|
VẤN
ĐỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VIỆT SỬ
Nguyên
Vũ Vũ Ngự Chiêu
Phần I
Phần II
và III
Phần
Phụ lục
Đầu Xuân Kỷ Sửu (25/1/2009) tôi khởi đầu việc hiệu đính phần
tư liệu lịch sử Việt từ đời Ngô (938-965) tới đời Nguyễn
(1802-1945). Đây có lẽ là lần hiệu đính cuối cùng, và khá
tốn th́ giờ v́ việc chuyển đổi từ lịch Ta qua lịch Tây.
Mặc dù đă hoàn tất việc sơ thảo ít năm trước, suốt năm qua,
tôi chú trọng vào thời hiện đại, nhất là khía cạnh pháp luật
hơn sử học.
Một trong những bài viết cần hiệu đính là bài “Tài Liệu
Nghiên Cứu Sử” đă in trong Ngàn Năm Soi Mặt năm 2002. Chuyến
du khảo Việt Nam từ tháng 11/2004 tới tháng 5/2005, với học
bổng Fulbright của Bộ Ngoại Giao Mỹ, giúp thu thập thêm
nhiều tài liệu quí, có cơ hội làm việc tại các văn khố và
thư viện Việt Nam, du lịch từ Nam chí Bắc, tiếp xúc nhiều
học giả và nhà nghiên cứu trong nước khiến nhiều chi tiết
cần được cập nhật.
Là người nghiên cứu chuyên nghiệp, với tôi, chỉ có sự thực
lịch sử mới quan trọng. Tôi không ngả theo, chiều chuộng một
thế lực hay cá nhân nào, mà những điều đă và sẽ viết chỉ là
sản phẩm của hơn 30 năm nghiên cứu, với hy vọng những thế hệ
mai sau nh́n rơ chân diện dân tộc ḿnh, hầu rút ra bài học
hữu ích cho bản thân, cũng như những dự tính phục vụ đất
nước, nhân loại.
Tôi không hề có tham vọng chính trị hay một mục đích nào
khác hơn làm tṛn trách nhiệm một người học sử. Hơn 2000 năm
trước, Trang Chu từng viết: Ngọn gió thổi qua rừng núi, hang
động, phát ra muôn vạn âm thanh khác nhau; thế nhân thường
chỉ nhận hiểu được những tiếng vang trầm bổng, dị biệt ấy;
ít ai t́m hiểu đến cái uyên nguyên của gió. Đời sống nhân
loại cũng vậy. Chúng ta chỉ thường được chứng kiến những màn
ảo thuật trước mắt, ít ai tận tường những mưu mẹo, bàn định
phía sau hậu trường.
Việt Nam không là một đại cường, nhưng cũng là một quốc gia
không nhỏ, thiết lập được vị thế đáng nể trọng tại Đông Nam
Á và trên thế giới. Khả năng tự sinh tồn và ngày một phát
triển, hùng mạnh hơn là công lao, xương máu của biết bao thế
hệ. Không hiểu biết tường tận lịch sử dân tộc, đất nước ḿnh
mới nẩy sinh những tinh thần chia rẽ, hướng ngoại, hay nuôi
dưỡng tham vọng
độc tôn–thuận ta th́ sống, nghịch ta th́ diệt–của
luật kẻ mạnh đă có hàng chục ngàn năm lịch sử với những
cơn điên rồ tanh máu.
Ở những năm đầu một thiên niên mới không thể dấu diếm niềm
ao ước của tôi về sự phục hưng của tinh thần yêu chuộng sử
văn trong giới trẻ, và một chương tŕnh giáo khoa mà sử học
là một trong những tín chỉ bắt buộc cho các sinh viên đại
học.
Ngoài ra, cũng mong giới đồng nghiệp trong nước khởi
đầu–hoặc tiếp tục–chương tŕnh sử dụng DNA để sớm giải quyết
vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt. Chấm dứt t́ng trạng “dĩ nghi
truyền nghi” trong quốc sử về những tiếng “Hùng” hay
“Lạc,”tránh được cảnh những người hồ đồ, thiếu kiến thức hăm
hở “khỉ sự”xưng tội rằng tổ tiên ḿnh là người Tàu!
Khi từ Việt Nam trở lại Mỹ, tôi đă có dự định t́m tài trợ
cho kế họch này, nhưng sức khoẻ đột ngột suy yếu, đành bỏ dở
cùng nhiều dự tính khác.
Houston,
1/2/2009
Người
học sử Việt nào cũng bị đối mặt nhiều trở ngại nhức đầu. Nào là vấn
đề tên nước, tên dân, nguồn gốc dân tộc. Nào là vấn đề ngày
tháng, niên đại. Nào là những âm mưu hiểm độc của ngoại
cường dưới chiêu bài khai hóa, tự do, dân chủ, trộn
lẫn với tham vọng quyền lực, lợi danh của các phe nhóm bản
xứ, với bảng hiệu đấu tranh giành độc lập, giải phóng, v..
v... Căn nguyên chính của chứng nhức đầu kinh niên trên là
vấn đề tư liệu, hay thiếu tư liệu.
Mặc dù các sử
quan Việt cho rằng nước cổ Việt xuất hiện từ năm 2879 Trước
tây lịch [TTL], măi tới thế kỷ XIII, nước ta mới có bộ quốc
sử đầu tiên, tức Đại Việt Sử Lược của Bảng Nhăn Lê
Văn Hưu (1272). Hơn một thế kỷ sau tới bộ Việt sử cương
mục (1386-1427) của Hồ Tông Thốc, hoàn thành vào cuối
đời Trần (1225-1400). Nhưng hai bộ sử này bị thất lạc trong
thời gian nhà Minh chiếm đóng nước ta (1407-1427). Vào đầu
triều [Hậu] Lê, Phan Phu Tiên soạn Sử Kư Tục Biên
(1455). Rồi dưới thời Lê Thánh Tông (1460-1497), Ngô Sĩ Liên
hoàn tất bộ Đại Việt Sử Kư Toàn Thư (1479), gồm 2
phần: Ngoại kỷ (5 tập) và Bản Kỷ (10 tập). Các đời sau tiếp
tục viết thêm (tục biên): Vũ Quỳnh (Đại Việt thông giám),
Lê Tung (Đại Việt thông giám tổng luận, 1514), Phạm
Công Trứ (Đại Việt Sử Kư Toàn Thư Bản Kỷ, Tục
Biên, 1665), Lê Hi và Nguyễn Quí Đức (Bản Kỷ, Tục
Biên, 1697), Ngô Th́ Sĩ, Phạm Nguyễn Du, Ninh Tốn, Nguyễn
Sá (Quốc sử tục biên), Nguyễn Nghiễm (Việt sử bị lăm),
Lê Quí Đôn (Đại Việt thông sử, hay Lê triều thông
sử, 30 quyển; và Quốc triều tục biên, 8 quyển).
Ngoài ra, c̣n các bộ Trung hưng thực lục (1289?) của
Trần Nhân Tông; Lam sơn thực lục (1431-1432) của Lê
Thái Tổ; Thiên nam minh giám của họ Trịnh; [Lê triều]
Trung hưng thực lục của Lê Tương Dực (1504-1509), hay
các sách tư của họ Ngô, Lịch triều tạp kỷ của họ Cao
[có lẽ là Ngô Cao Lăng] tại Ái châu [Thanh Hoa] và con là
Siển Trai
(Emile Gaspardone, BEFEO, số 34 (1934), tr. 1-167 tại 75)
v.. v...
Tóm lại, quốc sử
Việt mới chỉ xuất hiện từ thời Trung cổ. Và v́ các điều kiện
chính trị, chiến tranh, ư thức hệ (Khổng giáo), thiếu phương
tiện bảo quản (giấy rách nát, mọt hoặc mối ăn, chiến tranh),
không những sách của Lê Văn Hưu và Hồ Tông Thốc bị thất lạc,
tuyệt bản, ngay đến bộ sử của Ngô Sĩ Liên cũng không c̣n
nguyên vẹn. Nó đă bị sửa chữa, hiệu đính qua các lần sao
chép, tục biên, v.. v... Bộ quốc sử cũ nhất mà chúng ta được
đọc là bản in vào khoảng cuối thế kỷ XVII.
Năm 1798, vua
Quang Toản nhà Tây Sơn (1778-1802) cũng cho lệnh sử quan Bắc
thành chép sử. V́ bộ Đại Việt Sử Kư cũ nhất bị thất
lạc, sử quan phải chép lại từ đời Hồng Bàng tới thập nhị sứ
quân làm Ngoại kỷ, và mở đầu Bản kỷ bằng Đinh Tiên Hoàng cho
tới ngày bị Minh chiếm đóng [1407], gồm 17 quyển. Ngô Th́
Nhiệm có lẽ chịu trách nhiệm sửa chữa và khắc bản.
Đến đời vua Tự
Đức (1848-1883), quốc sử quán nhà Nguyễn hoàn tất bộ Khâm
Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, nhưng chỉ khắc
bản năm 1884 (đời Kiến Phước, 1883-1884). Ngoài ra, c̣n hai
bộ Đại Nam Thực Lục, từ chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613)
đến vua Đồng Khánh (1885-1889), và
Đại Nam Liệt Truyện.
Tất cả các bộ sử
này đều gây nhiều vấn nạn.
Từ thời Pháp
thuộc đến nay, vấn đề biên soạn sử tiến bộ hơn, nhưng vẫn
chưa có những nghiên cứu thực sự giá trị. Số người được huấn
luyện chuyên nghiệp ngành sử học quá ít. Đa số những người
nghiên cứu hoặc viết sử đều là nhà mô phạm, hoặc coi sử như
một thứ giải trí thanh cao. Bởi thế, các tác phẩm giá trị
nhất đều do học giả ngoại quốc hay học giả Việt ở hải ngoại
soạn thảo. Một trong những lư do chính vẫn là thiếu sử liệu.
Ngoài ra, c̣n những áp lực chính trị giai đoạn của chế độ
cầm quyền, các tổ chức, phe phái có thế lực khiến sử gia
không dám chép hết sự thực; hay thiếu phương tiện vật chất
để hoàn thành các tác phẩm tốt, v.. v... Nhiều bộ “sử” chỉ
thuần là tài liệu chiến tranh chính trị hoặc truyền giáo. Đa
số tác giả, và từ đó người học sử đời sau, dễ bị lạc vào mê
hồn trận của các hệ thống tuyên truyền cực kỳ tinh vi của
nhiều phe phái, xà cừ mà tưởng lầm thành bạc.
Bài viết này chỉ
chú trọng vào vấn đề tài liệu sử. Vấn đề phương pháp sử và
triết lư sử sẽ dành cho một dịp khác.
I. SÁCH SỬ TỪ
THỜI TRUNG CỔ TRỞ VỀ TRƯỚC:
Nhiều người tin
rằng với bốn ngàn năm văn hiến, dân Việt rất yêu thích lịch
sử. Niềm tin này không được phản ảnh qua số sách sử hoàn
thành hay việc bảo tồn các sử liệu. Tổng số sách sử c̣n được
lưu truyền vỏn vẹn mươi tựa, vậy mà hầu hết đă tuyệt bản.
Các sách sử chúng ta được đọc ngày nay chỉ khắc bản và ấn
hành từ cuối thế kỷ XVII. Sách sử cũng thường chỉ tàng trữ
tại Bí các (rồi Nội các) hay sử quán (Hàn lâm viện) của các
triều đ́nh, rất ít khi lọt ra ngoài. Một số gia đ́nh nổi
danh văn học và làm quan to, như họ Ngô ở Hà Đông, mới tồn
trữ được những bản tóm lược hay thông sử trong thiên hạ.
Chiến tranh với Chiêm Thành, Trung Quốc, và những cuộc nội
chiến cũng đóng góp một phần vào việc tàn phá số sách sử cổ
thời vốn chẳng dồi dào này. Khí hậu ẩm thấp nhiệt đới, phẩm
chất giấy và bản khắc xấu, mối mọt là yếu tố quan trọng
khác. Ngoài ra, c̣n những loại tội ác văn hóa như các tân
trào tiêu hủy sách vở của các chế độ bại trận (tài liệu nhà
Lư, nhà Mạc, nhà Tây Sơn, v.. v...).
Măi tới thế kỷ
XVIII và XIX mới có hai học giả bỏ công ghi chép lại những
sách sử đă ấn hành. Đó là Bảng Nhăn Lê Quí Đôn (1726-1784)
[Đại Việt thông sử, Nghệ văn chí; bản Việt ngữ Hà
Nội, 1978, tr. 98-113],
và Phan Huy Chú
(1782-1840)
[Lịch triều hiến chương loại chí, Văn tịch chí; bản
Việt ngữ Hà Nội 1992, 3:68-77]. Qua hai bộ bách
khoa trên, hậu thế mới có được ư niệm tổng quan về các tựa
sách đă xuất hiện. Người có công đầu trong việc giới thiệu
sách sử Việt với Tây phương là các học giả Pháp vào đầu thế
kỷ XX, đặc biệt là Emile Gaspardone. (“Bibliographie
annamite” [Thư mục An-Nam]; BEFEO, 34 (1934), tr. 1-167)
Đại cương, các sử
quan Việt đều chỉ bắt chước sử quan Trung Quốc để biên soạn
quốc sử. Mặc dù có những nỗ lực Việt hóa tư liệu
Trung Quốc, nhưng v́ thiếu sử liệu địa phương, lại bị g̣ bó
trong “thánh Triết” Khổng học, và ràng buộc bằng
miếng đỉnh chung cùng danh lợi, những bộ quốc sử Việt c̣n
lưu truyền không chỉ thiếu sót mà đôi chỗ c̣n thiếu độ khả
tín.
A. MÔ H̀NH TRUNG
QUỐC:
Theo Bảng Nhăn Lê
Quí Đôn, nguồn gốc của phương pháp sử Trung Quốc là hai bộ
Kinh Thư (được gọi tâng lên là Thượng thư), và
Xuân Thu.
Kinh Thư
chép
mỗi việc riêng biệt, từ đầu đến cuối, nên c̣n gọi là
“kỷ
truyện.”
Kinh Thư
có nhiều bản khác nhau. Theo lời truyền tụng, Khổng
Khâu (hay Khưu, K'ung Ch'iu, 551-479 TTL) soạn một bản. Lại
có nhiều người b́nh giải, sửa chữa theo ư ḿnh. Khổng Khâu
tự là Trọng Ni, người nước Lỗ (Lu), thuộc địa phận tỉnh Sơn
Đông, Trung Quốc, ngày nay. Thường được tôn xưng là Khổng
tử, chí thánh hay Vạn thế sư biểu [ông thày vạn năm]. Theo
truyền thuyết, ngoài Kinh Thư, Khổng Khâu c̣n soạn
sách Xuân Thu, chú giải Kinh Dịch, v..
v.... (Có người cho rằng Khổng Khâu chẳng soạn được bộ
sách nào cả) Muốn hiểu thêm Kinh Thư, người thông
thạo ngoại ngữ nên đọc thêm Bernhard Karlgren, The Book
of Documents (Stockholm: 1950); Saraphin Couvreur,
Chou King: Les annales de la Chine (Paris: 1950); hay
Clae Waltham, Shu Ching: Book of History (Chicago:
1971).
Xuân Thu
(tức
sử nước Lỗ), vẫn theo lời truyền thuyết, do Khổng Khâu soạn
theo lối “biên niên.”
Xuân Thu
được coi như nguồn gốc sử học Trung Hoa. Bộ Xuân
Thu có ba bản chú giải: một của Tả Khâu Minh (Tso
Ch'iu-ming, cùng thời với Khổng Khâu), gọi là Tả Thị Xuân
Thu hay Tả truyện (có thuyết cho là của Tả Khưu,
đời Tấn); một do Công Dương Cao (Kung Yang-kao, cuối đời
Chu), thường gọi là Công Dương Truyện, và một của Cốc
Lương Xích (Ku Liang-ch'ih, đời Hán), tức Cốc Lương
truyện. Chính bản của Khổng Khâu và ba bản diễn nghĩa
chỉ được truyền khẩu, ai muốn hiểu sao cũng được. V́ sợ va
chạm với người quyền thế, sách bị dấu kín, chưa ai được thấy
nguyên bản. Nhưng môn đệ Khổng Khâu (như Mạnh Kha) thích ca
ngợi Xuân Thu “là việc của Thiên tử,” hay “Khổng tử
viết xong Xuân Thu mà rồi loạn thần, tặc tử sợ.”
(Xuân Thu Tam Truyện [Hoàng Khôi 1969], I:11)
Chu Hy tán thêm: “Sách Xuân Thu căn cứ vào đương thời đại
loạn, thánh nhân cứ thực sự chép ra. C̣n như được hỏng, phải
trái, đă có hậu thế luận bàn.”
(Ibid., I:31)
Nói cách khác, Xuân Thu cùng ba bản diễn nghĩa là một
tổng hợp kiến thức nhiều đời; chẳng ai rơ chữ nào của Khổng
Khâu, câu nào của người khác. Măi tới thời nhà Hán (206
TTL-8
STL, 25-220), Đổng Trọng Thư mới khởi dạy sách Xuân Thu.
Từ đó, Xuân Thu c̣n tam sao thất bản hơn nữa.
Xuân Thu
cùng ba bản giải thích của họ Tả, họ Công, họ Cốc đă được
dịch qua tiếng Việt, gọi chung là Xuân Thu Tam Truyện
(bản dịch Hoàng Khôi, 3 tập, Sài G̣n: 1969).
Những câu ngắn ngủi như “ẩn công, Nguyên niên, Xuân vương
chính nguyệt; tam nguyệt, công cập Châu Nghi Phủ minh vu
miệt” [ẩn công, Năm đầu, mùa Xuân tháng Giêng [vua nhà
Chu lên ngôi] vương; Tháng Ba, [Lỗ] Công [và] Châu Nghi Phủ
thề ở đất Miệt], v.. v... thật tối tăm, khó hiểu với người
đọc. Dù giống như thể ghi niên biểu sơ lược sau này–theo
theo kiểu một chuỗi keywords [chữ chính] chắp nối với
nhau, và không ai hiểu được ư nghĩa nếu không đọc thêm những
lời b́nh giải. Nhượng Tống sử dụng những tiếng nặng nề như
“băm nhau” để đánh giá Xuân Thu, nhưng nhận
xét này hơi quá đáng. Nội dung hay kỹ thuật Xuân Thu
chẳng có ǵ đáng kể, nhưng tính chất cổ thời và giá trị lịch
sử là điều không ai có thể phủ nhận–một tác phẩm với hơn hai
ngàn năm tuổi đời mà nội dung ngày một nhiều chi tiết hơn,
tổng hợp quan niệm sử và chính trị của các nho gia Trung
Quốc.
Shih chi [Sử
Kư] của Sima
Qian [Ssu-ma
Ch'ien, Tư
Mă Thiên,]
(145-86 TTL), đời Hán–một trong 21 bộ “chính sử” của
Trung Quốc trước thế kỷ XVII–cũng là khuôn vàng, thước ngọc
của sử quan Việt. Sách này chép theo lối kỷ truyện. Sau
Sử Kư, sử quan và văn gia Việt rất ưa chuộng các sách
Tsu-chih t'ung-chien [Tư Trị Thông Giám] của Tư Mă Quang
(1019-1086), và Thông Giám Cương Mục của Zhu Xi [Chu Hy,
1130-1200; c̣n được biết như
Chu Tử, Trúc Đ́nh, hay Tử Dương
(Chỉ nên t́m ra ư định [intentions] của tiên Thánh
khi đọc kinh sách)].
Hai sách này cũng theo thể biên niên.
(Lê Quí Đôn, Đại Việt Thông Sử, bản dịch Ngô Thế Long
& Văn Tân [Hà Nội: 1978], tr. 19-20).
Các sử quan Việt
thiên về phương pháp “biên niên,” nhưng đôi lúc cũng linh
động áp dụng lối “kỷ truyện.” Bộ Đại Việt Sử Lược của
Lê Văn Hưu–soạn từ cuối đời Trần Thái Tông (1226-1258) tới
năm Nhâm Thân (1272) đời Trần Thánh Tông (1258-1278) mới
hoàn tất, gồm 30 quyển, từ đời Triệu Vơ Vương (207-137 TTL)
tới Lư Chiêu Hoàng (1226)–chép theo lối biên niên như
Thông Giám Cương Mục của Chu Hy. Nhưng thỉnh thoảng có
lời b́nh giống như Sử Kư của Tư Mă Thiên (kỷ truyện).
(Theo Lê Tắc, Lê Văn Hưu sửa sách Việt Chí của Trần
Tấn; ANCL, 1961:237)
Đại Việt Sử Kư
Toàn Thư
của Ngô Sĩ Liên–dựa trên các bộ Đại Việt Sử Kư của Lê
Văn Hưu (1272), Đại Việt Sử Kư Tục Biên của Phan Phu
Tiên (1455) và Dư Địa Chí của Nguyễn Trăi (1435)–vẫn
theo cách biên niên, nhưng thêm vào các mục, loại (tị sự),
“chê, khen, phân biệt người hay kẻ dở” theo kiểu Xuân Thu
của Khổng Khâu và Sử Kư của Tư Mă Thiên.(“
Biểu dâng sách;” Toàn Thư [Giu 1967], I:20)
Phan Phu Tiên sinh quán tại làng Vẽ (Đông Ngạc), huyện Từ
Liêm, Bắc Ninh. Ông có công sửa lại bộ Việt sử cũ (không
chép tháng), từ Trần Thái Tông (1226-1258) tới năm 1427.([KĐ]VSTGCM,
18:29, I:970)
Nguyễn Trăi (1383-1442) là khai quốc công thần của nhà Hậu
Lê; lưu lại hậu thế một sự nghiệp văn học đáng kể, đặc biệt
là bộ Ức Trai Tập.
Như đă lược nhắc,
bộ Đại Việt Sử Kư Toàn Thư c̣n lưu truyền hiện nay
không phải là nguyên bản của Ngô Sĩ Liên, mà đă được hiệu
đính, sao chép lại nhiều lần.
Những người viết
tục biên có:
(1) Đầu thế kỷ XVI, Vũ Quỳnh viết Đại Việt thông giám,
hay Việt giám thông khảo. Chép từ đời Hồng Bàng
tới Thập nhị sứ quân (966) làm Ngoại kỷ. Bản kỷ khởi
từ Đinh Tiên Hoàng (968-979) tới năm đầu [Hậu] Lê Thái Tổ
(1428).(“
Phàm Lệ,” Toàn thư [Giu 1967], tr. 21)
(2) Lê Tung [Dương Bang Bản, 1452-?] viết Đại Việt thông
giám tổng luận, hay Việt giám thông khảo tổng luận
(1514), tóm tắt bộ sử của Vũ Quỳnh cho vua Lê Tương Dực
(1510-1516) đọc. (Toàn Thư [Giu 1967], I:39;
KĐVSTGCM, q.26, tờ 11A)
(3) Đầu đời Lê Huyền Tông (1662-1672), Phạm Công Trứ
(1600-1675) soạn Đại Việt Sử Kư Toàn Thư Bản Kỷ, Tục Biên
(1665), gồm 23 quyển. Chép từ thời Hồng Bàng tới Lê Thái Tổ,
y theo sách Ngô Sĩ Liên và Vũ Quỳnh. Riêng phần Bản Kỷ,
Tục Biên–từ Lê Lợi tới Lê Cung Hoàng (1522-1527), tức
quyển 11-15, và từ Lê Trang Tông (1533-1548) tới Lê Thần
Tông (1619-1643, 1649-1662)–dựa theo Thực lục.
(Phan Huy Chú, (Hà Nội: 1992), 3:71; Gaspardone, BEFEO, số
34 (1934), tr. 59). Đây là bộ sử đầu
tiên được khắc bản, ấn hành.
(Phan Huy Chú, (Hà Nội: 1992), 3:72)
Tuy nhiên, bản khắc mới chỉ hoàn tất được 5, 6 phần mười.
(4) Trong thời Lê Hy Tông (1680-1705), Lê Hi (1648-1703) và
Nguyễn Quí Đức, soạn Sử kư Tục biên, chép tiếp đến
cuối đời Lê Gia Tông (1662-1675). Gồm 5 tập Ngoại kỷ và 19
tập Bản kỷ Tục Biên (1697). Được khắc bản, ấn hành. Đây là
bộ sử c̣n lưu truyền đến hiện nay.
(Xem bản dịch Cao Huy Giu [Hà Nội: NXB Khoa Học, 1967]; Đào
Duy Anh “hiệu đính, chú giải và khảo chứng.”)
(5) Đời Lê Hiển Tông (1740-1786), Ngô Th́ Sĩ (1726-1780),
Phạm Nguyễn Du, Ninh Tốn, Nguyễn Sá soạn Quốc sử tục
biên. Gồm 6 quyển, chép từ Lê Hy Tông (1675-1705) tới Lê
Ư Tông (1735-1740).
(Phan Huy Chú, 1992, 3:73)
(6) Nguyễn Nghiễm (1708-1775) soạn Việt sử bị lăm.
Gồm 7 quyển.
(7) Năm 1775, Nguyễn Hoản [Hoàn?] (1713-1792), Lê Quí Đôn,
Vũ Miên (1718-1788), v.. v... được lệnh soạn Quốc triều
tục biên, 8 quyển, từ Lê Trang Tông (1533-1548) tới Lê
Gia Tông (1671-1675). Bổ sung chỗ thiếu của sử cũ.
[Theo KĐVSTGCM, chép thêm từ đời Lê Hy Tông (1676-1705) tới
Lê Ư Tông (1735-1740). (CM. q.44, tờ 26)?].
(8) Đến đời Tây Sơn, năm 1798 Quang Toản cho lệnh viết lại
sử. V́ bộ Đại Việt Sử kư bị mất, Ngô Th́ Nhiệm
(1746-1803?) thu góp tài liệu cũ viết từ đời Hồng Bàng đến
thập nhị sứ quân (968) làm Ngoại kỷ, gồm 7 tập, và từ Đinh
Tiên Hoàng (968-980) tới năm Lê Lợi giải phóng Đại Việt khỏi
ách đô hộ của nhà Minh (1427) làm Bản kỷ, gồm 10 tập; tổng
cộng 17 tập. Năm 1800, bản gỗ khắc xong, vua Quang Toản cho
in với tựa Đại Việt Sử kư tiền biên.
(Gaspardone 1934:65, 73-74; bản dịch của Viện Hán Nôm Hà Nội
năm 1997)
Hiện nay, có hai bản dịch Việt ngữ của Đại Việt Sử Kư
Toàn Thư: Một của Nhượng Tống (chỉ có Ngoại kỷ), một của
Cao Huy Giu (trọn bộ, 1967, dựa theo bản Lê Hi [1697])
Các tác giả
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (1856 khởi viết,
1859 hoàn tất, hiệu đính từ 1871 tới 1878, in năm 1884) tự
nhận đă theo phương pháp mà bảy thế kỷ trước Chu Hy dùng để
viết cuốn Thông Giám Cương Mục. Sử kiện được thuật
theo lối biên niên, trước hết tóm lược dữ kiện chính trong
vài hàng (cương), rồi diễn giải rơ ràng chi tiết hơn
(mục). Tuy nhiên, cách tŕnh bày dữ kiện th́ lại theo
lối sách Xuân Thu của Khổng Khâu.
Bộ Đại Nam
Thực Lục của quốc sử nhà Nguyễn th́, cũng giống như
Đại Thanh Thực Lục, theo phương pháp biên niên sử.
(Xem, chẳng hạn, Ta Ch’ing Jen Tsung Yue huang ti tu lu
[Đại Thanh Gia Khánh Huệ Hoàng đế thực lục] (Taipei: 1964)
B. GÁNH NẶNG
“THÁNH GIÁO”:
Thứ hai, sợi giây
xuyên suốt các nhận định (“đao bút”) trong các bộ quốc sử
nhà Lê và Nguyễn nói trên là tinh thần Khổng học như
thiên mệnh, chính thống, tam cương, ngũ thường, v.. v...
vay mượn từ phương Bắc. Chỉ cần đọc “Phàm Lệ” của các sử
quan trong bộ Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, người ta thấy
tinh thần đao bút Khổng giáo quá hiển lộ. Chính v́ thế cách
sắp xếp các triều đại thiếu tinh thần khoa học, đôi khi vô
lư: Như trên thực tế, quân Minh chiếm đóng Đại Việt suốt 20
năm, sử chỉ chép có 4 năm; những năm c̣n lại chia cho các
vua Hậu Trần và thời kỳ kháng chiến của Lê Lợi để bảo tồn
“quốc thống!”
(Toàn Thư [Giu 1967], I:24)
Hay con Lê Đại Hành là Lê Trung Tông vừa lên ngôi được 3
ngày đă bị em là Lê Long Đĩnh giết, nhưng sử quan chỉ cho
Ngọa Triều lên ngôi 8 tháng sau “để định tội Ngọa triều cướp
ngôi giết anh.”
(Ibid., I:23) Lời “Bàn” hay
“cẩn án” của
các sử
quan sau mỗi sự kiện cũng dựa theo nghi lễ và đạo đức Khổng
giáo. Đinh Tiên Hoàng (968-979), chẳng hạn, dù được coi như
nối ḍng chính thống của Hùng Vương (2879-255 TTL), bị chê
trách đă lập đến năm hoàng hậu, vi phạm nguyên tắc “tam
cương” của Khổng giáo, nên mất đi “thiên mệnh.”
(Toàn Thư [Giu 1967], I:45-6, 55)
Bộ Khâm Định
Việt Sử Thông Giám Cương Mục c̣n thêm lời “phê”
của Tự Đức (1848-1883). Những lời phê này được viết cao hơn
văn bản (gọi là viết đề lên). Dù phản ảnh nhân sinh
quan và vũ trụ quan của vua vào thế kỷ XIX, nhưng những lời
phê trên không thoát khỏi khuôn khổ “chính giáo.” Các tác
nhân lịch sử bị đặt lên chiếc giường “thánh giáo” ấy, thừa
th́ chặt bớt đi, ngắn kéo dài ra cho vừa với khuôn mẫu triết
lư chính trị Nho giáo. Đó là chưa kể đến sự thù hằn và ḷng
ghen tài với những người như Lê Quí Đôn.
Lối viết sử kiểu
nhị nguyên này đưa đến lối tŕnh bày và nhận xét nhiều khi
quá đơn, giản. Mọi tác nhân bị căng ra giữa hai đối cực
chính và ngụy. Ki-tô giáo, chẳng hạn, bị lên án
là “tả đạo.” Các nhà truyền giáo và giáo mục, giáo
dân bản xứ bị lên án là “ngụy” (giặc), “phiến gian
thụ đảng” (tụ tập phe đảng làm loạn), “nam nữ hỗn
loạn, hạnh kiểm như cầm thú” v.. v.... Ngay đến triều
đại lập nhiều chiến công nhất trong lịch sử cận đại Việt như
nhà Tây Sơn (1778-1802) cũng bị lên án là “ngụy,” với những
cách diễn tả như “tiếm hiệu,” “tiếm ngôi,” “xâm phạm ...
nước An-Nam” (khi tiến quân vào Nam truy diệt ḍng giơi chúa
Nguyễn, hay ra Bắc pḥ Lê, diệt Trịnh), v.. v...
[Xem bài về nhà Tây Sơn]
Lịch sử trở thành
tài liệu tuyên truyền, nhồi sọ “thánh giáo”–có thể gọi chung
là tài liệu truyền giáo–hơn tấm gương soi mặt ngàn đời, để
có thể từ đó rút ra những bài học hữu dụng cho tương lai mà
các sử quan mong muốn. (Tổng
luận của Lê Tung [1514], Toàn Thư [Giu 1967], I:39)
C. THIẾU SỬ LIỆU:
Tư liệu sử dụng
để viết các bộ quốc sử Việt phần lớn dựa theo chính sử và dă
sử Trung Hoa, được tăng bổ hay chế biến lại theo quan điểm
“quốc thống.”
V́ măi tới thế kỷ
thứ X, nước Việt mới giành được quyền tự chủ, việc t́m lại
quốc tổ quả thực nhiều vấn nạn. Năm thế kỷ sau, Ngô Sĩ Liên
mới chọn Hùng Vương làm quốc tổ, và lấy Ngô Quyền (939-944)
làm đầu mối phục hưng quốc thống của Hùng Vương. Vũ Quỳnh
đồng ư Hùng Vương là quốc tổ, nhưng lại khởi viết bản kỷ
Đại Việt thông giám từ Đinh Tiên Hoàng (968-979).
(“Phàm Lệ,” Toàn thư [Giu], tr. 21)
Sử quan các triều
kế tiếp đều đồng ư chọn Đinh Tiên Hoàng để mở đầu phần chính
biên.
Công tŕnh tái
dựng nguồn quốc thống ngược lên tới nhà Hồng Bàng và Hùng
Vương là một công tŕnh cực kỳ khó khăn và phức tạp.
1. Các sử quan và
văn nhân Trung Quốc, kể cả Khổng Khâu–do giới hạn kiến thức
về thiên văn, địa lư, cùng tự tôn chủng tộc của thời đại
họ–chỉ thấy Trung Quốc như tâm điểm của một vũ trụ h́nh
vuông, các dân tộc hay sắc dân khác ở ngoài cái khung h́nh
vuông ấy là “mọi rợ.”
Khổng Khâu sử
dụng tới bốn tiếng Bắc địch, Nam man, Tây
Nhung, Đông di để gọi các dân tộc “mọi rợ” lân
bang.
(Seraphin Couvreur, Li Ki: Mémoires sur les bienseances
et les cérémonies, 2 tập (Paris: 1913), I:295) Chẳng hiểu dựa
theo tài liệu nào, Khổng Khâu c̣n phán [văn] rằng các dân
“Nam man” nằm ngủ “chân, đầu lộn ngược” (để chân người
này lên đầu người kia). Văn gia Trung Quốc th́ hoang tưởng
ra những truyện đại loại như “Quỉ Môn Quan” mà Mă Viện từng
dựng bia khi chiến thắng quân Hai Bà Trưng trở về.
[Yo chih (Nhạc Sử) đời Tống (960-1279), trong cuốn Thái
B́nh Hoàn vũ kư, viết: Đời Tần muốn tới đất Giao Chỉ
phải qua Quỉ Môn Quan; mười người qua, chín người không trở
lại.
(Dẫn trong Lê Quí Đôn, Vân Đài Luận Ngữ [1772], bản
dịch Phạm Vũ, Lê Hiền (Sài G̣n: 1972), tr. 145)]
Măi đến hạ bán
thế kỷ XVIII, Lê Quí Đôn c̣n phải phản đối việc quan chức
nhà Thanh gọi sứ đoàn Việt là “mọi” [di nam, di mục],
nên nhà Thanh mới đồng ư đổi thành
“An Nam cống sứ.”
(Lê Quí Đôn, VĐLN, tr. 9) Nhưng nhà Thanh
vẫn giữ nguyên tên “Trấn Nam Quan” cho cửa ải ở
phương Nam, trong khi các văn gia Việt gọi nó bằng tiếng
“ải Nam Quan” hay “ải Nam Giao.”
Và, dù từ năm 1804 vua Gia Khánh nhà Thanh đă đổi quốc hiệu
nước ta thành “Việt Nam,” nhưng sách sử giáo khoa
Trung Quốc vẫn ghi “An-Nam,” một thuộc quốc của
“thiên triều.”
(Xem “An Nam chinh vũ kư” của Ngụy Nguyên (1842))
Cho đến thế kỷ XIX, XX người Trung Quốc vẫn chưa sạch ḷng
cao ngạo chủng tộc này. Họ thường gọi người Tây phương là
“Bạch quỉ” hay rợ Tây (Tây di). Những bạch quỉ
hay Tây di này chỉ ỷ vào vũ lực hùng mạnh, ăn hiếp một dân
tộc văn minh duy nhất trên thế giới, biểu lộ qua việc cho
quân sĩ xếp hàng dài theo biên giới Nga, tụt quần, chổng
mông. Bởi thế, nhan nhản trong sử sách những lập luận như
“Hán Vũ đế tru Lữ Gia khai cửu quận, thiết thứ sử dĩ trấn
chi, tỉ Trung Quốc nhân tạp cư kỳ gian, sảo sử học thư, thô
tri ngôn ngữ, sứ dịch văng lai, quan kiến Lễ hóa...”
[Hán Vũ Đế giết Lữ Gia, mở 9 quận, đặt thứ sử để trấn áp,
đưa dân Trung Quốc tới ở chung, giúp mở mang việc học, biết
tiếng Trung Hoa một cách thô vụng, sứ đoàn đi lại, cho thổ
dân biết được lễ nghĩa, phong hóa]. (KĐVSTGCM, Tiền Biên
(Sài G̣n: 1970), III:6A).
Chẳng khác ǵ Charles de Gaulle, vào năm 1945, vẫn khăng
khăng Pháp “đă mở cửa cho dân Annamite vào thế giới văn
minh,” và quyết mang súng đạn, xe tăng xin mượn của
Bri-tên và Mỹ để đưa “con tàu lạc bến Đông Dương” trở lại
“ṿng khai hóa.”
2. Nỗi khổ tâm
của các sử quan Việt không chỉ giới hạn trong việc chống lại
lối nh́n tiên thiên “mọi rợ” của sử quan và văn thi gia
Trung Quốc để viết lại về tổ tiên ḿnh [tương tự như lối
diễn tả ước lệ chậm tiến, thế giới thứ ba, hay các
nước đang mở mang hiện nay]. Họ c̣n phải tự trói
trong khuôn khổ những “thánh ngôn” của Khổng Khâu và đệ tử
mà họ đă bị nhồi sọ từ thuở để chỏm là thần thánh, vĩ đại,
bậc thày hàng vạn đời [khoảng 100,000 năm] của nhân loại.
[Khổng Khâu là người đưa ra lư thuyết trái đất vuông, trời
tṛn, và chỉ khoảng 2,000 năm sau ngày ông ta chết, thuyết
trên đă bị phá sản.
Sau này, khi các nhà truyền giáo Tây phương như Malteo Ricci
(Lợi Mă Đậu), Ferdinandus Verbiest (Nam Hoài Nhân, tác giả
Khôn dư đồ thuyết), Guileo Aleni (Ngải Nho Lược), v..
v.. bàn và viết về đất tṛn, biển tṛn tại triều nhà Minh,
Lê Quí Đôn vẫn t́m được cách ngụy biện rằng “tiên nho” đă
biết truyện trời tṛn, đất tṛn qua thuyết “Hỗn thiên” rồi!
(VĐLN, 1972:60, 77, 78, 177-82)]
Và, nếu tin được
Lê Tắc, đă có lần vua Trung Quốc hỏi một sứ giả Việt là phải
chăng ở quận Nhật Nam, mặt trời mọc từ hướng Bắc!
3. Nỗi nhức đầu
khác của các sử quan như Lê Văn Hưu hay Phan Phu Tiên, Ngô
Sĩ Liên, Vũ Quỳnh, v.. v... là hầu hết chính sử Trung Quốc
cung cấp rất ít dữ kiện về nước Việt. Ngay trong số dữ kiện
hiếm hoi được ghi lại th́ không chỉ sai lạc, mà c̣n đứng
trên quan điểm một thượng quốc hay thiên triều đối với một
thuộc quốc.
a. Không
hoặc rất ít dữ kiện:
(1) Kinh Thư,
chẳng hạn, chẳng nói ǵ về cổ Việt. Xuân Thu của
Khổng Khâu chỉ nói về nước Lỗ.
Sự im lặng này có
thể v́ hai bộ Kinh Thư và Xuân Thu đă chịu
cảnh tam sao thất bản sau hàng thế kỷ chiến tranh. Đó là
chưa kể ngọn lửa phần thư của Tần Thủy Hoàng (221-207 TTL)
và Sở Bá Vương Hạng Vũ [Hang Yu] (hỏa thiêu thành Hàm Dương
[Hien yang] năm 206 TTL). Măi tới thời nhà Tiền hay Tây Hán
(206 TTL-8STL), mới có những nỗ lực truy t́m cổ thư.
[Nhiều sách Việt từ thời Pháp thuộc sử dụng thuật ngữ
“trước” và “sau Công Nguyên”để chuyển dịch những tiếng
“trước Jesus”[B.C.] và”sau Jesus [AD]. Jesus, theo những
biên khảo khả tín, không sinh vào năm thứ 1 Tây lịch]
Chi tiết cổ nhất
về nước Việt trong kinh sách Trung Quốc là việc sứ Việt
Thường tới cống chim trĩ trắng thời Chu Thành Vương
(1115-1079 TTL) của nhà Tây Chu (1122-771 TTL). Chuyện này
được Phúc Thắng ghi trong Thượng thư đại truyện (đầu
đời nhà Hán). Rồi được lập lại trong Sử Kư của Tư Mă
Thiên, và Hậu Hán Thư
(Nam Man Truyện, q. 116).
Tân Măo [1110 TTL, năm Chu Thành vương thứ 6]: Phía nam Giao
Chỉ có họ Việt Thường, sau ba lần thông dịch, đến cống chim
trĩ trắng.”
(dẫn trong Cương Mục, TB [Sài G̣n: 1965], II:29-31.
ANCL của Lê Tắc ghi là chín lần thông ngôn; q. 1,
tr. 16 (Hán ngữ), tr. 23 (Việt ngữ); Toàn Thư [Giu
1967], I:313chú 5. [Cũng nhắc năm này, Tư Mă Thiên chép Hùng
Huy vương đến cống chim trĩ trắng].
Các học giả ngày
nay nghĩ rằng chi tiết trên liên quan đến sự chế tạo ra kim
chỉ nam hay địa bàn hơn nói về nước Việt Thường. Nhưng năm
1804, trong chiếu sắc phong Nguyễn Chủng (vua Gia Long) làm
Việt Nam Quốc Vương, Gia Khánh và triều thần nhà Thanh vẫn
nhắc đến nước Việt Thường, để tỏ sự lâu đời của mối
bang giao Hoa-Việt. Trong bộ Đại Nam Nhất Thống Chí
của nhà Nguyễn, tên Việt Thường được gán ghép cho rất nhiều
địa danh, mà chẳng bận tâm chứng minh.
Từ đời Đường
(618-917), các văn gia Trung Quốc mới bàn nhiều về cổ Việt.
Khổng An Quốc, khi chú thích Kinh Thư, diễn giải “Nam
Giao” trong thiên Đế điển thành “Giao Chỉ.” Qua đời Tống
(960-1279), Thái [Sái] Trầm cũng lập lại luận cứ “Nam Giao”
là “Giao Chỉ” trong Thư Kinh Tập Truyện.
(CM,TB (Sài G̣n), 1965, II:27).
Thiên Nghiêu điển của kinh Thư chép: “Vua Nghiêu lại sai Hy
Thúc đến ở Nam Giao tại phương Nam, sắp đặt theo thời tiết ở
phương Nam, kính cẩn ghi bóng mặt trời ngày hạ chí, là ngày
dài nhất [trong một năm] và xem sao Đại hỏa để định cho đúng
tiết trọng hạ [tháng 5 âm lịch]. Lúc đó dân cư tản mác, chim
và thú thưa lông [v́ nóng nực].
Cũng dưới thời
nhà Tống, Cheng Ch'iao (Trịnh Tiều, 1104-1162) thượng-cổ-hóa
hơn nữa mối liên hệ giữa Trung Hoa với cổ Việt. Trong cuốn
Thông chí [T'ung chih]
(in lại trong Thập Thông [Shih-t'ung] (Shanghai:
Commercial Press, 1935),
Trịnh Tiều cho sứ
Việt Thường qua thông hiếu từ năm Mậu Thân [2352 TTL], tức
năm thứ năm đời vua Đường Nghiêu (2357-2258 TTL). Vật tiến
cống là một con rùa thần
[Đường Nghiêu Mậu thân ngũ tải, Việt thường thị lai triều
hiến thần qui].
Trên lưng con rùa
này c̣n có chữ khoa đẩu ghi việc trời đất mới mở trở về sau.
Nghiêu sai người chép lại, gọi là “quy lịch” (lịch rùa).
(Cương Mục, Tiền Biên (Sài G̣n: 1965), II:28-9)
Cuối đời nhà Tống
và đầu đời Nguyên (1279-1368), Kim Lư Tường (1232-1303) cũng
lập lại chuyện cúng rùa thần trên khi dùng Kinh Thư để viết
Thông Giám Tiền Biên tức phần Tiền Biên cho cuốn
Tư trị Thông Giám của Tư Mă Quang đă nhắc ở trên.
(2) Bộ Sử Kư
của Tư Mă Thiên đời Hán chẳng nói ǵ nhiều về cổ Việt. Không
hề nhắc chuyện nhà Hồng Bàng hay Thục vương.
[Burton Watson, Records of the Grand Historian of China,
from the Shih chi of Ssu-ma Ch'ien, 2 vols (New York:
1961). Sẽ dẫn: Tư Mă Thiên (Watson)].
Khi viết về Ngô
Khởi và Triệu Đà, Mă Thiên chỉ mơ hồ nhắc đến Bách Việt [Pai
Yueh] ở phía Nam sông Dương tử.
[Sở Điện vương sai Ngô Khởi đánh dẹp đất Bách Việt ở phương
Nam. (Toàn Thư [Giu 1967], I:313chú 4)]
Nhà Tần lại sai Úy Đà, Đồ Thư đem quân Lâu thuyền xuống Nam
đánh đất Bách Việt, sai Giám Lộc đào cừ chở lương để vào sâu
đất Việt. Người Việt bỏ trốn. Quân Tần tŕ cứu lâu ngày.
Lương thực bị tuyệt và thiếu. Người Việt ra đánh. Quân Tần
đại bại. (Toàn
Thư
[Giu 1967], I:315chú 27)
Tư Mă Thiên c̣n
nhắc đến sứ Việt Thường cống chim trĩ trắng vào khoảng năm
1110 TTL, dưới thời Chu Thành Vương như đă nhắc ở trên.
Vào thế kỷ thứ
II, khi chú giải Sử Kư (q.
31), Ứng
Thiệu nói về tục vẽ ḿnh của người Việt:
“V́ ở trong nước
nên người ta cạo tóc xâm ḿnh để cho giống với giao long nên
không bị giao long hại nữa.”
(Toàn Thư [Giu], I:314chú 15)
Sáu thế kỷ sau,
Tư Mă Trinh, trong Sử kư sách ẩn (chú giải Sử Kư
của Tư Mă Thiên) mới nhắc đến cổ Việt với nhiều chi tiết
hơn, dựa theo một đoạn trong Quảng Châu Kư của Đào
[Văn Hàm].
[Xem đoạn dưới]
(3) Hán Thư
[Han shu] của Pan Ku [Ban Cố, 32-92] và những người
khác, gồm 100 truyện, không nói đến cổ Việt.
(a). Tiền Hán Thư [Hsin Han shu, Annals of the Former
Han, 206 TTL- 8 STL)] của Ban Cố chỉ nhắc đến Giao Châu
trong “Mă Viện truyện.”
[Chúng tôi tham khảo bản Hán ngữ trong bản dịch Anh ngữ của
H. H. Dubs, The History of the Former Han Dynasty by Pan
Ku, 3 vols (Baltimore: 1938. 1944, 1955)]
(b). Hậu Hán Thư [Hou Han shu] của Fan Yeh (Phạm
Việp, 398-446), có Nam Man truyện nói về sứ Việt
Thường cống chim trĩ trắng dưới thời Chu Thành Vương đă lược
nhắc.
(CM, TB (Sài G̣n:1965), I:17n1.
Don Luce dịch qua Mỹ ngữ) Ngoài ra, c̣n những truyện [cung
văn] về danh tướng và quan chức Bảo hộ như Phục Ba Tướng
Quân Lộ Bác Đức, Mă Viện, Tích Quang, Nhâm Diên, v.. v....
Sự im lặng về cổ
Việt này, ít nữa, có thể do một hay nhiều trong những nguyên
nhân sau:
(a) Dân cổ Việt,
tức tổ tiên chúng ta, chưa hề tiến tới tŕnh độ thành lập
một quốc gia; hoặc,
(b) Các văn gia
Trung Quốc kiến thức hạn hẹp, không hề biết đến những nước
lân bang; và/hoặc,
(c) Trong nỗ lực
đồng hóa dân Việt, sử quan và văn gia Trung Quốc cố t́nh
tảng lờ sự hiện diện của nước cổ Việt, mà chỉ thích bàn về
công ơn khai hóa của các vua quan Trung Quốc; và/hoặc
(d) Do thiếu
phương tiện bảo quản, sao đi chép lại phần lớn do trí nhớ,
người sao chép chỉ giữ lại những ǵ ḿnh ưa thích, nên các
tư liệu bị mất mát.
b. Sai lạc
về chi tiết:
Các chi tiết về
cổ Việt, như đă lược nhắc, chỉ bắt đầu xuất hiện từ đời nhà
Đường (618-917), nhà Tống (962-1274) trở đi. Có lẽ v́ nước
Việt đă giành được quyền tự chủ, nên sử quan và văn gia
Trung Quốc chú ư hơn về xứ thuộc địa Giao Châu, Giao Chỉ,
Tĩnh Hải quân rồi An Nam Đô hộ, Trấn Nam Đô hộ cũ ở phương
Nam. Hoặc, sự hiểu biết về các nước lân bang đă phong phú
hơn.
Trong số các tác
phẩm giai đoạn này, đáng kể nhất có:
(1) Thái B́nh
Ngự Lăm [T'ai-p'ing yu-lan] do Li Fang [Lư Phương]
(925-996) và nhiều người khác biên soạn, gồm 1,000 truyện.
In lại trong thời gian 1807-1812, dùng bản khắc cũ.
[Có hai chữ Thái B́nh v́ soạn xong vào niên hiệu Thái b́nh
hưng quốc (976-983), triều Tống Thái Tông (976-997)].
(2) Thái B́nh
Quảng Kư của Lư Phỏng [Phương?]
(Lê Quí Đôn, VĐLN, tr. 46-7)
(3) Thái B́nh
Hoàn vũ kư của Yo chih [Nhạc Sử] đời Tống (960-1279).
Gồm 200 quyển, nhưng nay chỉ c̣n 193 quyển. Mất các quyển
113 tới 119. Sách chuyên về địa lư cổ.
Dùng chi tiết “Hùng vương, hùng hầu, hùng tướng, hùng dân,
hùng điền trong Nam Việt Chí của Thẩm Hoài Viễn (thế
kỷ V).
Đất Giao Chỉ rất màu mỡ, người ta di dân đến ở, chính họ là
người đầu tiên khai khẩn đất này. Đất đen và xổi, hơi xông
lên mùi hùng. V́ vậy người ta gọi ruộng đó là hùng điền, dân
đó là hùng dân.
Phong châu là quận Thừa hóa, nước Văn Lang xưa.
Quỉ Môn Quan: Đời Tần muốn tới đất Giao Chỉ phải qua Quỉ Môn
Quan; mười người qua, chín người không trở lại. Mă Viện lập
bia tại đây.
(Lê Quí Đôn, Vân Đài Luận Ngữ, bản dịch Phạm Vũ, Lê
Hiền, tr. 145)
(4) Thông chí
của Trịnh Tiều (1104-1162):
Theo Kinh Thư, “Vua Nghiêu sai Hy Thúc sang Nam Giao lo việc
làm ruộng mùa Hè ở phương Nam.” Nam Giao tức Giao Chỉ.
Năm Mậu Thân, năm thứ năm đời vua Nghiêu, họ Việt Thường vào
cống con rùa thần, trên lưng có chữ khoa đẩu ghi việc trời
đất mới mở trở về sau. Vua Nghiêu sai người chép lại, gọi là
“quy lịch” (lịch rùa).
(Cương Mục [Sài G̣n], 1965, II:28-9)
(5). Thông
Giám Tiền Biên của Kim Lư Tường (1232-1303):
Năm Mậu Thân, năm thứ năm đời vua Nghiêu, họ Việt Thường vào
cống con rùa thần. [Đường Nghiêu Mậu thân ngũ tải, Việt
thường thị lai triều hiến thần qui]
c. Giọng
điệu trịch thượng:
Sử liệu Trung
Quốc về Việt Nam luôn mang giọng trịch thượng của thiên quốc
đối với chư hầu. Trung Quốc tự hào là mặt trời soi sáng tứ
phương; ân sủng vua Trung Quốc tắm gội vua quan Việt và các
chư hầu khác.
Mỗi lần xuất quân
xâm lăng Đại Việt, Trung Quốc đều tự xưng là “chinh
phạt,” hầu đưa vua quan và quốc dân Việt trở về ṿng
giáo hóa. Hễ thua trận rút về th́ đổ tội cho thời tiết khó
chịu, đau ốm, vua nước Việt xin tha tội. Thí dụ tiêu biểu
nhất là đoạn viết về cuộc xâm lăng Đại Việt năm 1077 dưới
thời Lư Nhân Tông (1072-1128) trong Tống sử Cương Mục
mà chính anh em Tŕnh Di, Tŕnh Hiệu phải cải
chính trong Nhị Tŕnh di thư.(
Lê Quí Đôn, VĐLN, tr. 174-175)
Triệu
Quang Nghĩa
(Tống Thái Tông, 976-997, em Triệu Khuông Dẫn) sai Vương Vũ Xứng viết cho
Lê Hoàn vào tháng 9-10/980:
“Trung quốc đối với các nước mọi rợ như ḿnh với tứ chi,
khi vận động co ruỗi là tùy tâm, cho nên nói bậc đế vương là
trái tim. Một người có chân hay tay đau, mạch máu không
thông, th́ phải uống thuốc để trị lành bệnh. Nếu uống thuốc
không hết th́ dùng châm cứu vào chỗ đau. Không phải không
biết rằng thuốc uống th́ đắng miệng, châm cứu th́ tổn hại
ngoài da, nhưng thiệt hại chỉ ít thôi mà nhiều ích lợi
hơn...
.
Chức vi đế vương như ông thày chữa bệnh, trông thấy mọi rợ
nào có chứng đau, th́ t́m thuốc chữa.... Cho nên luyện đơn
thuốc nhơn nghĩa, sửa soạn cái kim và mũi đá đạo đức, chữa
bệnh nơi gần cho thật mạnh, rồi điều trị cả chín châu, bốn
biển, chẳng c̣n đau ốm ǵ. [Cư đế vương chi vị, thị di địch
chi bệnh... Ư thị, luyện nhơn nghĩa chi dược nhĩ, tu đạo đức
chi châm biêm, đại liêu vu cận, nhi dũ cửu châu tứ hải, kư
khương khả ninh]
[Xứ Giao Châu so với Trung Hoa chỉ như ngón tay, nhưng thánh
nhân vẫn phải chữa].
V́ thế cần mở ḷng ngu tối của ngươi để được thấm nhuần
thánh giáo.” V́ ḷng nhân từ trùm muôn nước, phải chữa trị
cho [Giao Châu] khỏi đau, sớm thấm nhuần thánh giáo, bỏ thói
“cắt tóc ngắn,” “uống nước bằng lỗ mũi,” “nói líu lo như
chim.”
Nếu theo th́ tha tội, nghịch lại th́ ta đánh [hướng hóa ngă
kỳ xá, nghịch mạng ngă kỳ phạt].
(Thư Vương Vũ Xương gửi Lê Hoàn [980]; ANCL, q. 5,
1961:115-116 [trích Tống Sử]; ĐVSKTT, 1967,
I:162-163.
Người đưa thư là Lư Đa Tốn [CM, CB
I:16, (Huế), 1998, I:250-251]
Việc phong tước
hiệu cho vua Việt cũng phản ảnh thái độ trịch thượng cường
quốc. Thoạt tiên, vua Trung Quốc chỉ phong cho vua Việt chức
Tiết độ sứ, Tiết chế. Sau đó mới phong làm quận
vương, hay Nam B́nh vương. Măi tới năm 1164 [hoặc
1175, nếu muốn], vua Tống mới phong cho Lư Anh Tông
(1138-1175) chức An Nam Quốc Vương, tức nh́n nhận An
Nam [Đại Việt] là một nước chư hầu, mà không phải một phủ
hay quận nữa.
Mặc dù trong nước các vua Việt tự xưng làm vua, đặt các chức
vương, hầu, khanh, tướng, với vua Trung Quốc, ít nữa trên lư
thuyết, vua Việt đă chỉ “tiếm đặt” các chức trên. V́,
với triều đ́nh Trung Quốc, vua Việt đă tự nhận làm thuộc
quốc vương, và dân Việt chỉ là một thứ “phục di, nhuộm
răng, xâm ḿnh.” Thập niên 1720, nhà Thanh dựng một bia
đá phân chia ranh giới, với hai chữ An Nam. (Xem bia “Trùng
tu Trấn nam quan [1725]” và “Đi tuần biên ải An Nam” [1746]
trong Lê Quí Đôn, VĐLN, tr. 160-165) Năm 1804, nhà
Thanh đổi quốc hiệu nước ta thành Việt Nam, nhưng
sách sử Trung Quốc vẫn giữ thói quen gọi nước Việt là
Giao Chỉ, Giao Châu, Trấn Nam, hay An Nam (tức
miền Nam đă được b́nh định).
Tưởng nên ghi
thêm là qua văn thư của vua quan Việt gửi triều đ́nh Trung
Quốc, người đời sau không khỏi ngậm ngùi cho thái độ khúm
núm quá mức của các nho gia Việt. Dù lối diễn tả của họ chỉ
gồm những sáo ngữ ước lệ trích dẫn từ các kinh điển Khổng
giáo, nhưng những sáo ngữ này tự hạ ḿnh quá đáng, ví việc
vua Việt thờ kính vua Trung Hoa như con với cha, “khúm núm”
“run sợ” tâu tŕnh, v.. v... Ngay đến thời Quang Trung, Càn
Long vẫn c̣n muốn “Nguyễn Quang B́nh” sớm qua Bắc Kinh làm
lễ “bảo tất,” tức ôm đầu gối vua Thanh nhân dịp
thượng thọ bát tuần (80 tuổi) hầu bày tỏ ḷng trung hiếu!
(Xem Đại Việt Quốc Thư, cả hai miền Nam và Bắc đều đă
chuyển ngữ qua tiếng Việt mới).
Đáng ghi nhận là
người chê trách Lê Quí Đôn nặng lời nhất, tức “Hán Văn Đế” ở
Thuận Hóa, vào lúc cuối đời c̣n xin phụ thuộc vào nhà Thanh!
(ĐNTLCB, IV, 35:89-91; Sogny, 1943:124-125)
Ngày 11/2/1882, Đường Đ́nh Canh tới Huế, cùng Mă Phục Bôn
[Bân]. Tự Đức không tiếp, sợ Pháp nghi kị. Cho Nguyễn
Văn Tường và Trần Thúc Nhẫn tiếp. Canh mật báo với Tường kế
hoạch đánh Bắc Kỳ của Pháp, dưới chiêu bài đuổi Lưu Vĩnh
Phúc, mà Tăng Kỷ Trạch đă tŕnh về Yên Kinh.
Tự Đức sai Tường yêu cầu nhà Thanh can thiệp. Đề nghị làm
thuộc quốc của nhà Thanh, đặt đại diện ở Yên Kinh và Quảng
Đông. Xin nhờ tàu Thanh đưa người Việt đi các nước Anh, Nga,
Phổ, Pháp, Mỹ, Áo, Nhật Bản xem xét và học. [Theo tài liệu
Trung Hoa: (1) Cho Đại Nam cử một đại sứ đặc mệnh toàn quyền
ở Yên Kinh, và gửi một số quan chức qua tập sự ở Tổng lư nha
môn; (2) cho Đại Nam cử nhân viên qua Bri-tên và Pháp, làm
việc tại sứ quán Trung Hoa, để khẳng định quan hệ truyền
thống giữa hai nước; (3) Cho Lưu Vĩnh Phúc tới Quảng Châu để
tiếp tế súng đạn, quân nhu. Tháng 3/1882,
Đ́nh Canh viết báo cáo gửi Lư Hồng Chương, nhưng Tổng lí nha
môn không trả lời; Thọ, 1995:268).
Tự Đức cũng viết thư cho Lư Hồng Chương, Trương Thụ Thanh.
(ĐNTLCB, IV, 35:89-91)
Vua Thanh trả lời: “Khả, sỉ bắc phong tái biên”
[Nous prendrons des mesures dès l’arrivée du vent du nord.”]
Ngày 24/11/1882, Rheinart đă có được bản sao thư trả lời của
vua Thanh.
(Sogny, 1943:124-125)
Những
người đả kích Lê Tắc và tập An Nam Chí Lược [ANCL]
chưa tham khảo, hay tảng lờ các chi tiết này.
Những
tựa sách sau của Trung Quốc chưa được dịch qua Việt ngữ:
(1) [Lưu] Tống thư [Sung shu, hay History of the
(Liu) Sung Dynasty (420-479)] của Shen Yueh (Thẩm Ước,
441-513), gồm 100 truyện [chuan], bản in Po-na.
(2) Lương Thư [Liang shu, hay Annals of the Liang
Dynasty, 502-57] của Yao Ssu-lien (d. 637). Chuơng 54 nói về
Nam Hải. Sách dẫn nhiều tài liệu về Fu-nan [Phù Nam].
(3) Tấn thư, của Pḥng Huyền Linh (578-648). Gồm 130
cuốn.
Tôn Thịnh cũng viết bộ Tấn Xuân Thu, tức Tấn Dương
Thu.
(4) Tùy Thư [Sui-shu, hay Annals of the Sui Dynasty,
581-618], của Wei Cheng (581-643), đặc biệt là chương 82 về
Malaya.
(5) Đường thư [T'ang shu]:
(a) Cựu Đường thư [Chiu T'ang shu, hay Old Annals of
the T'ang Dynasty, 618-917], của Liu Hsu (Lưu Hú, 897-946)
và những người khác.
Sách này gồm 200 quyển, có phần nói về những nước miền Đông
Nam Á, như Kha lạc [Ko-lo], P'an P'an, Tan Tan, Lạc Việt [Lo
yueh], Khả cô lạc [Ko-ku lo], Chieh-ch'a và Xích Thổ [Ch'ih
t'u].
(b) Tân Đường thư [Hsin T'ang shu, hay New Annals of
the T'ang Dynasty], của Ou-yang Hsiu (Âu Dương Tu,
1007-1072), Sung ch'i (Tống Kỳ, 998-1061), và những người
khác.
Phần lớn chép lại Cựu Đường Thư, và bổ túc thêm. Gồm
225 tập, làm vào năm 1060.
(6) Tư trị Thông Giám của Tư Mă Quang. Chép từ thời
Chiến Quốc (403-221 TTL) tới đầu đời Ngũ Đại (907-960).
Cuốn Thông Giám này theo thể biên niên. Chu Hy dựa trên bộ
Tư trị Thông Giám của Tư Mă Quang viết lại theo lối sách
Xuân Thu, và đặt tên là Thông Giám Cương Mục (cương = nét
chính của biến cố; mục= giải thích chi tiết), gồm 294 chuan
[truyện hay chương], với lời b́nh của Hu San-hsing (Hồ Tam
Trinh, 1230-1302).
(7). Nguyên sử:
Do Tống Liêm đ̣i Minh soạn. Những tư liệu về Đại Việt rất sơ
lược. Đặc biệt là những cuộc xâm lăng Đại Việt.
(8). Minh sử:
Gồm 336 cuốn, do Vương Hồng Tự hoàn tất dưới thời Thanh
Khang Hy. Những tư liệu về Đại Việt rất sơ lược. Kể cả cuộc
xâm lăng và chiếm đóng Đại Việt từ 1407 tới 1427.
(9). Thanh sử:
Những tư liệu về Đại Việt rất sơ lược. Đặc biệt là cuộc xâm
lăng Đại Việt năm 1788-1789.
D. DĂ Sử TRUNG
QUốC:
V́ thiếu tư liệu,
sử quan Việt phải đi t́m dă sử Trung Quốc như nguồn tài liệu
phụ. Những cuốn sách được nhắc nhở nhiều nhất có:
1. Hoài Nam Tử
và/hay Hoài Nam Hồng liệt giải của Hoài Nam Vương
Lưu An đời Hán.
Theo Lê Tắc (truyện “Việt vương thành” trong mục “Cổ tích”),
năm 135 TTL, Lưu An (Hoài Nam Vương) viết biểu lên vua Hán
như sau:
Đất [Nam] Việt ở ngoài địa phương Trung Quốc, dân họ đều cắt
tóc vẽ ḿnh, không thể dùng pháp độ của nước mặc mũ áo mà
cai trị.... Nam Việt không có thành quách, làng xóm, chỉ ở
trong khe suối, hang đá và vườn tre, từ xưa tập luyện thủy
chiến; đất đai ở sâu xa, tối tăm mà nhiều khe suối rất hiểm,
sông núi cách trở gay go, cây cối rậm rạp, lui tới khó khăn
không kể xiết. Mới trông qua như tuồng là dễ, mà muốn tới
th́ khó khăn.
(Tắc, ANCL, 107)
Theo Lê Quí Đôn,
ở một đoạn khác, Lưu An c̣n viết:
Khí núi sinh nhiều con trai; khí đầm sinh nhiều con gái; khí
nước sinh nhiều người câm; khí gió sinh nhiều người điếc;
khí rừng sinh nhiều người yếu ớt; khí cây sinh nhiều người
c̣ng;.
.
.
.
(Lê Quí Đôn, VĐLN, tr. 41)
2. Giao châu
ngoại vực kư: Nhắc đến Lạc điền, Lạc vương, Lạc hầu, Lạc
tướng.
Hồi xưa, chưa có quận huyện, th́ Lạc điền tùy theo thủy
triều lên xuống mà cày cấy. Người cày ruộng ấy là Lạc dân,
người cai quản dân ấy là Lạc vương, người phó là Lạc tướng,
đều có ấn bằng đồng và giải sắc xanh làm huy hiệu.
[Vua nước Thục thường sai con đem ba vạn binh đi chinh phục
các Lạc tướng. Nhân đó giữ đất Lạc mà tự xưng làm An Dương
Vương. Triệu Đà cử binh sang đánh.
.
.
.]
[Tích vị hữu quận huyện thời, Lạc điền tùy triều thủy thượng
hạ, khẩn kỳ điền giả vi Lạc dân, thống kỳ dân giả vi Lạc
vương, phó vương giả vi Lạc tướng, giai đồng ấn thanh thọ.
(Thục vương thường khiển tử tương binh tam vạn, hàng chư
Lạc, nhân cử kỳ địa nhi vương, tự xưng An Dương vương. Triệu
Đà cử binh tập chi.
.
.)].(
ANCL, q.
1, tr. 24 (Hán ngữ), 39 (Việt ngữ). Chữ Lạc dùng
trong sách này có bộ “mă”].
Đă tuyệt bản, dẫn trong Thủy Kinh Chú của Lịch [Lệ?]
Đạo Nguyên (thế kỷ III-IV hay VI?, q. 37, Diệp Du Hà),
Quảng Châu Kư (thế kỷ III-IV), Nam Việt Chí của
Thẩm Hoài Viễn (thế kỷ V), Sử Kư sách ẩn của Tư Mă
Trinh (thế kỷ VIII); An Nam Chí Lược của Lê Tắc (thế
kỷ XIV, thiên Tổng luận và Cổ tích, q. 1).
Theo Henri Maspéro, Giao châu ngoại vực kư xuất hiện
vào thời Đông Tấn, 303-416 [205-420?], tức thế kỷ III-IV.
3. Quảng Châu Kư: Có nhiều bản.
a. QCK của
Cố Vi đời Tấn (205-420),
Bản này có trong thư mục của Học Viện Viễn Đông Pháp [Ecole
Francaise d’Extrême-Orient, EFEO, thường dịch là Trường Viễn
Đông Bác Cổ].
b. QCK của
Bùi Uyên [hay Tuyên] (thế kỷ V).
Một sách địa lư về Quảng Châu (sau khi tách ra khỏi Giao
Châu vào thế kỷ thứ III). Dẫn trong Cương Mục, Tiền Biên.
Theo Trương Bửu Lâm, Bùi Uyên không được ghi trong Trung
quốc nhân danh đại tự điển.
(CM, TB (Sài G̣n), II:63)
c. QCK của
Đào Văn Hàm (thế kỷ VIII?)
Đất Giao Chỉ có Lạc điền, làm theo thủy triều lên xuống.
Người ăn ruộng đó là Lạc hầu, [người ăn ở] các huyện gọi là
Lạc tướng, có ấn đồng giải xanh, tức như quan lệnh ngày nay.
[Con Thục vương đem binh đánh Lạc hầu, tự xưng là An Dương
Vương, đóng đô ở huyện Phong Khê. Sau Nam Việt Vương Úy Đà
đánh phá An Dương Vương, sai hai sứ điển cai trị hai quận
Giao Chỉ và Cửu Chân, tức là Âu Lạc vậy].
[Đào thị án Quảng Châu Kư vân: Giao chỉ hữu Lạc điền, ngưỡng
triều thủy thượng hạ. Nhân thực kỳ điền danh vi Lạc hầu,
chư huyện tự danh vi Lạc tướng, đồng ấn thanh thụ....]
Léonard Aurousseau (1923, trang 213, n3), cho rằng đoạn văn
này thiếu, cần phải so sánh với Giao Châu Ngoại Vực Kư
mới hiểu được; và Quảng Châu Kư có xuất xứ từ
Giao Châu Ngoại Vực Kư, hoặc cả hai sách là từ một nguồn
tư liệu thứ ba nào đó. Đào thị ở đây, vẫn theo Aurousseau có
thể là Đào Văn Hàm, tác giả một cuốn Quảng Châu Kư.
Dẫn trong Sử Kư Sách ẩn (thế kỷ VIII) của Tư Mă
Trinh.
4. Nam Việt
Chí của Thẩm Hoài Viễn (thế kỷ V). Dẫn Giao
Châu Ngoại Vực Kư nhưng lại dùng “Hùng vương, hùng hầu,
hùng tướng, hùng dân, hùng điền”:
Đất Giao Chỉ rất màu mỡ, người ta di dân đến ở, chính họ là
người đầu tiên khai khẩn đất này. Đất đen và xổi, hơi xông
lên mùi hùng. V́ vậy người ta gọi ruộng đó là hùng điền, dân
đó là hùng dân.
Thái B́nh Hoàn Vũ Kư
(thế kỷ X) sử dụng tài liệu này.[
Xem supra]
5. Giao Quảng
Kư của Hoàng Tham [Sam?]:
Giao Chỉ có ruộng Lạc điền. Người ăn thuế ruộng ấy gọi là
Lạc hầu. Các huyện tự xưng là Lạc tướng. Sau con vua Thục
đem quân đánh Lạc hầu, tự xưng là An Dương Vương. Đóng đô ở
Phong khê.
Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, Ngoại kỷ,
của Ngô Sĩ Liên (1479) dẫn sách này. Nhưng sửa “Lạc”
thành “Hùng”.
(Toàn Thư [Nhượng Tống], tr. 70, chú 2) [CM không
nhắc đến]
6. Sử Kư Sách
ẩn (Thế kỷ thứ VIII) của Tư Mă Trinh (chú giải Sử Kư
của Tư Mă Thiên).
Dẫn Quảng Châu Kư. Đích thân Tư Mă Trinh chưa được
đọc sách này, nhưng dựa theo lời của Đào Văn Hàm.
[Xem supra]
7. Giao Châu
Kư: Có nhiều bản.
a. Giao Châu
Kư hay Giao Chỉ Kư của Tăng Cổn (Thế kỷ IX), một
cựu quan chức ở Giao Châu.
Sách Việt Điện U Linh Tập của Lư Tế Xuyên hay trích
dẫn sách này.
Tăng Cổn c̣n có cuốn Việt Chí, chép: Giao Chỉ có lạc
điền, tùy theo nước triều lên xuống.
(Lê Quí Đôn, VĐLN, tr. 147)
b. Giao Châu
Kư hay Giao Châu chí của Lưu Hân Kỳ.
(Lê Quí Đôn, VĐLN, tr. 146; Lê Tắc, An Nam Chí Lược)
c. Giao Châu
Kư của Lưu Trừng Chỉ.
(Lê Quí Đôn, VĐLN, tr. 145)
8. Phiên Ngung
tạp kư của Trịnh Hùng đời Đường.
Đất Giao Chỉ tốt, nhiều màu mỡ. Xưa có vua là Hùng Vương,
tướng văn là Hùng hầu, tướng vơ là Hùng tướng.
(Lê Quí Đôn, VĐLN, tr. 147)
9. Thư Kinh
Tập Truyện của Thái [Sái] Trầm, đời Tống (960-1279).
Diễn giải kinh Thư.
Thiên Nghiêu điển của kinh Thư chép: “Vua Nghiêu lại sai Hy
Thúc đến ở Nam Giao tại phương Nam, sắp đặt theo thời tiết ở
phương Nam, kính cẩn ghi bóng mặt trời ngày hạ chí, là ngày
dài nhất [trong một năm] và xem sao Đại hỏa để định cho đúng
tiết trọng hạ [tháng 5 âm lịch]. Lúc đó dân cư tản mác, chim
và thú thưa lông [v́ nóng nực].
Thái [Sái] Trầm ghi chú “Nam Giao” là “Giao Chỉ”.
(CM,TB [Sài G̣n], 1965, II:27.
10. Lĩnh Ngoại
Đại Đáp của Chu Khứ Phi, đời Tống (960-1279): Quế Lâm,
Nam Hải, Tượng Quận là đất cũ của Bách Việt.
[Henri Maspéro cho rằng Tượng Quận đời Tần nằm trong lănh
thổ Hoa Nam hiện nay]
11. Nam Trung
Chí, dẫn trong An Nam Chí Lược của Lê Tắc.
12. Chư phiên
chí [Chu fan chi] của Chau Jin-kua (Triệu Nhữ Quát), vào
khoảng cuối nhà Tống.
Sách này ít tác giả nhắc đến, dù có giá trị cao về hàng hải.
Triệu Nhữ Quát là ḍng dơi đời thứ 8 của Tống Thái Tông.
Đáng chú ư đặc biệt là ba chương về Giao Chỉ, Chiêm Thành và
Chân Lạp. Chúng tôi sử dụng bản dịch Anh ngữ của Friedrich
Hirth & W. W. Rockhill (1911).
13. Lĩnh Nam
Di Thư của Âu Đại Nhâm [Ngũ Sùng Diệu?] (nhà
Minh, 1368-1644). Dẫn trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám
Cương Mục (Sài G̣n) (II:47).
Nói về một người Việt tên Sử Lộc chở lương thực cho Đồ Thư
đánh chiếm cổ Việt. [Theo Trương Bửu Lâm, Từ Hải chép rằng
tác giả Lĩnh Nam di thư là Ngũ Sùng Diệu, không phải
Âu Đại Nhâm.
(Ibid., II:47,chú 1)].
14. An Nam Chí
Nguyên của Cao Hùng Trưng (thế kỷ XVII):
Đất Giao Chỉ lúc chưa chia ra quận huyện, có Lạc điền, tùy
nước triều lên xuống [mà làm ruộng]; những người khai khẩn
ruộng ấy gọi là Lạc dân, người cai trị dân ấy gọi là Lạc
vương, những người phụ tá gọi là Lạc tướng, đều có ấn bằng
đồng và dây xanh. Gọi là nước Văn Lang, lấy việc thuần hậu
chất phác làm phong tục, dùng dây thắt nút để cai trị,
truyền mười tám đời.
(CM, TB [Sài-g̣n 1965], I:16-7)
E. VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ:
Khó khăn thứ tư
là vấn đề ngôn ngữ. Cho tới đời Khải Định (1916-1925), văn
tự chính yếu trong nước ta là Hán ngữ (hoặc, đúng hơn, Việt
Hán hay chữ Nho). Măi tới năm 1918, triều đ́nh Huế mới chấm
dứt lối thi cử dùng Hán tự chọn quan lại. Bởi thế, muốn t́m
hiểu về lịch sử Việt trước thời Pháp thuộc cần thông thạo
Hán ngữ.
Từ thập niên
1860, một số tác giả Pháp đă khởi xướng việc viết lại lịch
sử Việt bằng Pháp ngữ.
Nhờ
vậy, những tên tuổi như Théophile Legrand de la Liraye,
Elician Luro, Henri Maspéro, Léonard Aurousseau, v.. v...
trở thành những tên tuổi lớn. Một tác giả Việt, Petrus Key
Trương Vĩnh Kư, cũng soạn xong hai cuốn Cours d’histoire
annamite [Bài Giảng Lịch Sử An-na-mit] (1875-1879) dùng
cho các trường tiểu học ở Nam Kỳ. Ngoài ra, c̣n những biên
khảo về nhân chủng học, ngôn ngữ học, khảo cổ học, v.. v...
khá giá trị của Etienne Aymonier, Paul Pelliot,
Léopold-Michel Cadière, v.. v.... Tuy nhiên, các tác phẩm
Pháp ngữ này chỉ có những giá trị nhất định của thời đại
“gánh nặng của người da trắng.” Kho sử liệu bằng Hán tự của
nước Việt hầu như bị lăng quên trong một thời gian dài.
Măi đến
thập niên 1920, sau khi người Pháp đă dùng chữ viết dựa theo
mẫu tự Latin làm quốc ngữ thay chữ Nho và chữ Nôm được hơn
một thập niên, mới có phong trào nghiên cứu sử và phiên dịch
sách cũ từ Hán ngữ hay chữ Nôm qua chữ Việt mới. Trong số
những người có đóng góp giá trị phải kể học giả Trần Trọng
Kim (tác giả bộ thông sử Việt Nam Sử Lược), Nguyễn
Văn Tố (qua loạt bài so sánh giữa sử ta với sử Tàu và bộ
Lịch sử đạo Thiên chúa), Đào Duy Anh (Việt Nam Văn
Hóa Sử Cương), Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (viết về vua
Quang Trung, sau thuộc nhóm dịch giả [Khâm Định] Việt Sử
Thông Giám Cương Mục, v.. v...), Hoàng Xuân Hăn (La
Sơn Phu Tử, Lư Thường Kiệt, và một số tư liệu giá trị
khác như bản dịch tư liệu của Lê Quưnh, Ngụy Nguyên, v..
v...). Tuy nhiên, phần đông chỉ tự học, không được huấn
luyện chuyên môn về phương pháp cũng như triết lư sử, nên ít
sách sử Việt trước năm 1954 đạt được tiêu chuẩn quốc tế.
Từ sau
năm 1954, cả hai chế độ Bắc và Nam Việt Nam đều có kế hoạch
chuyển ngữ tư liệu viết bằng Hán ngữ như An Nam Chí Lược
của Lê Tắc, Đại Việt Sử Kư Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên
et al [và những người khác]; Đại Việt Thông Sử, Phủ Biên
Tạp Lục, Vân Đài Luận Ngữ của Lê Quí Đôn; Khâm Định
Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Đại Nam Thực Lục, v.. v...
Lối làm việc của các dịch giả miền Nam có vẻ khả tín hơn
miền Bắc, v́ các bản dịch phần lớn gồm ba phần nguyên bản
chữ Hán, phiên âm, và diễn nghĩa, giúp người đọc có thể so
sánh bản dịch với nguyên bản. (Đồng thời c̣n là dụng cụ giúp
những người muốn học Hán ngữ trau dồi kiến thức) Những công
tŕnh này giúp người nghiên cứu không rành Hán ngữ, hay
không có dịp tham khảo các bản trên, những dữ kiện bác bỏ
dần các biên khảo đầy tư tâm của các tác giả thuộc địa Pháp
và cộng sự viên bản xứ.
Nhưng
chẳng phải không có trở ngại. Nhiều dịch giả đă phiên dịch
cả quan điểm của ḿnh, tảng lờ nguyên tác. Trong khi dịch bộ
Đại Việt Sử Kư [Ngoại Kỷ] Toàn Thư, chẳng hạn Nhượng
Tống dịch chữ Mị nương [công chúa đời Hùng Vương]
thành Mệ Nàng. Khi dịch An Nam Chí Lược [ANCL]
của Lê Tắc, Trần Kính Ḥa dịch chữ “man” thành
“Mường.” Trong bài Nam Việt hành của Chu Chi Tài, ông
Ḥa dịch hai câu: “Thái dịch tŕ nội hồng phù dung, Tự
lân trích tại man yên trung” thành “Ao Thái dịch phù
dung một đóa, Chốn khói Mường đầy đọa tấm thân”
(ANCL, tr. 189 [Việt ngữ]).
Trong
bài Thơ cảm đề tại đền thờ Phục Ba [Mă Viện?], ông Ḥa dịch
“Man binh tị Uất Lâm” thành “Rừng Uất đuổi binh
Mường”
(tr. 259).
Trần
Kính Ḥa cũng dịch “bách tính” thành “nhơn dân”
Đôi chỗ, có lẽ để làm vui ḷng độc giả người Việt hoặc
một thẩm quyền nào đó, ông Ḥa đă dịch chữ “yêu đảng”
ở đoạn nói về Bà Trưng thành
“giành độc lập.”
Trong
các bản dịch bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục
và Đại Nam Thực Lục hay Đại Nam Chính Biên Liệt
Truyện do Hà Nội thực hiện thỉnh thoảng có những thuật
ngữ như “nô lệ” hay “nhân dân” không hề có trong nguyên bản.
Đào Duy Anh, khi chú giải bộ Đại Việt Sử Kư Toàn Thư,
đă sửa chữa ngay vào nguyên bản, thay v́ để vào cước chú.
(Toàn Thư [Giu 1967], I:318chú 318)
Ngoài
ra, c̣n một số sai lầm đáng tiếc khác trong khi chuyển ngữ
(như “Lục bát y” thay v́ “Lục thù y” trong
truyện Đoàn Thượng; “kị binh” thay v́ “kỳ binh”
trong bản dịch Việt Điện U Linh Tập của Lư Tế Xuyên
do Lê Hữu Mục ấn hành năm 1961).
Chưa
hết. Chữ Việt trong quốc hiệu Đại Cồ Việt, Đại
Việt, hay Việt Nam có nghĩa ǵ? Sách sử Trung
Quốc dùng đến hai chữ Việt [Yueh] khác nhau. Những chữ
Xích Quỉ trong quốc hiệu Xích Quỉ thời Hồng Bàng, Văn
[wen] và Lang [ hay ] trong quốc hiệu Văn Lang,
Giao [ ] và Chỉ [ hay ] trong tên xứ Giao Chỉ,
Hùng [ ] trong Hùng vương, Lạc [ hay ] khi nói
về Lạc vương, Lạc tướng, Lạc dân, đều có thể tạo nên những
cuộc tranh luận kiểu sẩm sờ voi. Hiển nhiên, đây chỉ là
những tên Hán ngữ, không thể là tiếng Cổ Việt
(mà chúng ta không, hoặc chưa, biết).
Vậy các
tên trên là do người Trung Quốc đặt cho cổ Việt, hay văn gia
Trung Quốc hoặc Việt đă Hán hóa tên cổ Việt bằng cách chuyển
âm hay chuyển nghĩa? Thêm nữa, ngôn ngữ của bất cứ một dân
tộc nào cũng đổi thay không ngừng qua các con triều văn hóa,
kinh tế, chính trị. Chỉ một tiếng “Cồ” trong
quốc hiệu “Đại Cồ Việt,” chẳng hạn, đă tốn nhiều giấy
mực tranh căi. Những tên nước, tên dân nêu trên c̣n lưu lại
được bao nhiêu phần trăm ư nghĩa thuở cổ thời? Đây là những
vấn nạn khó t́m đáp án. Lê Quí Đôn hữu lư khi bày tỏ sự nghi
hoặc của ông về địa danh, chức tước thời cổ Việt, mà theo
ông, có lẽ các hậu nho đă thêm thắt vào.
(Đôn, VĐLN, 1972:167, 169)
Bởi
thế, những tác giả Pháp như cựu Linh mục Legrand de la
Liraye, hay Giáo sư Elucian Luro trong thế kỷ XIX, và rồi
những Henri Maspéro vào đầu thế kỷ XX đă giới thiệu những
nghĩa xấu nhất của các từ trên, mà hầu hết các tác giả đương
thời khó thể bài bác (như Giao Chỉ là đặc tính hai
ngón chân cái nghiêng cong vào nhau của người cổ Việt;
Văn Lang là do chữ Dạ Lang mà ra, với chữ Lang bộ
khuyển [ ]; v.. v...). V́, sách Lễ Kư đă nhắc đến
chuyện hai ngón chân cái giao nhau, sách Địa Dư chí
cũng chép tương tự. Ngay đến Lê Quí Đôn, người đă đọc và nhớ
rất nhiều kinh điển Trung Quốc, cũng khó thể khẳng định
người cổ Việt có đứng với tư thế hai ngón chân cái giao nhau
hay chăng. (Lê
Quí Đôn, VĐLN, tr. 148)
Trong
khi đó, các tác giả Việt tha hồ t́m cách giải thích những
tiếng trên theo ư riêng ḿnh, trong khung trời kiến thức
thường rất ít thâm sâu về các bộ môn khoa học áp dụng cho
ngành thượng cổ sử.
F. TÀI
LIỆU TƯ NHÂN:
Ngoài
quốc sử và dă sử Trung Quốc, c̣n có những biểu, tấu, hành
hay thơ văn cảm khái của các sứ giả Trung Quốc từng qua
phương Nam, hay những quan chức Bảo hộ ở Giao Châu, v.. v...
Chính
qua những loại văn chương, thơ phú thư lại thường rất hoang
tưởng [exotic] này chúng ta mới biết được những đặc
thù, đặc sản của cổ Việt, dưới cặp mắt của người cổ Trung
Quốc. Nào là Giao chỉ với nghĩa hai ngón chân cái nghiêng
cong vào nhau của người cổ Việt; tục xâm ḿnh, đă nhắc đến
trong Lễ Kư, và câu thơ của Liễu Tư Hậu “Cộng lai
Bách Việt văn thân địa;” nghĩa là, cùng đi tới đất Bách
Việt là xứ người vẽ ḿnh.
(Lê Tắc, ANCL, q. 1, tr. 45 [Việt ngữ], 30 [Hán ngữ]).
Tinh tinh ở đất Nghệ An,
[cẩu h́nh, nhân diện, tại sơn cốc trung, hành vô thường
lộ, bách bối vi quần; nhân dĩ tửu tinh thảo lư số thập tương
liên kết, tri vu lộ gian, tinh tinh kiến chi, tức tri kỳ
nhân tiên tổ tánh danh, .
.
..”;
(ANCL, q.
15, tr. 250)]
Hay
cảnh Thái hậu Cù Thị, vợ Triệu Minh Vương (124-113 TTL) và
mẹ Ai Vương (113-112 TTL), buồn bă gơ trống đồng ở đất Nam
Việt
[Cẩm tán cao trương, kích đồng cổ],
nên vừa
gặp người t́nh cũ là đă âm mưu xin nhập Nam Việt vào cương
thổ nhà Hán.
(ANCL, q. 17, tr. 189 [Việt ngữ])
Trụ
đồng do Mă Viện dựng lên sau khi đánh bại được Hai Bà Trưng
(40-43), tái chiếm nước ta, với lời răn đe, “Đồng trụ triết,
Giao Chỉ diệt”
(Trụ đồng gẫy đổ, xứ Giao Chỉ sẽ bị diệt);
khí hậu
ở Đại Việt độc hại đến độ diều hâu đang bay trên trời bỗng
rơi xuống đầm lầy
[hạ lạo thượng vụ, độc khí huân chưng, ngưỡng thị phi
diên, thiếp thiếp trụy thủy chung].
Đó là
chưa nói đến thái độ tự tôn chủng tộc của các văn gia như Đỗ
Phủ, Tô Đông Pha, v.. v... qua những lời ca tụng “công đức”
Mă Viện ở Giao Châu.(
ANCL, q.
1, tr. 24-25 [Hán ngữ], 39-41 [Việt ngữ])
Trong
số những người ra công sưu tập các tư liệu này, ở tiền bán
thế kỷ XIV, có một người Việt từng làm quan dưới triều nhà
Trần (1226-1400), sau đầu hàng nhà Nguyên, hai ba lần dẫn
đường cho quân Mông Cổ qua xâm lược nước ta. Đó là Lê Tắc
[Trắc?], tác giả An Nam Chí Lược (1333?) đă nhắc và
dẫn trên. Thập niên 1930, khi một nhà xuất bản ở Thượng Hải
in lại tập ANCL, có người gay gắt chê trách nội dung ANCL và
lên án Lê Tắc là phản quốc. Nhưng những cái mũ chính trị
trên chẳng giúp ǵ cho việc đánh giá sử liệu chứa trong
ANCL.
Thực
ra, tác phẩm của Lê Tắc–chắc chắn đă bị “chấm câu,” sửa
chữa, hiệu đính nhiều lần dưới tay các văn gia Trung Quốc
trước khi được một nhà xuất bản Nhật ấn hành (xem phần cuối
sách, q. 19)–phản ảnh trung thực quan điểm của văn gia Trung
Quốc về Việt Nam: Những mắt nh́n từ đỉnh trụ đồng Mă Viện và
đầu ngọn thương, mũi kích, lưng ngựa hay mũi chiến thuyền
của một cường quốc đối với lân bang nhược tiểu.
(Sử dụng những tài liệu này cũng nhức đầu như những nhà
nghiên cứu hiện nay phải đối mặt những tác phẩm hoang tưởng
của các tác giả Tây phương về bản thân họ hay các nhà truyền
giáo Ki-tô và công chức thuộc địa Pháp như Pierre Retord,
Paul Puginier, Francis Garnier, Paul Bert, v.. v...)
Các
chiếu, hịch của vua quan Trung Quốc từ đời nhà Hán đến nhà
Nguyên trích in trong An Nam Chí Lược c̣n cho thấy
bản chất giả nhân, giả nghĩa của vua quan các triều đại quân
chủ, phong kiến Trung Quốc. Ngạn ngữ Việt có câu già nắn,
rắn buông. Hễ gặp cơ hội là vua quan Trung Quốc đánh chiếm
đất nước ta, phân chia làm quận huyện, cắt đặt người cai
trị. Nhưng sách sử, văn thư th́ lúc nào cũng trang trọng
những lời nhân nghĩa như khai hóa, phụ thuộc, phên dậu,
nước nhỏ phụng thờ nước lớn để che đậy dă tâm luật kẻ
mạnh (kiểu Đặng Tiểu B́nh tuyên bố tại Tokyo vào đầu năm
1979 là sẽ “dạy Việt Nam” một bài học, rồi Giang Trạch Dân
bắt Đỗ Mười và Lê Khả Phiêu phải cắt đất đổi ḥa b́nh
vào ngày 30/12/2000).
Mùa
Xuân năm 1960, các học giả Việt ở miền Nam từng bị một phen
nhức đầu tương tự v́ một tác giả Đài Loan. Do lời yêu cầu
của Bộ trưởng Văn Hóa Trương Công Cừu trong một chuyến đi
thăm Đài Bắc–là đă đến lúc sửa lại sách giáo khoa lịch sử
hầu cải thiện và phát huy liên hệ giữa hai nước–ngày
26/1/1960, Tưởng Quân Chương đáp ứng bằng một bài trên tờ
Trung Ương Nhật Báo ở Đài Bắc. Nhật báo Tự Do tại
Sài G̣n cho người dịch lại để rộng đường dư luận. Ông
Chương–chẳng hiểu v́ muốn mỉa mai ông Cừu, hay v́ kiến thức
nông cạn–dạy ông Cừu (và trí thức Việt) dăm bài học phổ
thông sử Đài Loan như: các vua Việt phần đông gốc từ miền
Hoa Nam; các triều đại phong kiến Trung Quốc chẳng hề xâm
lăng nước Việt, mà chỉ ra tay trượng nghĩa, cứu giúp con
cháu những ḍng họ bị lật đổ hay cướp ngôi; năm 40, hai bà
Trưng nổi dạy không do tinh thần độc lập mà chỉ v́ muốn báo
thù riêng, lại toan xâm phạm thiên quốc nên mới bị Mă Viện
mang quân qua đánh bắt; năm 1788, Tôn Sĩ Nghị chỉ mang có
“8,000 quân” đưa Lê Mẫn Đế (Chiêu Thống, 1786-1789) về nước,
trong khi “Nguyễn Văn Nhạc” (sic) sử dụng tới “100,000 quân”
nên Nghị bị đại bại; người Pháp muốn chia rẽ hai dân tộc
Trung Quốc và Việt Nam, nên đă khuyến khích tinh thần bài
Hoa và sửa đổi lịch sử, v.. v... Nhiều tác giả Việt, kể cả
các ông Nguyễn Hiến Lê-Nguyễn Ngu Í, và Lê Phục Thiện,
chuyên viên Hán ngữ của Viện Khảo Cổ Sài G̣n, đă mượn tờ bán
nguyệt san Bách Khoa trả lời ông Chương. Quí vị này
nêu ra được một số lỗi lầm của ông Chương, nhưng phần lớn
chỉ là tiểu tiết như không phải “8,000” mà tới “200,000”
quân Thanh đă xâm chiếm Việt Nam, vua Quang Trung Nguyễn Huệ
mà không phải Nguyễn Văn Nhạc đă đánh trận Kỷ Dậu (1789),
v.. v...
Kiến
thức sử học của Tưởng Quân Chương, tưởng cần nhấn mạnh, quá
nông cạn. Trong giới sử gia về Đông Nam Á nói chung, Việt
Nam nói riêng, rất ít người biết đến ông Chương cùng các
biên khảo của ông ta. Bài viết về lịch sử Việt Nam của ông
Chương cũng chẳng có ǵ mới lạ, ngoài những lập luận hàm hồ
đầy rẫy trong các tập sử phổ thông Đài Loan (dành cho các
lớp tiểu học, trung học). Sự thiếu hiểu biết của ông Chương,
và chứng bệnh hàm hồ tương lân với sự thiếu hiểu biết ấy, đă
được các tác giả Việt nêu ra trên tờ Bách Khoa ngay
trong năm 1960.
Nhưng
một trong những nhược điểm lớn của ông Chương chưa ai nêu
lên là phương pháp sử. Khi đặt bút viết rằng hầu hết các vua
Việt đều có nguồn gốc từ các tỉnh phía Nam Trung Quốc, ông
Chương đă lẫn lộn và mù lạc, không phân biệt nổi giữa Trung
Quốc, với biên giới chính trị năm 1960, và các tiểu quốc với
những nền văn hóa cổ Việt phía Nam sông Dương Tử khoảng
hai ngàn năm trước. Tổ tiên một số vua quan Việt (như
nhà Trần) có thể từ vùng Lưỡng Quảng, Quế Châu hay Vân Nam,
nhưng cách đây khoảng 2,000 năm, đó không phải là lănh
thổ chính trị Trung Quốc. Các vùng đất này chỉ bị nhà
Tần (221-206 TTL), nhà Hán (206 TTL-220 STL) chiếm đóng bằng
vũ lực, rồi dần dần sát nhập vào biên cương chính trị Trung
Quốc. Ngay đến cuối thế kỷ XX, qua bao nỗ lực Hán-hóa
phương Nam, các chính phủ Trung Quốc vẫn chưa đồng hóa nổi
tất cả những sắc dân Lolo (Vân Nam), Mân Việt, Điền Việt,
v.. v... Trong đời sống thường nhật, các sắc dân trên vẫn sử
dụng tiếng nói riêng, có sinh hoạt văn hóa khác biệt với các
tỉnh ở phía Bắc sông Dương Tử [văn hóa lúa ḿ]. Ngay đến thổ
dân Đài Loan, nơi Tưởng Giới Thạch xâm chiếm năm 1949, cũng
không phải gốc người Hán, và không muốn bị coi là một tỉnh
của Trung Quốc. Nói chi những xứ Nội Mông, Măn Châu, hay Tây
Tạng (Tibet) mà Trung Cộng đang nỗ lực đồng hóa.
Hơn
nữa, chỉ cần có một kiến thức sơ đẳng về di truyền học và
hội nhập văn hóa
(acculturation)
thôi, ông Chương hẳn sẽ không đủ can đảm viết xuống câu gốc
người Hoa Nam (thực tế, ông Chương liệt kê từng tỉnh hiện
thuộc về Hoa Nam). Ví thử một vị tổ của ḍng họ nào đó có từ
miền Lưỡng Quảng di cư xuống phía Nam, chỉ ba bốn đời sau,
ḍng dơi đương nhiên trở thành người Việt. Tại Bắc Việt,
trước năm 1945, gia phả thường chỉ chép ngược lên tới đời
thứ 9. Từ đời thứ 10, quê hương của tổ tiên ở xứ nào đi nữa
cũng không kể. Hơn nữa, liên hệ giữa cổ Việt cùng Mân Việt,
Điền Việt c̣n mở rộng cho những cuộc tra cứu trong tương
lai. Giả thuyết về một hạt nhân văn hóa [cultural core]
miền Nam (bao gồm các nước Việt, trải rộng tới miền Đông
Thái Lan hiện nay) không chỉ thuần là một giả thuyết.
Nhược
điểm khác của ông Chương là việc dùng sử liệu. Dường như ông
Chương không mấy chú ư đến tài liệu khảo cổ. Nếu nghiên cứu
kỹ các tài liệu khảo cổ khai quật tại vùng Lưỡng Quảng hay
Thái Lan mới đây, và được huấn luyện kỹ lưỡng về phương pháp
sử học hoặc cổ sử học, hẳn ông Chương đă không cẩu thả hạ
bút viết các vua Việt vốn gốc người Trung Quốc.
(Một số
nhà khảo cổ học hiện nay c̣n lư luận rằng cuộc giao lưu văn
hóa giữa hạt nhân Hoàng Hà và phía Nam đi theo chiều từ Nam
lên Bắc mạnh hơn từ Bắc xuống Nam như nhiều người lầm
tưởng).
Sự yếu
kém của ông Chương trong việc sử dụng tài liệu c̣n bộc lộ
trong đoạn bàn về cuộc xâm lược nước Nam của Tôn Sĩ Nghị.
Ông Chương có lẽ chỉ dựa vào tư liệu phổ thông Trung
Qưốc, hơn so sánh và lượng giá nhiều nguồn tài liệu khác
nhau. Ông Chương khăng khăng cho rằng Nghị chỉ mang theo
8,000 quân vào Thăng Long mà chẳng trưng dẫn được sử liệu
nào khả tín (như Châu bản nhà Thanh, Đại Thanh thực lục
đời Càn Long, biểu, tấu của Tôn Sĩ Nghị và Phúc Khang An,
v.. v...)– một đ̣i
hỏi cơ bản của người viết sử. Điều này chứng tỏ dù được Linh
mục Raymond de Jaegher, Tổng Đại diện Hội Thái B́nh Dương Tự
Do tại Viễn Đông, cấp học bổng The Asia Foundation để nghiên
cứu sách giáo khoa ở Nam Việt Nam, có lẽ ông Chương không
phải là sử gia chuyên nghiệp. Tôi chưa được tham khảo các
châu bản nhà Thanh, nhưng từng đọc một số tài liệu thời nhà
Thanh tiết lộ rằng Tôn Sĩ Nghị mang cả quân thủy, bộ (biền
binh) bốn tỉnh Hoa Nam xâm phạm Đại Việt vào mùa Đông Mậu
Thân (1788-1789) [dưới danh nghĩa giúp Lê Mẫn Đế chiếm lại
ngai vàng]. Ngay đến Ngụy Nguyên, một người Thanh, tác giả
An Nam Chinh Vũ Kư năm 1842, cho rằng Nghị mang khoảng 2 vạn
(20,000) quân Thanh thuộc 4 tỉnh Hoa Nam sang xâm lăng (chinh
phạt) Đại Việt (An Nam), nhưng đánh tiếng là “pḥ Lê.”
[Xem “Vấn đề nghiên cứu nhà Tây Sơn”]
Ông
Chương cũng tảng lờ, hoặc không biết đến, tài liệu Việt và
Tây phương. Các sử gia chuyên nghiệp thường phải đối chiếu
các nguồn tài liệu khác nhau trước khi đi đến một kết luận
sử học. Nếu chưa được tham khảo các tài liệu Tây phương th́
phải có sự thận trọng tối thiểu là cần lưu ư độc giả của ông
rằng những lập luận của ḿnh chỉ có tính cách tạm thời,
trong khi chờ đợi những tư liệu c̣n thiếu sót được bạch hóa.
Ngay cả khi t́m được các tư liệu gốc (như thủ bút, thư từ
của các tác nhân lịch sử) cũng phải phân giải ư nghĩa các
tài liệu trên trong bối cảnh chung mà tác nhân đang sống và
sinh hoạt.
[Xem bài Petrus Key]
Về vấn
đề người Pháp sửa lại lịch sử bang giao giữa Trung Quốc và
Việt Nam, ông Chương chỉ dựa theo “cảm nhận” hoặc thứ kiến
thức nhồi sọ lúc thiếu thời (tức trút bỏ mọi tội lỗi cho bọn
Tây di; cũng giống như dân Arab hiện nay trút mọi tội lỗi
lên đầu đạo Ki-tô và người Tây phương về t́nh trạng nghèo
đói, phân hóa, chậm tiến, tham nhũng và xa cách dần Allah)
hơn nghiên cứu một cách nghiêm túc. Chẳng hiểu ông Chương đă
được đọc các tài liệu về Tạm ước Bourée-Lư Hồng Chương (chia
Bắc kỳ mỏ cho nhà Thanh, và Pháp lấy Bắc kỳ gạo);
hay, đường dẫn đến Ḥa ước Thiên Tân (11/5/1884 & 9/6/1885)
chưa? Nếu chưa đọc, chưa nghiên cứu tường tận, mà đă viết
th́ sợ rằng ông Chương thiếu sự lương thiện trí thức. Nếu
đọc rồi mà vẫn bẻ cong lịch sử th́ ông Chương phạm tội ngụy
tạo lịch sử, một thứ tội ác tinh thần.
(Thế gian này không thiếu những người thích lập danh đường
tắt bằng tṛ ngụy tạo lịch sử; bất kể quốc tịch, tôn giáo,
tuổi tác, học vấn)
Nói
cách khác, kiến thức sử học của ông Chương về Việt Nam không
những khiếm khuyết, mà c̣n sơ đẳng, lỗi thời.
[Đáng buồn là phần nào do hậu quả của sự thiếu lương thiện
trí thức hoặc tội ác tinh thần của ông Chương, vài người
Việt đă “khải thắng,” “khỉ sự” (nguyên văn) rằng tổ tiên là
người “Tàu” [Trung Quốc].
(Nguyễn Phương, Việt Nam Thời Khai Sinh, 1965).
Vài người khác có lẽ cũng đă ảnh hưởng trên cựu giáo mục
Nguyễn Phương là nhà khảo cổ học Olov R. T. Janse, cùng các
học giả Bảo hộ Léonard Aurousseau, Henri Maspéro].
G. TÀI
LIỆU VIỆT:
Ngoài
tài liệu Trung Quốc, sử quan Việt cũng sử dụng một số tư
liệu trong nước.
Có 2
loại: truyền thuyết (cổ tích, tiểu sử các thần hoàng và văn
miếu) và dă sử hay tác phẩm của các văn gia.
1. Truyền thuyết:
Truyền
thuyết được sử dụng nhiều nhất cho phần Huyền sử hay Thượng
cổ sử, tức từ thuở sơ khai tới thời Hùng Vương và Thục Phán.
Truyền thuyết gây nhiều tranh luận sôi nổi là truyện Lộc Tục
lấy Âu Cơ, sinh ra một bọc 100 trứng (đồng bào), nở ra trăm
con trong phần “Ngoại Kỷ” của bộ
Đại Việt Sử Kư Toàn Thư.
Cả Ngô
Sĩ Liên và Ngô Thời Sĩ, trong Việt sử tiêu án, đă
nhận hiểu sự “quái dị” của đoạn huyền sử trên, nhưng vẫn
chép lại v́ thiếu sử liệu, hoặc v́ tin rằng vĩ nhân thời
tiền sử “khác với người thường.” Ngoài ra, Ngô Sĩ Liên c̣n
dẫn truyện Liễu Nghị của Trung Quốc làm ấn chứng về liên hệ
“đời đời làm thông gia với nhau đă lâu” giữa Động Đ́nh Quân
và Kinh Xuyên hầu biện hộ cho cuộc nhân duyên giữa Kinh
Dương Vương Lộc Tục, con cháu Thần Nông thị, và Thần Long,
con gái Động Đ́nh Quân, rồi sinh ra Lạc Long Quân.(
Toàn Thư [Giu 1967], tr.
59-60)
Nhưng
vua Tự Đức chỉ cho chép từ đời Hùng Vương vào phần Tiền Biên
của bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, và
dĩ nghi truyền nghi truyện trăm trứng, trăm con giữa Lạc
Long Quân với Âu Cơ, v́ nó quái dị, chẳng khác ǵ những ma
trâu, thần rắn của huyền sử Trung Quốc trong Sơn Hải Kinh,
Lă Thị Xuân Thu, hay Hoài Nam Tử (như Thần Nông
mặt người, ḿnh trâu; vua Vũ đi trị thủy, lấy người con gái
họ Đỗ Sơn làm vợ, bốn ngày sau th́ sinh ra Khải; Đỗ Sơn thấy
Vũ hóa thân làm gấu, xấu hổ hóa đá, Vũ đ̣i lại con, đá bỗng
nứt ra cho Khải trở lại trần thế với cha).
Xin lược kê một số truyện ma trâu, thần rắn khác của cổ sử
Trung Quốc:
Bàn Cổ: Vua thứ nhất của Trung Hoa.
Tương truyền, Bàn Cổ đă dựng nên Trời Đất, rồi đến Tam Hoàng
là Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhân Hoàng (?)
Mẹ Phục [Bào] Hi [2852-2739 TTL]
đi tắm sông, đạp vào dấu chân người khổng lồ mà mang thai
ông quốc tổ của Trung Hoa này.(
Thông Giám tập lăm,
I:1; dẫn trong CM,TB, II:15n2)
Mẹ Kim Thiên [Thiếu Hạo, 2597-2512 TTL]
là Loa Tổ cảm nhiễm ánh sao ở bờ sông Hoa chữ mà mang thai.
Mẹ Cao Dương [Xuyên hay Chuyên Húc, 2513-2435 TTL]
cảm sao Dao mà sinh ra vua
(kiểu Mẹ Đồng Trinh).
Khánh Đô, vợ Đế Cốc,
giao cảm với con Rồng đỏ mà thụ thai Đế Nghiêu [Yao ti.
2356-2258 TTL].
Khương Nguyên
dẵm phải dấu chân người to lớn mà có thai, sinh ra Hậu Tắc,
làm quan đại nông đời vua Nghiêu (2356-2258 TTL), được phong
ở đất Thai (nay là huyện Vũ công tỉnh Thiểm Tây), tức là
thủy tổ nhà Chu (Chou hay Zhou, 1122-255 TTL).
(Shih Chi, XIII, tờ 7b) [Lại có sách ghi tích này
liên hệ đến vua Phục Hi].
Những sự tích Mẹ Đồng Trinh sinh con (có tác giả gọi là
The Virgin Birth) này đầy rẫy trong sử sách Trung Quốc.
Qua thế kỷ XX
những người chỉ trích, như Nhượng Tống, cho rằng Ngô Sĩ Liên
đă mang thần thoại Mường vào sử Việt để làm vừa ḷng Lê Lợi,
vốn xuất thân từ xứ Mường (Lam Sơn). Nhiều người đồng ư rằng
truyện 100 trứng, 100 con giống như, nếu không phải lấy từ,
truyền thuyết “Mo đẻ đất, đẻ nước” của người Mường.
(Nguyễn Linh, “Về sự tồn tại của nước Văn Lang;” NCLS [Hà
Nội], số 112 (7/1968), tr. 19-32). Mới đây, có tác
giả c̣n cho rằng truyện 100 trứng, trăm con giống như truyền
thuyết Cẩu chủa chang vừa của người Tày.
Lại có người cho
rằng Ngô Sĩ Liên đă dựa theo Lĩnh Nam Chích Quái
(1377?) của Trần Thế Pháp, do Vũ Quỳnh hiệu đính (1492). Như
truyện Hồng Bàng thị, Phù Đổng thiên vương (Uy Vũ miếu), Chử
Đồng Tử, v.. v... Ngoài ra, Ngô Sĩ Liên có thể lấy thêm một
số chi tiết trong Việt Điện U Linh (ca 1329) của Lư
Tế Xuyên, ghi chép về các vị thần miếu, thần sông, thần đất,
v.. v.... (Xem
thêm Gaspardone, “Bibliographie annamite;” BEFEO, số 34
(1934), tr. 126-30)
Hiển nhiên sử
quan Ngô Sĩ Liên đă mang truyền thuyết vào phần Ngoại Kỷ của
quốc sử. Đây không hẳn là một lầm lỗi đủ để bị chỉ trích là
“khỉ sư.” Truyền thuyết hay huyền thoại được coi như sử
truyền khẩu [oral history], không thể gạt bỏ vội vă
mà nên được nghiên cứu và lượng giá. Truyền khẩu sử c̣n rất
quan trọng với một dân tộc không có sử thành văn như cổ
Việt.
[Ngay đến cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, quốc sử Việt Nam
vẫn chưa gột hết được tính chất huyền thoại. Những thành
phần trung gian bản xứ hợp tác với Pháp, tiếp tay quân viễn
chinh Pháp chiếm đóng Việt Nam từ năm 1858 tới năm 1945–kể
cả tập đoàn thông ngôn Petrus Key, Nguyễn Trường Tộ, Ngô
Đ́nh Khả, Nguyễn Hữu Bài, v.. v...–
được ngợi ca, cung văn không tiếc lời. Hồ Chí Minh cũng được
phong thánh với đủ loại thần rắn, ma trâu như “cha là một
nhà nho yêu nước, không cam tâm phục vụ giặc Pháp;” từ năm
15, 16, Hồ đă bỏ học để đấu tranh chống Pháp; rồi đi t́m
đường cứu nước từ cảng Sài G̣n bằng nghề phụ bồi tàu; tự
ḿnh t́m đến đất Nga; trọn đời không lấy vợ, sống độc thân,
để phục vụ cách mạng, v.. v... Ngày nay, th́ ai cũng rơ Phớ
bảng Nguyễn Sanh Huy, cha Hồ Chí Minh (tên thực Nguyễn Sinh
Côn), từng làm tri huyện đất B́nh Khê, năm 1910 đánh chết
người trong một cơn say nên bị cách chức, rồi lưu lạc vào
Nam Kỳ; năm 1911, vừa tới Marseille, cậu Nguyễn Tất Thành
(Hồ Chí Minh) vội vă làm đơn xin vào trường Thuộc Địa Pháp
(Ecole coloniale), hay đường ... kách mệnh là một
chuỗi những năm tháng hoạt động t́nh báo cho Nga, Anh, Trung
Quốc, Mỹ, v.. v... (Xem Chính Đạo, Hồ Chí Minh,
1892-1969: Con người & huyền thoại, 3 tập) Nhà văn Dương
Hùng Cường, qua truyện phiếm “Nếu Chàng Trương Chi đẹp
trai,” đă có dịp luận thêm về những huyền thoại lấy thân
ḿnh cản pháo ở Điện Biên Phủ, v.. v.... (Xem Tướng Về
Hưu [Houton, Văn Hóa: 1991]) Về đường vợ con th́ nào là
người vợ gốc Hoa năm 1927, nào là “Fan Lan” Nguyễn Thị Vịnh,
Đỗ Thị Lạc. [Rồi mới đây c̣n có tin đồn con hoang của bà
Nông Thị Zếnh cũng là sản phẩm cách mạng của tư tưởng Hồ Chí
Minh. Năm 2001, tôi đă đề nghị nên dùng “lối thử nghiệm DNA”
để biết rơ trắng đen, nhưng chắc Hà Nội chẳng bao giờ thực
hiện. Đáng lẽ ông Nông Đức Mạnh nên âm thầm làm thử nghiệm
DNA để biết rơ sự thực, hơn lối trả lời lưng chừng “chúng ta
ai cũng là con cháu Bác Hồ.” Ít lâu sau, ông Nông Đức Mạnh
khai cha họ Nông, mẹ họ Hoàng. Đó là chưa kể những chiến
công “vĩ đại” của Vơ Giáp (tức Đại tướng Vơ Nguyên Giáp),
nhưng chỉ có trên danh nghĩa; việc bày mưu, định kế, cung
cấp tin t́nh báo, vũ khí, đại pháo, tiếp vận và chỉ huy đều
trong tay cố vấn Trung Cộng dưới quyền chỉ huy của những
Trần Canh (Chiến dịch biên giới, 9-10/1950), Vi Quốc Thanh
(Điện Biên Phủ, 1953-1954, v.. v..)]
2. Dă sử:
Dă sử là một
nguồn tài liệu quan trọng. Dù là dă sử, các tác phẩm trên có
giá trị khá cao, v́ đa số tác giả đều văn hay, chữ tốt, hoặc
thuộc những gia đ́nh có truyền thống văn học.
Dùng cho giai
đoạn tiền-độc-lập, c̣n các sách biên soạn từ thời nhà
Lư (1009-1226), nhà Trần (1226-1400). Từ giai đoạn nhà Hậu
Lê (1428-1527) trở về sau, tức thời Trung Cổ, có Dư địa
chí và Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi; Đại
Việt thông sử, hay Lê triều thông sử của Lê Quí
Đôn [30 quyển, từ Lê Lợi (1418) tới Lê Cung Hoàng
(1522-1527); nhưng hiện chỉ c̣n đời Lê Thái Tổ. Đặc biệt, có
nhiều chi tiết về nhà Mạc (1527-1592)]. Học giả Lê Quí
Đôn cũng c̣n các bộ Vân Đài Luận Ngữ và Phủ Biên
Tạp Lục rất giá trị, phản ảnh kiến thức nho gia vào hạ
bán thế kỷ XVIII, cùng những sử liệu về nhà Tây Sơn. Ngoài
ra, c̣n Việt Sử Tiêu án của Ngô Th́ Sĩ; Hoàng Lê
Nhất Thống Chí của Ngô Gia Văn Phái; Đăng Khoa Lục
của Nguyễn Hoan; Đăng khoa bị khảo của Phan Huy Ôn;
Ô Châu Cận lục của Dương Văn An; Cao Bằng Lục
của Phan Lê Phiên, Lịch triều tạp kỷ của họ Cao [Ngô
Cao Lăng] tại Ái châu [Thanh Hoa] và con là Siển Trai
(Gaspardone, (1934), tr. 1-167 at 75)], v.. v....
Đời nhà Nguyễn
th́ có Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy
Chú, Quốc Sử Di Biên của Phan Thúc Trực, v.. v...
Thời Pháp thuộc (1858-1945) th́ có rất nhiều tài liệu dă sử.
Các tên tuổi quen thuộc có Petrus Key, Phan Bội Châu, Phan
Châu Trinh, Ngô Đức Kế, Phạm Quỳnh, v.. v...
H. TƯ LIỆU KHẢO CỔ:
Từ đầu thế kỷ XX, việc nghiên cứu sử học Việt Nam được thêm
một nguồn tư liệu mới. Đó là tài liệu khảo cổ học. Loại tài
liệu này khiến vào đầu năm 1979, có người đă hân hoan viết
trên báo Nhân Dân (Hà Nội):
“Lật đất lên, bốn ngàn
năm lịch sử.”
Trước hết, phải
nhấn mạnh, tài liệu khảo cổ học, hay những di tích khảo cổ,
cực kỳ quan trọng trong việc tái dựng dĩ văng; nhất là giai
đoạn huyền sử. Một xă hội nào cũng trải qua những hưng phế,
dời đổi, do tai ương thiên nhiên như băo, lụt, hỏa hoạn,
động đất, hay chiến tranh tàn phá. Chỉ nguyên việc nước biển
gia tăng trên dưới 100 mét từ trước đến nay, cơn hồng thủy
vào khoảng năm 4,000 TTL, hay việc bồi đắp các đầm lầy, cửa
biển bằng phù sa, chưa nói đến việc con người dời núi, xẻ
sông khiến xă hội và cư dân không ngừng biến đổi. Ngành khảo
cổ bởi thế giúp người nghiên cứu dựng lại được phần nào đời
sống tiền nhân, qua những di tích về nhà cửa, thành quách,
đồ dùng, dụng cụ cày cấy ruộng vườn, vũ khí, hay tế lễ.
Công tŕnh khảo
cổ tại Việt Nam chỉ khởi đầu từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX. Chúng ta ai nấy đều đă nghe về trống đồng Đông Sơn, Ḥa
B́nh, hay những di tích tại Ốc Eo, Sa Huỳnh (Quảng Ngăi),
v.. v...
1. Sơ lược
về thuyết tiến hóa:
Ngày nay, ai cũng
đă rơ trái đất của chúng ta nằm trong thái dương hệ (tức một
chùm những hành tinh xoay quanh một định tinh là mặt trời).
Thái dương hệ này chỉ là một trong hàng triệu hệ khác trong
vũ trụ, mà đa số các nhà khoa học cho rằng đă tạo lập từ
15 tỉ tới
10 tỉ năm trước.
Trên trái đất của
chúng ta, theo những nhà dân tộc học chủ trương thuyết tiến
hóa, có 2 loại người tiền sử: Homo sapiens và Homo sapiens
sapiens.
a. Homo
sapiens
xuất hiện khoảng
7-5,000,000 TTL.
Tại Phi Châu, có
3 loại người tiền sử:
(1)
Australopithecus:
4-3,000,000 TTL,
tuyệt chủng.
(2) Homo
habilis:
2,500,000 TTL,
sống thành từng bầy, hái lượm thực phẩm, chia nhau ăn.
(3) Homo
erectus:
1,750,000 BC, bắt
đầu tràn qua Âu và Ấ châu. Biết dùng lửa, và ngôn ngữ sơ
khai.
b. Homo
sapiens sapiens
[xuất hiện giữa
500,000-50,000 TTL]:
giống loài người hiện nay.
Dấu vết của người
tiền sử là các dụng cụ sinh hoạt thường ngày, chỗ cư trú như
ngọn cây, hang động, nhà cửa, thực phẩm và tế tự (nghi lễ,
tôn giáo). Người ta đă khám phá ra các di tích chỗ ở lợp gỗ
của người tiền sử ở Nice, Pháp, vào khoảng 400,000 TTL. Tới
khoảng 200,000-30,000 TTL có loại người Neanderthal ở Châu
Âu, Phi châu, Trung Đông và Trung Á, với các dụng cụ như đồ
đập (vồ, búa). Ngoài ra, c̣n có người Peking (Bắc Kinh) xuất
hiện vào khoảng 500,000 TTL với các di tích tế lễ. Bởi thế,
trong cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các nhà khảo cổ và dân
tộc học Tây phương bắt đầu đi t́m dấu tích người tiền sử tại
Á châu nói chung, và Việt Nam nói riêng.
Cách làm việc của
họ dựa theo những mẫu (mô thức) xă hội, phân loại, và định
tuổi thông dụng ở Tây phương. Thí dụ như trước năm 10,000
TTL, người tiền sử đă biết dùng đồ đá, gọi là đồ đá cổ. Từ
10,000 tới 6,000 TTL, các dụng cụ thuộc về thời đá giữa. Từ
6,000 tới 3,000 TTL là thời kỳ đá mới, khi người tiền sử
biết chế biến, mài đẽo đá thành các dụng cụ tinh vi, chuyên
biệt cho việc mưu sinh hàng ngày (có người gọi là cuộc
cách mạng đồ đá, đánh dấu thời điểm con người bắt đầu
chinh phục để làm chủ thiên nhiên và môi sinh). Từ khoảng
năm 4,000 TTL, tại vài nơi dân cư đă biết sử dụng đồ đồng.
Sau đó, từ khoảng năm 2,000 TTL có nơi đă chế tạo đồ dùng
bằng sắt.
Do khác biệt về
kinh nghiệm sống, kiến thức và môi sinh, niên đại của các
thời kỳ đá, đồng và sắt thay đổi tùy theo vùng được khảo
cứu. Các nhà khảo cổ áp dụng hai lối phân tích: xếp hạng và
nghiên cứu từng dụng cụ, và nghiên cứu, so sánh toàn thể các
dụng cụ trên tại mỗi “di chỉ cư trú” (tức một khu vực như
thôn, xă hay nghĩa địa, v.. v...).
2. Thời đại
đồ đá:
Tại Việt Nam,
thời đại đồ đá cổ c̣n di tích trên 10,000 năm TTL Người ta
t́m thấy ở núi Đọ số lượng khá lớn lưỡi ŕu sơ kỳ
(cleavers hay hachereaux) đồ đá cũ. Tuy nhiên, bị hoài
nghi v́ thật khó định tuổi những dụng cụ bằng đá quá cổ (do
ảnh hưởng của thời tiết và thời gian, thường gọi là
weathering). Ngoài ra, chưa t́m được đồ dùng thời đá cổ
trung kỳ và hậu kỳ.
(P. I. Boriskokii, “Viet Nam in Primevial Time;” Soviet
Anthropology and Archeology (Moscow), Vols. 7, 8 & 9
(1968-1970; “B́nh luận ư kiến của Per-Sfrensen [Sorensen] về
địa điểm sơ kỳ đá cũ Núi Đọ;” Khảo Cổ Học [Hà Nội],
(1981), số 4, tr. 11-4).
Tại làng Sơn Vi,
huyện Lâm Thao, tỉnh Vĩnh Phú, phát hiện một số dụng cụ đồ
đá.
(Phạm Văn Kỉnh, “Văn hoá Sơn Vi”)
Tại Việt Nam, có
khá nhiều di tích thời Đồ đá mới sơ kỳ
(Early Neolithic Period, 6,000-3,000 TTL),
tức đồ đá mài (song song với việc trồng trọt và nuôi gia súc
tại các vị trí cố định).
Dấu tích thời “Đồ
đá mới” (xuất hiện vào khoảng 5,000 TTL) t́m thấy ở Ḥa B́nh
và lưu vực sông Hoàng Hà [Huanghe]. Dụng cụ đồ đá mới xuất
hiện nhiều nhất tại Bắc Sơn (6095( 60 B.P.) và Quỳnh Văn
(4730 ( 75 B.P.).
(R. B. Smith và W. Watson, Early South East Asia,
(New York: Oxford Univ. Press, 1979), tr. 120). Đó là công cụ
h́nh hạnh nhân, h́nh dĩa của dân sống trong hang động. Mặc
dù có
tŕnh độ chế biến cao, vẫn là đồ đá lớn (megalith),
không có đồ đá nhỏ như ở Âu châu (ngoại trừ Indonesia). [Giả
thuyết: Phải chăng v́ người tiền cổ dùng tre, nứa?] Có dấu
hiệu trồng trọt, nhưng chắc chỉ trồng củ.
Đồ đá mới [hậu
kỳ]
[Late Neolithic Period]
được phát hiện tại Quỳnh Văn năm 1963 (khác với ŕu Bắc
Sơn). Cư dân có thể đă biết trồng trọt. Chế tạo các đồ gốm
thô [Mansuy cho rằng người Indonesian du nhập vào].
Đồ đá mới, hậu
kỳ, thấy ở Phùng Nguyên (xă Kinh kệ, huyện Lâm thao, tỉnh
Phú Thọ).
(Lan & Kỉnh 1968, tr. 36)
Theo Phạm Văn
Kỉnh, trong thời tiền kỳ đá mới người Việt bắt đầu trồng
những loại củ (tuber plants) và có thể lúa dại (wild rice).
Vào thời hậu kỳ đá mới bắt đầu có trồng trọt, như tại Quỳnh
Văn, nhưng căn bản vẫn là săn bắn và hái, lượm trái cây.
(“Vài ư kiến về một số vấn đề khảo cổ học trong quyển Kinh
tế thời nguyên thủy ở Việt Nam;” NCLS, số 136 (1/1971), tr.
45-52, 64).
3. Thời đại
đồ đồng:
Từ khoảng năm
4,000 TTL, dân Sumnerian dùng những bảng đất sét để vẽ những
h́nh (hoa văn) tại Mesopotamia, thung lũng sông
Tigris-Euphrates (Trung Đông hiện nay). Dân Sumnerian sống
tại các thành phố lớn như Eridu, Uruk, Nippur, Kish, và
Lagash. Tổ chức quanh các đền thờ với các giáo sĩ. Đồng
ruộng được tưới bón bằng hệ thống dẫn thủy nhập điền. Đă
biết dùng thuyền buồm, xe có bánh.
Tại cổ Việt, thời
đại đồ đồng phát triển chậm hơn vùng Trung Đông (hiện nay).
Theo Hà Văn Tấn, thời đại đồ đồng gắn liền với văn hoá Phùng
Nguyên (Kinh kệ/Lâm thao/Vĩnh Phú, 1480-1280 TTL), khai quật
năm 1959-1960. Sau đó một số di tích khác ở Vĩnh phú (G̣ Mun
[1215-975 TTL], Đồng Dậu [1220-1020 TTL]) và Hà Tây. Ngoài
gần 70 trống loại Heger I, người ta c̣n t́m thấy hai lưỡi
cuốc có vai [shouldered hoe] bằng đồng tại Bú Trăn, khoảng
17 cây số Tây Bắc Vinh.
(Smith và Watson, Early South East Asia, 1979, tr.
126, 127, 128, 129, 130, 131, 133). Sau định lại niên
đại vào khoảng 2,000-1,500 TTL (hậu kỳ thời đá mới), xếp
thành “thời đồng thau.” (Lê Văn Lan cho rằng đó là cuối thời
đá mới, đầu thời đồng thau. Tuy nhiên, nên nhớ nhược tiểu,
chậm tiến, định niên đại rất phức tạp) Việc trồng trọt và
nuôi gia súc mới phát triển qua việc phát hiện những lưỡi
cày bằng đồng.
[Xem thêm Lê Văn Lan, “Tài liệu khảo cổ học và việc nghiên
cứu thời đại các vua Hùng;” NCLS (Hà-nội), Bộ 124, số 7
(7/1969), tr. 52-79; Lê Văn Lan, “Về tục hỏa táng ở thời đại
của các vua Hùng;” NCLS, số 132 (5-6/1970), tr. 74-80; Lê
Văn Lan và Phạm Văn Kỉnh, “Di tích khảo cổ trên đất Phong
châu, địa bàn gốc của các vua Hùng;” NCLS, Bộ 107, số 2
(2/1968), tr. 34-46].
Đồng thau:
làng Thọ Xuân, thị xă Việt Tŕ; G̣ Mun, Thanh Đ́nh, Phú Hậu
(Phú Thọ); Phượng Cách (Hà Tây); Văn Điển (Hà Nội). Đa số là
di chỉ cư trú (Phùng Nguyên, An Đạo, Yên Tàng, Văn Điển).
Các di chỉ đều
nằm trên đồi hoặc g̣ cao (vùng trung du) [lưu ư: mực nước
tăng lên sau đại hồng thủy]
4. Thời đại
đồ sắt:
Từ khoảng 2,000
TTL, các xă hội tân tiến bắt đầu dùng đồ sắt. Tại cổ Việt,
theo Hà Văn Tấn, đồ sắt t́m thấy ở Đông Sơn (C-14 định tuổi
vào khoảng từ 350 tới 285 TTL) và g̣ Chiên Vậy ở Hà Sơn B́nh
(khoảng 400 TTL).
(Smith và Watson, Early South East Asia, 1979, tr.
131). Lưỡi
cuốc sắt [iron hoe] có lẽ nhập cảng từ phía Bắc. Nếu tin
được sử Trung Quốc, một nguyên cớ đưa đến việc Triệu Đà tự
lập làm vua là Lữ Thái hậu không chịu bán đồ sắt cho Nam
Việt.
[Xem thêm Diệp Đ́nh Hoa, “Sơ kỳ thời đại đồ sắt ở nước ta và
vấn đề Hùng Vương-An Dương Vương;” NCLS (4/1969)].
Những di tích
khảo cổ khai quật được tại Việt Nam, Hoa Nam, và đặc biệt là
Thái Lan (Non Nok Tha), vào những năm 1960 và đầu thập niên
1970
(Smith và Watson, Early South East Asia, 1979)–song
song với sự tiến bộ của các kỹ thuật định tuổi di vật bằng
Radiocarbon (C-14 phóng xạ), phương pháp tỉ đối
Flour/Uranium/Nitrogen, hay các ṿng tuổi của cây–khiến đảo
lộn từ rễ gốc nhiều lối phân tích từ trước tới nay (như
người Việt là Tàu lai
(Olov R.T. Janse, Archeological Research in Indochina,
3 vols [Cambridge: 1947]),
hay di cư từ Trung quốc xuống
(Léonard Aurousseau đề xướng; Đào Duy Anh chế biến thêm với
những h́nh khắc trên trống đồng, v.. v...); hoặc các dụng cụ
được chế biến, nhất là kim loại, chỉ được nhập cảng từ ngoài
vào
(diffusionism).
Người ta bắt đầu phác họa những thuyết về một chủng dân thật
lớn ở Đông Nam Á, đă có mặt tại vùng này từ trước ngày mặt
nước biển dâng cao từ 80 tới 120 thước như hiện nay. Như một
hệ luận, thuyết di dân (như các dân tộc ở Đông Nam Á đă di
cư từ Himalaya tới, hay ngược lại) bắt đầu bị thách thức và
người ta đưa ra thuyết tiến hóa tại chỗ [local evolution].
Theo thuyết này, dân Bách Việt [Yueh] có những nhóm đă sống
đời người thuyền [boat people], cắt tóc ngắn và vẽ ḿnh.
Phần đông những nhóm Bách Việt tại vùng nam sông Dương Tử
dần dần bị dân Hán đồng hóa, nhưng một nhóm dân Việt tại
vùng châu thổ sông Hồng và sông Mă thoát nạn mà lập nên dân
tộc Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, điều ấy không có nghĩa dân
Việt (Hồng Hà) là một sắc dân thuần chủng, mà đă có sự pha
trộn với nhiều giống khác, kể cả người [ở cổ] Trung quốc.
(William Meacham, “The Archeology of Hongkong;”
Archeology, 33:4 (7-8/ 1980), tr. 16-23; “Local
Revolution and Continuity in the Neo-lithic of South China:
A Non-Nuclear Approach;” Current Anthropology, 18
(1977), tr. 419-40. Xem thêm Karl L. Hutterer, “An
Evolutionary Approach to the Southeast Asian Cultural
Sequence;” Current Anthropology, 17:2 (June 1976),
tr. 221-42).
Các di tích khảo
cổ t́m được cũng giúp đặt lại vấn đề niên biểu của nhà Hồng
Bàng cùng các vua Hùng. Người ta đề nghị rằng các vua Hùng
xuất hiện đâu đó giữa thời khoảng 1,500 tới 600 TTL.
Tuy nhiên, sử
dụng tài liệu khảo cổ không dễ. Mục tiêu hoặc khuynh hướng
chính trị của các nhà khảo cổ chi phối nặng nề các giả
thuyết về giai đoạn tiền sử. Nên không có ǵ ngạc nhiên khi
thấy thuyết di dân và nhập cảng thống trị các nghiên cứu
trước Thế chiến thứ hai, trong khi thuyết tiến hóa tại chỗ
chỉ bắt đầu thăng tiến sau ngày các thuộc địa cũ giành được
độc lập.
Các di tích khảo
cổ cũng chỉ là những dữ kiện chết; không có dẫn giải hay phê
b́nh. Thật khó để suy đoán nguồn gốc thực sự (ai sáng chế)
của các di tích khảo cổ, nói chi thể chế chính trị hay sự
h́nh thành quốc gia [state formation].
Vấn đề sinh hoạt
tinh thần cũng gây nhiều bàn căi. Một đề tài gây nhiều tranh
luận nhất là vấn đề tô-tem hay vật tổ.
(Emile Durkheim, Les formes élémentaires de la vie
religieuse [Những h́nh thái sơ đẳng của sinh hoạt tôn
gíáo]).
Victor
Goloubew dựa theo h́nh vẽ [hoa văn] trên trống đồng Ngọc Lũ
ra sức chứng minh rằng vật tổ của người Việt là “chim hậu
điểu.”
(“L'âge du bronze au Tonkin et dans le Nord Annam;” BEFEO,
XXIX [1930], tr. 28)
Đào Duy
Anh th́ nghĩ rằng “tô-tem” (vật tổ) của người Việt là chim
Lạc ở miền Giang Nam.
(Cổ sử Việt Nam [Hà-nội: 1956], tr.86; dẫn trong Văn
Tân 1959:15, 18)
Xem những h́nh thuyền chạm trổ trên thân trống đồng Ngọc lũ,
người ta lại thấy rơ ràng đó là thuyền đi biển có cột buồm
và bánh lái mũi. Những điểm ấy khiến chúng ta thấy rằng
những người đúc trống ấy–người Lạc Việt–tất đă từng vượt
biển. Những chim Hậu điểu ấy, người ta thấy khắc trên trống
đồng ấy, tức là người Lạc Việt. T́m ư nghĩa chữ [Lạc, ] hay
[Lạc, ] là họ, tức tên thị tộc của người Lạc Việt, chúng ta
thấy chữ ấy chỉ một loài Hậu điểu ở vùng Giang Nam. Xă hội
học cho chúng ta biết rằng các thị tộc ở xă hội nguyên thủy
thường lấy tên các vật tổ mà đặt tên. Như thế th́ chữ Lạc
chính là tên vật tổ, tức loài chim hậu điểu mà chúng ta thấy
h́nh dung trên trống đồng Ngọc lũ.”
Văn Tân
bài bác lập luận này; thay bằng “rồng rắn”, “một loài ḅ
sát,” (như cá sấu = giao long), sau chuyển thành “rồng” kiểu
Trung Hoa.
(tr. 24-5)
Hà Văn
Tấn, qua bài “Ư kiến trao đổi: trở lại vấn đề tô-tem của
người Việt” cho rằng tô-tem vừa có chim Lạc, vừa có giao
long. Chim Lạc khắc trên đầu thuyền để trấn áp gió. Giao
long là cá sấu (trên búa Đông sơn nữa).
(NCLS, tr. 66-79)
Cuộc
bàn căi, dĩ nhiên, sẽ chẳng bao giờ dứt.
Nhờ kỹ
thuật định tuổi các di tích khảo cổ ngày một tân tiến, nhiều
lập luận có vẻ khoa học của tiền bán thế kỷ XX (như đo sọ
người) trở thành lỗi thời. Ngày nay, các nhà khảo cứu bắt
đầu sử dụng phương pháp trắc nghiệm DNA (một hợp chất
nucleic acid [gồm purines, pyrimidines,
carbo-hydrates, và phosphoric acid] chuyên chở
đặc tính di truyền của tế bào) với mức chính xác rất cao.
Nhưng
một số người, v́ tín ngưỡng hoặc v́ thành kiến, vẫn phủ nhận
thuyết tiến hóa và các nghiên cứu khảo cổ học. Tin tưởng vào
thuyết sáng tạo của Thượng đế (God hay Allah), cùng những
cảnh giới gọi là thiên đường và địa ngục (mà Giáo hoàng John
Paul II đă phủ nhận), đa số giáo mục và giáo dân với ḷng
cuồng tín Trung Cổ cực lực chống lại những điều mà họ mỉa
mai là từ vượn lên người, hay duy vật. Trước viễn ảnh của
khám phá mới về cloning [tái tạo], đang có khuynh
hướng tân-Gallilei [neo-Gallileism] và tân Ṭa dị
giáo [neo-Inquisition] để ngăn chặn bước tiến của khoa
học.
I. TƯ
LIỆU TÂY PHƯƠNG:
Từ thế
kỷ XVI, ngoài tư liệu Trung Quốc và quốc sử quán Việt, người
nghiên cứu có thêm hai nguồn tư liệu khác. Đó là thư từ và
báo cáo của các giáo sĩ, cùng những tay phiêu lưu mạo hiểm,
kể cả thương gia Arab.
1.
Giống như quốc sử quán Việt, hay tư liệu Trung Quốc, các tư
liệu Tây phương không khách quan như những người tôn sùng
phương Tây ngộ nhận.
a. Các
nhà truyền giáo, chẳng hạn, chỉ nh́n đất nước và dân tộc
Việt dưới mắt nh́n đầy tư tâm của sứ mệnh truyền giáo. Trang
bị bằng các Thánh lệnh (Bulls) cho phép các đoàn thám
hiểm và truyền giáo chiếm đoạt bất cứ vùng đất và hải đảo
nào chưa thuộc quyền sở hữu của các vua chúa Ki-tô, tịch thu
tài sản và bắt làm nô lệ bất cứ kẻ vô thần hay ngoại đạo
[infidels], ác quỉ [evil-doers] nào không chịu
nh́n nhận và tôn thờ Thượng đế Ki-tô, giấc mơ của các nhà
truyền giáo chỉ có việc giương cao cây thập tự trên các nóc
giáo đường bản xứ.
[Xem Phụ Bản Phân Chia Thế Giới]
Những
báo cáo về trung ương, thư từ trao đổi giữa các giáo sĩ với
nhau, hoặc gửi đến các giới chức thẩm quyền thuộc địa cho
thấy rơ sự thiếu khách quan này.
2.
Những con buôn và các tay phiêu lưu Tây phương cũng vậy. Tư
liệu của họ thường chỉ là những mắt nh́n hời hợt từ các
boong tàu, pha trộn chút hơi hướng phiêu lưu mạo hiểm.
Hoặc những lời cổ vơ về sự giàu có, vàng bạc đầy đường, cất
dấu dưới biển của các nhà cầm quyền bản xứ. Những câu chuyện
hoang tưởng về thế giới của những giống người da tím, một
mắt mọc giữa trán, cùng những cung điện nguy nga đầy châu
báu, những con lộ cúi xuống nhặt được vàng một thời dấy gợi
bao giấc mơ phiêu lưu mạo hiểm của tuổi trẻ lục địa Âu châu.
Marco Polo với những ngôi nhà Nhật có mái lợp bằng bạc; hay
các thương gia Arab với những kho vàng cất dấu dưới biển của
các sultan [tiểu vương] Malay là một thí dụ khác.
[Theo Marco Polo, Polo tới Trung Hoa vào đời Hốt Tất Liệt (Qublai
Khan hay Thành Cát Tư Hăn, 1260-1294), ở lại đây 17 năm.
Polo được Hốt Tất Liệt cho chu du khắp vương quốc, rồi bổ
nhiệm làm Tổng đốc Yangzhou (Dương Châu).
Về nước, viết cuốn Description of the World [Những Kỳ
quan của thế giới] trong tù. Tự nhận được Hốt Tất Liệt cử
làm sứ giả gặp Giáo hoàng Ki-tô ở Roma.
Một học giả Mỹ cho rằng Polo đă bịa đặt, chưa bao giờ đặt
chân tới Trung Quốc, và tác phẩm của Polo chỉ tổng hợp những
huyền thoại nghe được tại Persia (Ba Tư).
(Frances Wood, Did Marco Polo Go to China? [Boulder,
Colorado: Westview Press, 1996], 154 trang)
Theo Wood, Polo không nói lên được những đặc thù của Trung
Quốc vào thời gian này: Vạn Lư Trường Thành, súng bắn đá và
thành Tương Dương, những món đồ sứ của thế kỷ XIII, tục ưa
ăn ngon của người Hoa, đặc sản của Suzhu (Tô Châu), v.. v...
Wood ví Polo như một thứ Herodotus (480-425 TTL), “người
chưa từng đặt chân tới những địa danh mà ông ta mô tả và
trộn lẫn giữa sự kiện với chuyện hoang đường.” (tr. 150)
3. Từ thế kỷ
XVII-XVIII, các tư liệu Tây phương c̣n có thêm chút hương
hoa của sứ mệnh khai hóa, hay “gánh nặng của người da trắng.”
Bởi thế cuộc xâm lăng và chiếm đóng Philippines [Phi Luật
Tân] từ năm 1578 của người Espania hay “An Nam” của Pháp từ
năm 1858 chỉ nhằm mục đích “mở cửa cho người bản xứ vào
thế giới văn minh.” Nên chẳng có ǵ ngạc nhiên, khi thấy
sau ngày Philippines độc lập, tại nơi từng dựng tượng tôn
thờ nhà thám hiểm Ferdinand Magellan–thuyền trưởng Âu châu
đầu tiên muốn đi ṿng quanh thế giới–dân bản xứ đă dựng một
bảng đồng, với lời ghi chú: “Đây là nơi, ngày 27/4/1521,
Lapulapu và chiến hữu đă đánh đuổi những tên xâm lược
Espania, giết chết tên cầm đầu Ferdinand Magellan. Như thế,
Lalupalu trở thành người Filipino đầu tiên đă đẩy lui sự xâm
lược của Âu châu.”
(Steinberg ed., In Search of Southeast Asia, tr. XI)
Tại Việt Nam,
hàng triệu người phải hy sinh mạng sống hay bị phế tật, hàng
chục ngàn làng mạc, ruộng nương bị tàn phá mới chấm dứt được
giai đoạn “khai hóa” của Pháp. Nhưng người Việt rất
độ lượng. Người ta vẫn tạc tượng thờ hay đặt tên đường phố
để tưởng nhớ những Alexandre de Rhodes, v.. v...
(Trong
tương lai, có thể có tượng Puginier, Gauthier, Lefèbvre, Lê
Hoan, Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, Petrus Key, v.. v...?)
Houston
1/2/2009
Phụ Bản: Các Thánh Lệnh
Phân Chia Thế Giới
Các giáo hoàng
đầu tiên của thời Phục Hưng [Renaissance] dùng thần quyền để
phân chia những vùng đất “mọi rợ” mà Portugal và Espania bắt
đầu đi xâm chiếm ở duyên hải Tây Phi Châu (1416) hay “lục
địa đă mất” Mỹ châu (thập niên 1480-1490).
Đó là các Thánh
lệnh (bulls): Dudum cum ad nos (1436) và Rex Regum
(1443) của Eugene IV (1431-1439, 1439-1447 [antipope
Felix V (1439-1447]); Divino amore communiti (1452)
và Romanus Pontifex (8/1/1454) của Nicholas V
(1447-1455), Inter caetera (1456) của Callistus III
(1455-1458), Aeterni Regis (1481) của Sixtus IV
(1471-1484); và nhất là những Thánh lệnh (Papal bulls) của
Alexander VI (1492-1503) trong hai năm 1493-1494, như
Inter caetera ngày 3-4/5/1493, Eximiae devotionis
ngày 3/5/1493, và Dudum siquidem ngày 23[26?]/
9/1493. (Inter caetera ngày 4/5/1493 in trong
Corpus của Luật ṭa thánh Ki-tô, tức the Catholic
canon law). (Luis
N. Rivera, A Violent Evangelism: The Political and
Religious Conquest of the Americas [Chính sách truyền
đạo bằng bạo lực: Cuộc chinh phục chính trị và tôn giáo châu
Mỹ] (Louisville, Kentucky: Westminster/John Knox Press,
1992), tr. 24-5, 28-9; H. Vander Linden, “Alexander VI and
the Demarcation of the Maritime and Colonial Domains of
Spain and Portugal, 1493-1494” [Alexander VI và sự phân chia
lănh hải và thuộc địa giữa Es-pa-ni-a và Pooc-tiu-gơn,
1493-1494]; American Historical Review [AHR], Vol.
XXII, No. 1 (Oct 1916), pp. 1-20; John Fiske, The
Discovery of America, 2 vols (Boston: Houghton, Mifflin
& Co., 1892), I:324-6, 454-68; Phụ bản B, II:580-93).
[Bartolemi?] Las
Casas, trong cuốn Historia de las Indias, nói đến
việc năm 1442, sau khi Antonio Goncalves mang vàng và nô lệ
từ Rio del Oro (Phi châu) về Portugal, triều đ́nh Portugal
và Hoàng tử Henry the Navigator xin Giáo hoàng
“Martin V” ban cho một thánh lệnh độc quyền chiếm hữu đất
đai và nô lệ, và sau đó các Giáo hoàng Eugene IV, Nicholas
V, Calixto IV đều tái xác nhận.
(I:185)
Thực ra Las Casas bị lầm lẫn đôi chút, v́ Martin V
(1417-1431) đă chết trước đó 11 năm, và chính Eugene IV ban
Thánh lệnh buôn nô lệ.
(Fiske 1892, I:325n1)
Nhiều tác giả đă sao lại lỗi kỹ thuật của Las Casas.
Thánh lệnh ngày
8/1/1454, ban cho vua Portuguese tất cả những lănh thổ khám
phá ra “trong vùng đại dương tới những vùng phía Nam và Đông”
mà các vua theo đạo Ki-tô chưa hề t́m thấy hay sở hữu.
(Alguns Documentos do Archivo Nacional da Torre do Tombo
[Lisbon: 1892], tr. 15-6; dẫn trong Linden 1916, tr. 12)
Thánh lệnh ngày
21/6/1481 của Sixtus IV lập lại những lệnh kể trên, và phê
chuẩn ḥa ước Alcacovas năm 1479 giữa Espania và Portugal.
(Linden 1916, tr. 12n28)
Thánh lệnh của
các giáo hoàng ban cho vua Ki-tô người Portuguese những
“quyền” sau tại các vùng đất chiếm đóng được ở Africa: (1)
chủ quyền lănh thổ tại những vùng mới khám phá hoặc chiếm
đóng; (2) quyền được giáo hội ban phép lành; (3) quyền thu
thuế
[tithes]
tại những vùng đất mới; (4) quyền truyền giảng đạo Ki-tô; và
(5) quyền bắt thổ dân làm nô lệ nếu “không trở lại đạo.”
(Morales Padron 1979, 16; dẫn trong Rivera 1992:28).
Ngoại trừ điều
khoản bắt thổ dân làm nô lệ trong các thánh lệnh trên, nội
dung của bốn thánh lệnh mà Alexander VI ban phát
(grant and donation in perpetuity)
cho Espania cũng tương tự.
(Leturia 1959:I:153-204, dẫn trong Rivera 1992:29).
Theo Manzano
(1948, 8-28), Thánh lệnh trong hai ngày 3-4/5/1493 và [26?]/
9/1493 như sau:
Thánh lệnh thứ
nhất (Inter caetera ngày 3/5/1893) ban phát những
vùng đất mới khám phá cho Espania;
thánh lệnh thứ
hai phân chia vùng quyền hạn
(jurisdictions)
giữa hai vua Espania và Portugal để tránh tranh chấp (Inter
caetera ngày 4/5/1893); và,
thánh lệnh thứ ba
(Dudum siquidem ngày [26]/9/1493). nới rộng vùng đất
ban phát tới Đông
An
(Oriental Indies),
mục tiêu đích thực của phong trào thám hiểm và khám phá (tức
hạn chế Portugal tại những vùng đă chiếm được trước năm
1492).
Do yêu cầu của
vua Ferdinand V và Isabella của Espania, Alexander VI c̣n
ban hành một thánh lệnh khác, Eximiae devotionis đề
ngày 3/5/1493 [chỉ gửi đi vào tháng 7/1493
(Register 879:234)],
nhấn mạnh hơn cả hai thánh lệnh Inter caetera ngày
3-4/5/1493 [đă được gửi đi từ tháng 4
(Register 775:42 verso)
và tháng 6/1493
(Register 777:192 verso)], và tổng hợp nội
dung của hai Thánh lệnh trên.
Khi vua John của
Portugal chống lại bốn Thánh lệnh trên, thương thuyết giữa
hai nước bắt đầu từ ngày 18/8/1493. Ngày 7/6/1494, Espania
và Portugal kư Hiệp ước Tordesillas, sửa lại đường phân chia
thế giới. Espania đồng ư nhượng cho Portugal xứ Brazil
(Brê-ziêu); tức đường ranh giới thế giới dời về hướng Tây
thêm 10 kinh độ (từ khoảng 36.30 Tây tới 46.30 Tây, tương
đương với 270 hải lư), cách bờ Tây quần đảo Cape Verde
khoảng 370 hải lư]. Giáo hoàng Julius II (1503-1513) chấp
thuận hiệp ước này bằng Thánh lệnh Ea quae năm 1506.
Bốn
thánh lệnh của Alexander VI—Inter caetera “
(3-4/5/1493), Eximiae devotionis (3/5/1493), và
Dudum siquidem ([26?]/ 9/1493)—được in lại trong nhiều
tác phẩm Espania, như Marin Fernandez de Navarrete,
Colección de los viages y descubrimientos que hicieron por
mar los espanoles, desde fines del s.
XV,
2 tập (Buenos Aires: Editorial Guarania, 1945),
2:34-49, 467-468,
và Casas 1965
(2:1277-1290).
Bản dịch
tiếng Mỹ có thể t́m thấy trong Fiske, 1892, Appendix B; và
Frances G. Davenport, European Treaties Bearing on the
History of the United States and Its Dependencies to 1648,
4 vols.
(Washington: Carnegie Institution, 1917) (1:64-70, 84-100,
107-11).
Mặc dù vài tư
liệu đă bị gọi một cách sai lầm là “bulls” (Thánh
lệnh hay Thánh luật), như Manuel Gimenez Fernandez nhận định
(1944, xiii), chúng tôi dùng chữ “Thánh lệnh” như thường
dùng (thay v́ sắc chỉ, v́ thuật ngữ này không sát nghĩa).
Có 3 khuynh hướng diễn giải về vai tṛ của Giáo Hoàng và
Giáo Hội:
(a) Giáo hoàng chỉ là trọng tài trong cuộc tranh chấp
Espania-Portugual; (b) Giáo Hoàng là chánh án tối cao giải
quyết sự tranh chấp giữa Espania và Portugal; và (c) Giáo
hoàng chẳng có quyền lực ǵ, chỉ chấp nhận một thực tế.
(Linden 1916:2-3).
Manuel Gimenez Fernandez (1944), người nghiên cứu về thư từ
của Giáo hoàng—trong cách diễn tả khá khác thường so với các
sử gia Ki-tô Vatican người Espania—cho rằng có cuộc trao đổi
(simoniacal exchange)
giữa Alexander VI và Fernando [Ferdinand] V, để có được
những cuộc hôn nhân đầy lợi lộc cho các con ông ta
(his sacrilegious sons),
đặc biệt là gă vô lại
(the bastard)
Juan de Borgia, Quận công xứ Gandia (lấy Maria Enriquez, em
họ Ferdinand V). Tác giả nhận định: “Như vậy, Inter
caetera ngày 3/5 chỉ là bước đầu của liên hệ gia đ́nh
giữa các vua Aragon và con hoang của Alejandro Borgia
[Thus the Inter caetera of May 3 is, then, but the
first stage of the kinship between the monarchs of Aragon
and the favorite sacrilegious son of Alejandro Borgia].”
(Gimenez Ferniindez 1944, 86-7)
Sau Alexander VI,
Ki-tô giáo được Espania và các quốc vương Ki-tô khác sử dụng
như ư thức hệ ṇng cốt của chính sách thực dân, tức tiếp nối
tinh thần “thập tự quân” mới: Di chúc của Nữ hoàng Isabel
(1504), Luật Burgos (1512), Yêu sách
[Requerimiento]
(1513), Tân Luật
[Leyes Nuevas]
(1542), cuộc
tranh luận tại Valladolid (1550-1551), các sắc lệnh về những
xứ và thành phố mới khám phá dưới thời Felipe II (1573), và
cuối cùng Bộ Luật về thổ dân
[Compilation of the Laws of the Indies]
năm 1680 dưới triều Carlos II.
Thánh lệnh của
Alexander VI trở thành căn bản “pháp lư” của những cuộc
chinh phục Mỹ và á châu trong thế kỷ XVI-XVII. Năm 1530,
chẳng hạn, vua Joao III viết cho Đại
sứ Pháp:
Tất cả những chuyến du hành thám hiểm trên biển và trên đất
liền đều có cơ sở pháp lư [tức quyền sở hữu], căn cứ vào
Thánh lệnh mà các Thánh Cha đă ban phát từ xưa . . . . dựa
trên những pháp lư vững chắc, và v́ thế [những vùng đất khám
phá được] là tài sản hợp pháp của Ta và ngôi vua vương quốc
[Espania], [chúng] đang yên ổn nằm trong quyền sở hữu của
Ta; không ai có thể xâm phạm chúng trong lẽ phải và công lư.
(Zavala (1971, 348) ]
Một số quốc gia
Au châu không tán thành và không nh́n nhận những Thánh lệnh
này. Năm 1540, vua Francis I của Pháp mỉa mai: “Ta sẽ rất
hân hoan nếu thấy trong lời chứng của Adam có câu loại Ta
khỏi một phần chia chác thế giới.”
(Leturia 1959, 1:280).
Jean Francois Marmontel, một nhà bách khoa tự điển Pháp, cáo
buộc Thánh lệnh của Alexander VI là “tội ác lớn nhất trong
số các tội ác của nhà Borgia.”
(Hoffner 1957, 268)
Nữ hoàng
Elizabeth I của Bri-tên cũng không dấu bất măn, nhấn mạnh
rằng
“Ta không thể tin rằng dân bản xứ là sở hữu hợp pháp của
Espania, do Thánh luật của một giáo hoàng ở Rome, mà Ta
không nh́n nhận quyền hạn về vấn đề này, và lại càng không
tin hơn nữa rằng ông ta có thể ràng buộc các vua không thuần
phục ông ta.”
(Zorraqufn Becu 1975, 587)
1497: Vasco de Gama vượt qua Mũi Hảo Vọng.
1506: Francisco de Almeida thăm Sri Lanka (tức Ceylon hay
Tích Lan), sau sát nhập xứ này vào đế quốc Portugal.
1508: Người Portuguese, Sequeira, tới Sumatra.
1510: Portugal chiếm Goa.
1511: Alfonso de Albuquerque (Portugal) chiếm Malacca (trên
bán đảo Malaysia), một trung tâm truyền giảng đạo Islam và
thương mại ở Viễn
Đông
(1400-1511). Từ đây, Albuquerque cử sứ đoàn qua
Ayuthia (Xiêm) và Molucca (trong quần đảo Spice). Pháo đài
Malacca trở thành trung tâm thù nghịch của các tiểu vương
Islam lân cận. Cuộc chiến tranh chống Portugal kéo dài tới
năm 1587, do vua Acheh [Achin], trên đảo Sumatra (Indonesia
ngày nay) lănh đạo.
Thương gia Islam dời xuống Brunei (Borneo), chọn nơi đây làm
trung tâm truyền giáo. Một cuộc thánh chiến mới diễn ra khốc
liệt tại vùng đất của hồ tiêu, dầu, và nhất là vàng.
1517: Fernam de Andrade tới Quảng Châu, Nam Trung Hoa.
(Fiske 1892, II:183)
1521: Ferdenand Magellan, trong ước muốn đi ṿng quanh thế
giới bằng tàu buồm, đă phát hiện ra quần đảo “San Lazaro”
(tức Philippines ngày nay). 27/4/1521: Lapulapu, chúa đảo
Mactan, giết Magellan. 6/9/1521: Tàu Victoria về tới San
Lucar de Barrameda (Espania), hoàn tất chuyến đi ṿng quanh
thế giới.
1524: Ruy Lopez de Villabodos cùng với 5 tàu và 370 thủy thủ
từ Mexico vượt biển trở lại Philippines. Một giáo sĩ ḍng
Augustin, Andres de Urdaneta, cũng chỉ huy một chiến hạm.
1529: Ḥa ước Saragossa giữa Portugal và Espania: Phía
Đông
Molucca 17 độ là thuộc Portugal.
1533: Theo sách Dă Lục, Y-nê-xu [Ignatio hay Ignace] giảng
đạo Gia-tô tại xă Ninh Cường, Quần Anh, và Trà Lũ huyện Giao
Thủy [Nam Dịnh].
(Theo L. Cadière, Gaspard da Santa Cruz tới Dàng Trong năm
1550).
1549 [1540?]: Ignace de Loyola thành lập ḍng Jesuite (Jesus
hay Tên) tại Espania.
1550 [1555?]: Theo Marcos Gispert [Giopert?], giáo sĩ
Gasparde Santa da Cruz tới
Đại
Việt.
1555: Người Portuguese lập nghiệp ở Macao (Ấo Môn).
- Gasparde Santa da Cruz, một giáo sĩ Dominican Portugal,
đến Lovek (Chân Lạp).
1563: 900 người Portuguese lập nghiệp, và hàng vạn người
sinh sống tại hải cảng Macao. Từ ngày này, người Portuguese
dùng Macao làm địa bàn buôn bán với cả Đàng
Ngoài (Tonqueen) và Đàng
Trong (Kauchin Chine, hay Cochinchine).
1564: Miguel Lopez de Legaspi (?-1572) lại mang một đoàn
chiến thuyền từ Mexico tới chiếm đóng Philippines. 4/1565:
Lopez de Legaspi chiếm Cebu, lập khu định cư đầu tiên.
1568 [Mậu Th́n]: Người Espania chiếm Manila, và từ tháng
5/1571 lấy Manila làm thủ đô của Philippines. Các
“friars” trở thành nhà cai trị (và được vua Espania trả
lương) tại các vùng nông thôn.
1578: Sebastian bị giết ở Morocco.
- Pedro d'Alfaro, ḍng Francisco [Phanxicô], lập tu viện ở
Philippines và Macao. 1580: Vua Espania, Philip II, gồm
chiếm đế quốc Portugal. Từ ngày này, Manila và Macao là hai
trung tâm truyền giáo lớn nhất.
1580: - Luis de Fonseca, người Portuguese, và Grégoire de la
Motte, người Pháp, thuộc giáo hội Malacca, đến Quảng Nam(?)
truyền đạo. Đuợc
ít lâu bị Nguyễn Hoàng trục xuất. Fonseca bị giết; de la
Motte bị thương nặng, rồi chết.
1581: Từ Macao, Linh mục Giovanni-Battista de Pesaro, gốc
Italia, liên lạc với Mạc Mậu Hợp, xin qua giảng đạo. 1584:
Bortholoméo Ruiz thuộc đoàn truyền giáo của d'Oropesa, gốc
Espania, từ Manila đến Thăng Long gặp Mạc Mậu Hợp.
Mang theo một phụ nữ thông dịch viên. Khi tàu Portuguese bỏ
đi, chỉ có Ruiz ở lại. Giảng đạo bằng h́nh ảnh. Năm 1585,
khi Ruiz rời Đàng
Ngoài, chỉ rửa tội được một em bé sắp chết.
(Hồng Lam & Cadière, 1944:102-3)
1/5/1583: Linh mục Diego d'Oropesa, cùng Bortholoméo Ruiz,
Pedro Ortiz, Francisco de Montila, và 4 phụ tá, ḍng
Francisco, từ Manila qua Đại
Việt.
(Romanet du Caillaud 1915, tr. 34)
1583-1584 [1570?]: Lopo Cordoso và Joan Madeira tới
Lovek. Vua Satha muốn nhờ Malacca chống vua Ayuthia (Xiêm)
là Phra Naret.
1588: Hạm đội Espania bị thảm bại. Bri-tên, Pháp và Dutch
bắt đầu giành giật thuộc địa của Portugal và Espania. Dutch
đặc biệt chú ư đến á châu. Chiếm Jawa và Sumatra (Indonesia
ngày nay).
1591: Theo Ordonez de Zevallos (Zeballos), trong cuốn
Histoiria Y Viage del Monde [Lịch sử cuộc du hành thế giới],
ông ta từng giảng đạo ở triều Hậu Lê, rửa tội cho công chúa
Flora Maria [Mai Hoa]?, nhiếp chính đại thần của một ông vua
mới 7 tuổi, nên bị trục xuất vào
Đàng
Trong. Tại đây, rửa tội cho Nguyễn Hoàng (sic!). (Romanet du
Caillaud 1915, tr. 83-144). Theo Borri, đây là chuyện bịa
đặt. (Hồng Lam & Cadière, 1944:100-1)
1592: Nhật: Tokugawa thiết lập hệ thống tập trung việc
thương mại với các nước Ấ Châu, gọi là “Red Seals.”
1593: Blas Ruiz de Hernan Gonzales và Gregorio Vargas
Machuca từ Manila tới Chân Lạp.
1596: Diégo Adverte, thuộc ḍng Dominican Espania, tới
Đại
Việt. (Gosselin, 89)
- Người Dutch [công ty Vereenigte Oost-Indische Compagnie,
hay VOC] tới Jawa.
1602: Sir James Lancaster thiết lập sở buôn English East
India Company tại Bantam, phía Tây Jawa.
1607: Dutch chiếm quần đảo Moluccas.
1614 [Giáp Dần]: Jean de la Croix, người Portuguese, lập ḷ
đúc súng ở Thuận Hoá.
(Maybon & Russier, Notion d'histoire d'Annam).
18/1/1615: Hai linh mục ḍng Tên gốc Italia, Francesco
Buzomi và Diego Carvalho, cùng Antonio Diaz (Portuguese) và
2 người Nhật (Paul & Joseph) từ Macao tới Faifo.
(Huồn 1965, I:46) Carvalho ở khu phố Nhật một năm rồi
sang Nhật, chết ở đây (1624). Buzomi hoạt động ở vùng Cửa
Hàn (cho tới năm 1639; (Khiêm 1959:46)
1617: Chúa Săi trục xuất Buzomi và Pina. Hai người lén lút ở
lại, lập thêm được họ đạo Nước Mặn ở phủ Hoài Nhân (Qui
Nhân).
1618 [Mậu Ngọ]: Chúa Săi cho phép giảng đạo lại. Giám
mục Macao gửi thêm Pedro Marquez và Christoforo Borri, cùng
một thuyền buôn nhiều hàng hoá tới “Cacchian” [Quảng Nam] và
Faifo (Hội An). (Pinkerton 1811:IX:795-97; Lamb 1970:21).
Theo Borri, thị trấn Faifo khá lớn; chia làm hai khu vực
người Hoa và người Nhật.
(Cochin-China
[London:1633]; reprinted in 1970 by Da Capo Press, NY, tr.
I-3)
1620 [Canh Thân]: Chiến tranh Bắc-Nam khởi sự.
2/1623: Dutch đánh phá sở buôn English East India Company
tại Amboyna, Moluccas.1654 [Giáp Ngọ]: Dưới áp lực của chúa
Nguyễn, người Dutch phải bỏ Faifo, tập trung ở Phố Hiến.
(Lamb 1970:26)
12/1624: Thêm 5 cố đạo tới
Đàng
Trong. Trong số này có lẽ có Alexandre de Rhodes
(1593-1660), 3 giáo sĩ Portuguese, 1 Italia, và 1 Nhật
(Michel Marchi).
1645: Portugal chiếm Brazil của Dutch.
2/8/1650: Rhodes tuyên bố với Bộ truyền giáo Roma là cần ít
nhất 300 giáo sĩ để cai quản 300,000 giáo dân, và mỗi năm
tăng lên 15,000 người. Innocent X (1644-1655) đồng ư,
cử Rhodes làm Giám mục
Đại
Việt, nhưng Rhodes từ chối. Sau đó Rhodes qua Pháp, t́m
người đi
Đại
Việt. Chết ở Iran ngày 5/11/1660. (Huồn 1965, I:129)
1659: Giáo hoàng Alexandre VII (1655-1667) cử Francois Pallu
(1626-1684) và Pierre de la Motte-Lambert (1627-1693) làm
đại diện giáo triều Vatican tại Trung Hoa và vùng lân cận,
một bước cơ bản cho việc thiết lập Hội truyền giáo hải ngoại
Pháp vào năm 1663.
1659 [Tháng 9 Kỷ Hợi]: Sau cuộc làm loạn ở Cao Mại của tín
đồ Ki-tô, Trịnh Tạc cấm đạo. Cho lệnh Onofrio Borgès,
người Switzerland, phải triệu tập các cố đạo về Hà Nội, rồi
trục xuất lên Macao, ngoại trừ Borgès và Tissanier, một cố
đạo gốc Pháp. (Huồn 1965, I:123).
1663: Trịnh Tạc cấm đạo.
1715: Clement XI (1700-1721) cấm giáo dân dự lễ cúng Khổng
tử và thờ kính ông bà tổ tiên, v́ đó là dị đoan. 1742:
Benedict XIV (1740-1758) ra sắc dụ Ex quo Singulari, lập lại
giáo lệnh của Clement XI tuyệt cấm giáo dân dự vào lễ cúng
Khổng tử và thờ kính ông bà tổ tiên, v́ đó là dị đoan.
[1939: Pius XII (1939-1958) ra dụ Summi Pontificus, cho phép
tham dự những lễ nghi kể trên. (Huồn 1965, I:319) 1962: Công
đồng II đồng ư. Nhưng chỉ áp dụng tại Việt Nam từ 1974] |