào cổ, đi chân đất đến phủ phục ở doanh trướng quân Minh.

“[M]ỗi người đều cầm thước, buộc dây vào cổ, đi chân không đến ḅ rạp ở mạc phủ nước Minh, giập đầu qú dâng tờ biểu xin hàng, biên hết đất đai quân dân quan chức trong nước để xin xử phân, nộp các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, La Phù, An Lương của châu Vĩnh Yên, trấn Yên Quảng xin cho nội thuộc lệ vào Khâm Châu.” Rồi sai cháu vào Yên Kinh dâng biểu đầu hàng. (ĐVSK, BKTB, XVI:132-133).

[Thông sử của Lê Quí Đôn thiếu đoạn này; Thông sử, 272 [truyện Mạc Đăng Dung]

Theo sử quan nhà Nguyễn, Khâm châu chí của nhà Thanh chỉ chép là “năm Gia Tĩnh nhà Minh” (Chu HậuTổng [hay Minh Thế Tông], 1522- 1566), Đăng Dung nạp trả 5 động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, La Phù, không có An Lương.

Quảng Yên sách th́ chép động An Lương nay là phố An Lương thuộc châu Vạn Ninh, phủ Hải Ninh, tỉnh Quảng Yên.

KĐVSTGCM cho rằng không cắt động An Lương. (CM,CB, 27:34; 1998, II:116)

Nam Quan ở về phía Tây Nam châu Bằng Tường, phủ Thái B́nh, tỉnh Quảng Tây nhà Thanh. (CM,CB, 27:34-35; 1998, II:116-117)

Minh sử thông sự (q.32) chép là măi tới năm 1538 Đăng Dung mới cử sứ qua nhà Minh v́ đường ra biên ải bị bọn Trần Cung ngăn chặn.

 Bọn Bá Ôn cho Đăng Dung về nước đợi lệnh. Văn Minh và Nguyễn Văn Thái lên Yên Kinh yết kiến vua Minh.

Dịp này Chu Lệ sát nhập Đại Việt vào Trung Hoa, đặt An Nam đô thống sứ ti, cho Đăng Dung chức quan ṭng nhị phẩm (đô thống sứ). (CM :36-37; 1998, II:118-120). 

B. Về Lạng Sơn-Nam Quan:

Địa danh Trấn Nam Quan–mà nhiều người dưới thời Pháp thuộc gọi là “Ải Nam Quan”–xuất hiện lần đầu tiên trong đoạn sử nói về việc họ Mạc cắt đất cho nhà Minh nói trên.

V́ không t́m được dấu vết ngày khai sinh của cửa quan này trong cả tài liệu Hoa và Việt, sử quan nhà Nguyễn chú thích rằng “Cửa quan Nam Giao” hay Trấn Nam Quan chỉ được ghi vào sử từ đời Mạc Đăng Dung [1540]. (ĐNNTC, IV:384-386) Đây là cửa ải chính thức cho các sứ đoàn, chỉ có một cánh cổng bằng gỗ, có khóa. Những dịch vụ khác–như giao giải tù nhân–dùng “Ải Du Thôn,” cách tỉnh Lạng Sơn 30 dặm về phía Bắc, nằm về phía hữu của Trấn Nam Quan. Đi đường núi mất khoảng 2 canh giờ rưỡi [5 tiếng đồng hồ tới Trấn Nam Quan].

Khi đi sứ Trung Hoa năm 1760 để báo tang Lê Thuận Tông, Bảng nhăn Lê Quí Đôn ghi chép được hai bản văn bia của quan lại Trung Hoa về vấn đề quan ải.

Bia thứ nhất do Tuần phủ Quảng Tây Lư Công Phất dựng khoảng năm 1725, sau khi tu bổ lại Trấn Nam Quan từ tháng 3/1925 tới cuối năm mới xong.

(Lư Công Phất, “Trùng tu An Nam kư;” (1725), Lê Quí Đôn, Vân Đài Luận Ngữ, bản dịch Phạm Vũ, Lê Hiền (Sài G̣n: 1972), tr. 160-162. 

Bia thứ hai, “Tuần duyệt An Nam biên ải kư” của Án sát Quảng Tây Hoàng Nhạc Mục. (VĐLN, 1972:162-165) Theo Nhạc Mục, ngày 13/3/1746, Mục đến Điền Châu, cách Bách Sắc chừng 100 dặm. Ngày 22/3/1746, đi từ phủ Thái B́nh tới quận Bằng Tường. Từ Bằng Tường tới Trấn Nam Quan mất 4 ngày.

Khu vực Lạng Sơn-Cao Bằng này vừa cũ, vừa mới có 116 cửa quan dài theo biên giới, quân biên pḥng 1935 tên, quân thổ dân 1170 người. (VĐLN, 1972:165)

Ở Thủy Khẩu quan, có một con sông nước trong, rộng hơn 10 trượng từ Cao Bằng chảy tới. (VĐLN, 1972:164)

Ngày 3/5/1746, về lại Liễu Châu. Ngày 19/5/1746, về tới tỉnh Quảng Tây.

Ngày 27/6/1746, trở lại Liễu Châu vẽ bản đồ và khắc bia đá. (VĐLN, 1972:165) [Lịch Thanh ghi tháng 3 nhuận. Lịch Lê-Trịnh ghi tháng 12 Ất Sửu nhuận].

Lạng Sơn: Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (q. 24); bản dịch Phạm Trọng Điềm và Đào Duy Anh, Viện Sử Học, (NXB Thuận Hóa, 1997), 5 tập, IV:365-400.

Gồm 2 phủ Tràng Khánh (châu Lộc B́nh, châu Ôn, huyện Yên Bác) và Tràng Định (châu Vân Uyên, huyện Văn Quan, Thất Khê, châu Thoát Lăng). [368-373]

Phủ lị thành Lạng Sơn cách châu lị Tư Minh (nay là Ninh Minh) 10 dặm về phía Tây Nam. [375] 

Một cách tổng quát, việc kiểm soát biên giới rất lỏng lẻo. Dân địa phương cũng vượt biên giới dễ dàng–nhất là những toán thổ phỉ, xạ phang, và/hay những đoàn buôn thuốc phiện và gạo muối lậu. 

C. Đời Hậu Lê, con cháu nhà Mạc được nhà Minh can thiệp cho giữ 4 châu thuộc Cao Bằng.

Theo Phan Huy Chú, tác giả Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, “Dư Địa Chí,” (1819), bản dịch Viện Sử học (Hà Nội: 1992), 3 tập, quyển 4, 151-154. Cao Bằng trước kia, thuộc trấn Thái Nguyên. Từ cuối đời nhà Mạc, nhà Thanh áp lực Lê-Trịnh phải cắt cho nhà Mạc 4 châu: Thạch Lâm (22 xă), Quảng Uyên (38 xă), Thượng Lang (32 xă), Hạ Lang (22 xă) [tới 1677].

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, năm 1677 mới đặt tên Cao B́nh. Tây Sơn đổi làm Cao Bằng. Năm 1826, Minh Mạng đổi làm phủ Trùng Khánh. Năm 1831, đổi thành tỉnh. Đặt 2 phủ Ḥa An và Trùng Khánh. Chia Thạch Lâm làm 2 huyện Thạch An và Thạch Lâm. Đặt tuần phủ Lạng-Bằng. Tự Đức bỏ phủ Ḥa An. [(q. 25; bản dịch Phạm Trọng Điềm và Đào Duy Anh, Viện Sử Học, (NXB Thuận Hóa, 1997), 5 tập, IV: 402-403 [401-430.] 

Năm 1677, Đinh Văn Tả dẹp được họ Mạc. Nhưng một phần đất trong các châu này bị thổ quan châu Tư Minh và Quảng Tây lấn chiếm. Sử quan nhà Nguyễn, chẳng hạn, không thể khảo cứu được “Đương Châu” phủ Bắc B́nh dưới đời Lê Thánh Tông. (ĐNNTC, 1997, IV:419)

 

III. ẢI LÊ HOA (MÔNG TỰ NGÀY NAY):

Tháng 10/1427, đại quân của Liễu Thăng và Mộc Thạnh kéo vào lănh thổ Đại Việt. Trần Nguyên Hăn, Lê Sát và Lê Nhân Chú giữ ải Chi Lăng [ngăn chặn Vương Thông]; Phạm Văn Xảo và Lê Khả giữ ải Lê Hoa ở Mông Tự [ngăn chặn Mộc Thạnh]. (Thông sử, 64-65, 191-192 [truyện Phạm Văn Xảo], 209 [truyện Trịnh Khả])

Ngày 8/10/1427, Liễu Thăng kéo quân qua ải Pha Lũy. Trần Lựu lui quân về Ải Lựu, rồi ải Chi Lăng. Hai ngày sau, 10/10/1427, Trần Nguyên Hăn và Lê Sát phục binh giết chết Liễu Thăng tại núi Mă Yên (Chi Lăng). (Thông sử, 66)

Ngày 15/10/1427, viện binh Lê đến Chi Lăng. Giết thêm Lương Minh.

Ngày 18/10/1427, từ Chi Lăng, Thôi Tụ và Hoàng Phúc tiếp tục tiến binh. Nhưng Thái úy Trần Nguyên Hăn, Tư mă Lê Sát, Thiếu úy Lê Lư chiếm được thành Xương Giang. Tri phủ nhà Minh Lưu Tử Phu tử trận cùng Kim Dận, Lư Nhậm. Ṿng vây quanh Đông đô xiết chặt hơn. Rồi ngày 3/11/1427, Lê Vấn và Lê Khôi phá tan quân Minh ở Xương Giang. Bắt sống Thôi Tụ cùng Hoàng Phúc và hơn 3,000 quân. Giết chết 50,000 quân Minh.

Quân Mộc Thạnh được tin tan ră. Trịnh Khả chém chết hơn 10,000, bắt hơn 1000 tù binh “giặc Ngô,” hơn 1000 ngựa ở Lănh Câu, Đan Xá. Mộc Thạnh một ḿnh thoát thân. (Thông Sử, 67, 209 [truyện Trịnh Khả]; CM XIV, 1998, I:820)

[Theo Ngô Th́ Sĩ, Lê Lợi mật chỉ cho các Tướng là Tổng binh Vân Nam Mộc Thạnh đă già. Chỉ có ư cầm cự với quân Phạm Văn Xảo, chờ tin Liễu Thăng. Khi quân Lê đưa tù nhân và cờ xí tới nơi, quân Thạnh chưa đánh đă tan. Mộc Thạnh một ḿnh thoát thân. Quân Lê bắt được vũ khí, xe cộ nhiều gấp 2 lần thành Xương Giang; ĐVSKTB, 1997:562)]

Tháng 11 Đinh Mùi [19/11-17/12/1427], hai thành Tây đô và Cổ Lộng đầu hàng. 

Từ Đông Quan, Vương Thông đưa thư xin ḥa. Lê Lợi chấp thuận. Sai Hành khiển Nguyễn Trăi viết thư cho Chu Chiêm Cơ, xin sắc phong cho Trần Cảo, nhờ Mộc Thạnh ở Vân Nam và Cố Hưng Tổ ở Quảng Tây chuyển về triều. Tha cho Hoàng Phúc về nước. (Thông sử, 68)

Ngày 10/12/1427, Lê Lợi và Vương Thông định ḥa ước. (Thông sử, 69) Ngày 29/12/1427, quân Minh rút lui. (ĐVSKTB, 1997:563)

Trước đó, Lê Lợi cũng sai Nguyễn Trăi viết hai lá thư nhân danh Trần Cảo xin ḥa. (ĐVSKTB, 1997:563)

Tháng 12/1427, sau khi nghe tin Liễu Thăng tử trận và Vương Thông bị vây khốn ở Đông Quan, Chu Chiêm Cơ đồng ư băi binh. [Trương Phụ không đồng ư; quan nội các Kiến Nghĩa và Hạ Nguyên Cát cũng vậy. Dương Vĩnh Kỳ và Dương Vinh muốn ḥa. Theo họ, 20 năm chiến tranh đă quá dài. Chiêm Cơ đồng ư, sai La Nhữ Kính mang chiếu phong Trần Cảo làm An Nam Quốc Vương. (Thông sử, 70; ĐVSKTB, 1997:563)

Ngày 29/12/1427, Vương Thông dẫn quân về nước. Mười phần khi đến chỉ c̣n lại hai. La Nhữ Kính tới Long Châu đă gặp Vương Thông. Thông sau bị tống giam, tước đoạt tài sản. (ĐVSKTB, 1997:564)

[20/1/1407 (12/12 Binh Tuất): Quân Minh chiếm Hà Nội. (ĐVSKTB, 1997:523, 564). Ngày 29/12/1427 [12/12 Đinh Mùi], Vương Thông dẫn quân về nước. Phan Phu Tiên: số trời; ĐVSKTB, 1997:564)]

[Ngô Th́ Sĩ: Vài vạn người Minh ở lại; ĐVSKTB, 1997:564] 

Tuy nhiên, sau đó ải Lê Hoa bị mất vào Trung Hoa. Trong lời chú, sử quan KĐVSTGCM cho rằng có tin quân Mộc Thạnh kéo tới châu Thủy Vĩ [ranh giới Tuyên Quang].

 

IV. LÊ-TRỊNH: “HƯNG HÓA”

A. Năm 1728 [đời Huỳnh Hoa (1662-1735), niên hiệu Ung Chính thứ 6, quan Việt và Thanh đặt bia đá giới mốc “châu Vị Xuyên, Tuyên Quang” trên bờ sông Đổ Chú, huyện Vĩnh Tuy. Năm 1831, Minh Mạng cho lệnh làm lại bia, khắc thêm văn bia nhà Thanh như sau: Ngày 11/10/1728 Ngô Sĩ Côn, Tri phủ Khai Hoá và Vương Vơ Đảng, Du kích trung dinh trấn Khai Hóa, bàn định biên giới với đại diện “Giao Chỉ” là Nguyễn Huy Nhuận [tả thị lang bộ Binh, và tế tửu Nguyễn Công Thái]. Hai bên đồng ư dựng bia biên giới ngày 22/10/1728, lấy sông Đỗ Chú làm căn cứ. (ĐNNTC, 1997, 4:353-354].

Tháng 2/1769, Đoàn Nguyễn Thục chiếm được động Mănh Thiên (huyện Thanh Châu) của Hoàng Công Chất. Chất đă chết. Con là Công Toản chạy thoát qua Vân Nam. (CM 43:21-22, 1998, II:684-685; CM, 43:20-22, 1998, II:691-692) 7 châu dưới quyền Công Toản [Tung Lăng (Mường La), Lễ Tuyên, Hoàng Nham, Tuy Phụ, Hợp Ph́, Lai Châu, Khiêm Châu] đều xin qui phụ nhà Thanh [nay là 6 trại thuộc huyện Kiến Thủy, phủ Lâm An, Vân Nam]. (LTHCLC, q.IV, “Hưng Hóa,” Dư Địa Chí, 1992, I:142-143) 

B. Năm 1780, nhà Thanh xâm lấn thêm 4 châu Hoàng Nham, Tuy Phụ, Hợp Ph́, và Lễ Tuyên thuộc phủ An Tây (Hưng Hóa, nay thuộc Lai Châu), vào phủ Khai Hóa, Vân Nam. Cuối năm đó, Trịnh Sâm viết thư cho quan Thanh ở Vân Quí, họ chỉ im lặng. Sau Sâm bệnh, phải bỏ qua. (CM XLV:23; 1998, II:754-755)

Quảng Lăng, Khiêm Châu thành lănh thổ huyện Kiến Thủy, phủ Khai Hóa. (CM 45:23; 1998, II:754-755) 

C. Tháng 6-7/1806, dân Thanh lấn chiếm một số động ở biên giới Hưng Hóa. Đây là cuộc tranh chấp lănh thổ và dân cư từ đời Lê-Trịnh. Không những không trả lại 6 châu thuộc phủ An Tây, quan lại địa phương Vân Nam c̣n lấn chiếm dân hai châu Chiêu Tấn và Lai Chính vào trại Mănh. Châu Quảng Lăng hay Tung Lăng (Mương La) có mỏ vàng. Quan Thanh đưa dân Hồ Quảng tới, mở 3 phố. Tổng trấn Nguyễn Văn Thành làm sớ yêu cầu Gia Long cho người bàn luận việc biên giới với Tổng đốc Vân Quí. Gia Long tuyên bố mới dựng nước, chưa tiện bàn luận với nhà Thanh. Bởi thế 6 châu mất vào nhà Thanh. (ĐNTLCB, I, 3:286; ĐNNTC, 1997, IV:288-289).)

 

D. Năm 1831, nhàThanh lại định xâm lấn một phần lănh thổ Hưng Hóa. Mục luyện phủ Lâm An đưa 600 lính tới đ̣i chiếm đồn Phong Thu. Nói Phong Thu là lănh thổ Thanh. Minh Mạng sai Hộ tào Đặng Văn Thiêm và thống quản Nguyễn Đ́nh Phổ đem 1000 quân và 10 thớt voi lên đóng giữ trấn Hưng Hóa. Tới Hưng Hóa, trích giao trấn thủ Vũ Văn Tín 300 biền binh, trấn binh và thổ binh cùng 5 thớt voi tới Chiêu Tấn pḥng ngự. Rồi viết thư cho chỉ huy người Thanh, khẳng định Phong Thu là đấtViệt.

Tháng 7/1831, trấn thủ Hưng Hóa Vũ Văn Tín và tham hiệp Ngô Huy Tuấn đi kinh lược Chiêu Tấn. Mục luyện Thanh bèn tấn công Phong Thu. Thủ đồn Chử Đ́nh Thông rút về động B́nh Lư.

Minh Mạng tăng viện cho Đặng Văn Thiêm thêm 200 biền binh và 2 thớt voi cho theo Vũ Văn Tín tới Phong Thu. Đến nơi, quân Thanh đă triệt thoái v́ bệnh tật, bỏ lại súng, cờ. Giao cho Chánh xuất đội Bùi Văn Lương giữ đồn với 100 lính. Sau đó viết thư cho nhà Thanh. Nhà Thanh muốn giảng ḥa, hẹn ngày bàn thảo. (ĐNTLCB, II, 10:284-285)

Tháng 9/1831, sau khi bắt được Điêu Doăn An–một thổ tù thân nhà Thanh, đă xúi quan Thanh chiếm Phong Thu–Vũ Văn Tín rút quân về Hưng Hóa. Dọc đường, Tín ốm chết. Ngô Huy Tuấn bị bệnh. Hơn 300 biền binh cũng bị bệnh, ốm chết dọc đường. Dẫn bọn Điêu Doăn An, Điêu Doăn Kiên và Điêu Doăn Vơ về kinh. Dùng Điêu Quốc Long, con Quốc Thuyên, quản trị 2 động Phong Thu và B́nh Lự. Nhưng muốn giữ t́nh hữu nghị với nhà Thanh, bỏ qua việc 6 châu mất từ đời Lê-Trịnh. (ĐNTLCB, II, 10:325-327)

Tháng 11/1831, Minh Mạng bỏ tổ chức Bắc thành và 11 trấn. Đặt tỉnh hạt từ Quảng Trị trở ra. Hiệu lực từ ngày 2/2/1832. (ĐNTLCB, II, 10:355-73, 394)

Tỉnh Hưng Hóa mới gồm 3 phủ [Qui Hóa, Gia Hưng, An Tây], 5 huyện, 16 châu. [Phủ Gia Hưng là huyện Tam Nông, phủ Sơn Tây cũ]

Tuyên Quang: 1 phủ [Yên B́nh], 1 huyện [Hàm Yên], 5 châu [Vị Xuyên, Thu Châu, Đại Man, Lục Yên, Bảo Lạc].  

Tháng 6-7/1841, Thiệu Trị chấp thuận việc lập phủ Điện Biên, kiêm lư cả châu Ninh Biên, lấy Lai Châu và Tuần Giáo làm thống hạt. (ĐNTL, CB, III, 23:263-265) Tháng 7-8/1852, Tự Đức cắt thêm châu Quỳnh Nhai và châu Luân vào phủ Điện Biên. Phủ An Tây chỉ c̣n 1 châu Chiêu Tấn [Mường So hay Mường Thu]. (ĐNNTC, IV:285-291 [265-332])

Dịp này, ranh giới Tuyên Quang cũng định lại: Địa phận xă B́nh Di/làng Đông An (Khai Hoá). Tuần phủ Khai Hóa bí mật sai người tràn sang lập nhà cửa, đuổi dân cư chạy đi. Phó Kinh lược sứ Ngụy Khắc Tuần mang quân tới người Thanh mới rút đi. (ĐNTL, CB, IV, 27:349-350) 

Từ năm 1848, thổ phỉ và hải tặc Thanh bắt đầu lộng hành ở miền thượng du. T́nh h́nh nghiêm trọng đến độ sau này Tự Đức sẽ phải mời quân Thanh vào tiếp tay diệt phỉ. Đồng thời “nuôi vỗ” những nhóm thổ phỉ mạnh, “dĩ phỉ trị phỉ.” Giặc Cờ Đen, Cờ Vàng, chẳng hạn, được giao quyền cai trị và thu thuế ở các tỉnh Hưng Hóa, Tuyên Quang. 

Houston, 20/2/2009 

 

   

  © Chuyển Luân 2008

 

CHUYỂN LUÂN ONLINE