|
Công bằng, dân chủ dưới con
mắt Phật giáo
Cao Huy Thuần
Từ hơn bốn mươi năm
nay, chưa bao giờ Việt Nam đứng ra tổ chức một lễ Phật Đản lớn
về tất cả mọi mặt: tôn giáo, văn hóa, xă hội, và về cả chính
trị như lần này. Nói lớn về cả chính trị là bởi trong ba
ngày vừa qua, thủ đô Hà Nội là thủ đô Phật giáo của
thế giới.
Nhân sự kiện này, cả
thế giới đều biết Việt Nam. Nhưng Việt Nam được biết đến chỉ
là một nước đă đi qua chiến tranh, cũng không phải chỉ là một
nước đang trên đà phát triển kinh tế: Việt Nam sáng
lên như một nước có văn hiến, có bản sắc, trong một
thế giới mà nhiều người cho là đang đi đến đồng bộ. Như vậy,
chẳng phải là một thắng lợi chính trị của Việt Nam hay sao?
Năm ngoái, Thái Lan
đă được vinh hạnh tổ chức ngày Đại Lễ này, và ngày đó, năm
ngoái, trùng hợp với ngày nhân dân Thái ăn mừng thượng thọ
Nhà Vua 80 tuổi.
Năm nay, ngần ngại ǵ
mà ta không nói: Ta tổ chức Phật Đản và ăn mừng chiến thắng
chính trị và văn hóa của nước ta?
Trong Ngày Trăng Tṛn
năm nay, Huế tiếp nối Hà Nội, cùng với cả nước, là thủ đô của
thế giới Phật giáo. Hà Nội vừa biểu dương khí thế chính trị
và văn hóa của nước, nay đến lượt Huế biểu dương khí thế tôn
giáo và văn hóa của dân.
Đất cố đô và cả nước
ta bày ra cho thế giới thấy một xă hội tôn giáo đầy chất sống,
rực rỡ màu sắc, sẵn sàng tạo hậu thuẫn cho một Nhà nước "v́
dân, từ dân, lấy dân làm gốc".
Chính trong tinh thần
đó mà tôi hân hoan chào mừng sự hiện diện của chính quyền
trong Ban tổ chức Đại Lễ Phật Đản 2008. Tôi không xem đây
như việc chính quyền xen vào nội bộ tôn giáo. Đặc biệt, tôi
xem đây như một việc làm rất có ư thức, thể hiện điều tôi vừa
nói: Nhà nước và Phật giáo cùng tổ chức ăn mừng chung một thắng
lợi chung, một ngày rực rỡ chung.
Ngày Phật Đản của LHQ
2008 năm nay nói lên 3 sự kiện nổi bật. Một,
là Phật giáo nói chung lớn mạnh trên thế giới. Hai,
là Việt Nam lớn mạnh trên thế giới. Ba, là Phật
giáo Việt Nam lớn mạnh trên thế giới.
1. Phật giáo lớn mạnh
trên thế giới
Phật giáo lớn mạnh,
trước hết là v́ bản chất của Phật giáo. Phật giáo
mang đến giải pháp cho con người, con người nói chung, chứ
không phải riêng ǵ cho người xứ này xứ nọ. Không như Ấn Độ
giáo chỉ liên quan đến người Ấn, Thần giáo chỉ liên quan đến
người Nhật, hoặc Do Thái giáo chỉ liên quan đến người Do
Thái... Trái lại, đă là người th́ ai cũng có thể đón nhận
thông điệp của Đức Phật.
Phật giáo lớn mạnh,
thứ hai, là v́ bản chất của chính thông điệp Phật
giáo. Chiến tranh, hận thù, nghèo đói, bạo lực, áp bức, thời
nào cũng có, nhưng thời nay, với phương tiện truyền thông
nhanh như chớp, bao nhiêu hiện tượng đó nằm ngay trước mắt
bất cứ ai, dù không phải là nạn nhân.
Nạn nhân khổ đă đành,
người xem cảnh khổ trên màn ảnh cũng không thể không suy tư
về cái khổ. Cái khổ diễn ra muôn h́nh vạn trạng. Ở xứ nghèo,
khổ v́ đói. Ở xứ giàu, khổ v́ cô đơn, v́ bất an trong nghề
nghiệp, v́ lạnh lẽo trong gia đ́nh, v́ mất an ninh trong xă
hội, v́ bị đe dọa ngay cả trong thức ăn và không khí, v́ mất
phương hướng trong cuộc sống.
Và dù giàu hay nghèo,
ở đây hay ở đó, nhân loại nói chung, không trừ ai, đều là
nạn nhân của một phi lư khiếp đảm, phi lư của cạnh tranh bất
chính, bất lương, đưa cạnh tranh lên mức tận diệt môi
trường, hủy hoại trái đất, đe dọa đời sống của thế hệ tương
lai.
Và như thế để làm ǵ?
Để đè bẹp kẻ khác, để thống trị, để làm bá chủ.
Trước một thế giới
bạo lực như vậy, ai có tư duy mà không nghĩ đến h́nh ảnh
ngọn lửa trong kinh, lửa tham, lửa sân, lửa si? Hiển nhiên,
đức Phật nói đến ngọn lửa thiêu đốt trong tâm con người,
nhưng lửa đang thiêu đốt thế giới có xa lạ ǵ với lửa thiêu
đốt con người?
T́m ở đâu cho thế
giới hôm nay tiếng nói ḥa b́nh đích thực, thuần khiết,
tiếng nói từ bi thuần khiết, đích thực, nếu không phải nơi
thông điệp của đức Phật?
Cho nên các tổng thư
kư LHQ không ngừng nhắc nhở điều đó mỗi mùa Phật Đản. Họ
nói: "Thông điệp đó ngày nay c̣n quan trọng hơn bao giờ
hết".
Phật giáo lớn mạnh,
thứ ba, là v́ con người ngày nay, trong thời hiện
đại, gặp nhiều vấn đề tâm linh và tâm lư khó giải quyết và
họ t́m được nơi Phật giáo giải pháp thích hợp nhất.
Đó là lư do giải
thích tại sao Phật giáo không ngừng lớn mạnh tại Âu Mỹ trong
ṿng phần tư thế kỷ vừa qua. Khoa học, kỹ thuật đă mang lại
cho con người nói chung bao nhiêu lợi ích vật chất, và đă
mang lại cho Âu Mỹ trù phú về vật chất, tự do về tư tưởng.
Thế nhưng con người
vẫn là con người, nghĩa là vẫn ham muốn vô cùng tận, bao giờ
cũng thấy thiếu. Ngày xưa, cái cảm giác thiếu ấy đă khiến
con người ở các xứ đó tạo ra thượng đế để lấp vào chỗ thiếu.
Ngày nay, thượng đế ở
trên trời không đóng nổi vai tṛ ấy nữa, một thượng đế khác
ở dưới đất thay thế ngay, và một tôn giáo khác điền chỗ vào:
ấy là tôn giáo tiêu thụ. Ông thần ấy đánh đúng vào tâm lư
thiếu của con người: một nhu cầu được thỏa măn lập tức biến
ngay thành thiếu. Từ nhu cầu căn bản đến nhu cầu hưởng thụ,
con người hiện đại chạy theo cái thiếu hụt hơi.
"Cuộc đời là khổ" -
Phải hiểu chữ khổ thế nào?
Các bạn trẻ đang nghe
tôi nói, một trong những vấn đề làm các bạn khó hiểu nhất
khi đến với đạo Phật lại chính là vấn đề căn bản nhất mà nếu
hiểu th́ cái ǵ cũng hiểu.
Sau khi chứng ngộ
dưới cây bồ đề, đức Phật tuyên bố chân lư đầu tiên: Cuộc đời
là khổ. Các bạn đừng hiểu chữ khổ một cách nông nổi,
cạn hẹp. Đức Phật đă phân tích trạng thái khổ dưới nhiều
dạng khác nhau.
Khổ v́ thân xác: đau
yếu, bệnh tật, già chết. Khổ v́ tinh thần: yêu mà không được
yêu, yêu mà phải xa cách, ghét mà phải gần gũi, muốn mà
không có được, có mà không giữ được, có mà hóa ra lầm, tưởng
thế mà không phải thế ...
Các bạn sẽ nói: Thiếu
ǵ giây phút hạnh phúc! Quả vậy, nhưng hăy chiêm nghiệm mà
xem: Hạnh phúc có đấy nhưng đă qua vèo, không có cái ǵ
thường c̣n trong đời sống này.
Các bạn lại sẽ hỏi:
Vậy th́ đạo Phật bi quan rồi? Không! Vậy th́ đạo Phật lạc
quan? Cũng không! Đạo Phật chỉ thấy sao nói vậy. Đạo Phật
chỉ vào sự thật mà bất cứ ai biết nh́n, biết chứng nghiệm
với chính kinh nghiệm bản thân, đều thấy.
Các bạn lại hỏi nữa:
Như vậy đạo Phật không biết đến hạnh phúc hay sao? Đâu phải!
Hạnh phúc chính là chuyện mà đạo Phật nhắm đến. Đức Phật nói
khổ là để t́m nguyên nhân của khổ, rồi con đường dẫn ra khỏi
khổ.
Và tận cùng là ǵ? Là
hạnh phúc! Hạnh phúc thực sự chứ không phải là những thú vui
mà ta cứ tưởng lầm là hạnh phúc. Khi ta biết rằng những thú
vui rồi sẽ đi qua, đừng chạy theo nó hụt hơi nữa, th́ đồng
thời ta cũng sẽ thấy cái ǵ ở lại với ta: Cái đó là hạnh
phúc, hạnh phúc thực sự.
Bây giờ, tôi trở lại
với con người hiện đại, nhất là tại Âu Mỹ. Ở thành phần
trung lưu, thật sự họ có thiếu cái ǵ đâu! Vậy mà họ cảm
thấy thiếu thường xuyên, càng có càng thiếu. Y hệt như người
khát nước cứ uống nước mặn, càng uống càng khát.
Cái tâm lư ấy, t́nh
trạng ấy, là tâm lư ǵ, t́nh trạng ǵ? Là thất vọng. Là
không thỏa măn. Bao giờ cũng không thỏa măn. Có rồi vẫn thất
vọng. Đó là cái tâm lư, cái t́nh trạng mà đức Phật diễn tả
trong chữ "khổ".
Khổ ấy mênh mông, mà
bây giờ người trung lưu phương Tây thấy rơ hơn ai hết. Các
bạn trẻ đừng sợ khi nghe nói: Con người trầm luân trong biển
khổ. Cái biển khổ ấy, người phương Tây thấy ḿnh ngụp lặn
trong đó, rồi từ đó họ chứng nghiệm thông điệp của đức Phật.
Không ai cải đạo họ cả, chính họ t́m đến đức Phật.
Vậy, Phật giáo là đạo
của giải thoát, đạo của từ bi, đạo của ḥa b́nh. LHQ tuyên
bố như lời Tổng thư kư Perez de Cuellar nói trong ngày Phật
Đản 1986: "Triết lư ấy nằm chính trong tim của Hiến chương
LHQ và phải được biểu dương trong mọi suy nghĩ của chúng
ta".
Với sự lớn mạnh của
ảnh hưởng Phật giáo trên thế giới, LHQ bước thêm bước nữa:
Năm 1999, Đại hội đồng LHQ biểu quyết công nhận ngày Phật
Đản là ngày của quốc tế, được làm lễ kỷ niệm tại trụ sở LHQ
và tại tất cả các cơ quan của LHQ.
Từ năm 2000, lễ Phật
Đản mỗi năm đều được cử hành trong khung cảnh đó. Năm 2007,
đặc biệt lễ Phật Đản trùng hợp với ngày đăng quang thứ 60 và
ngày sinh nhật thứ 80 của Nhà Vua, Thái Lan tổ chức "Ngày
Phật Đản của LHQ" một cách trọng thể chưa hề thấy. Việt Nam
là nước thứ hai sau Thái Lan lănh vinh dự này năm nay, và Hà
Nội, sau Bangkok, trở thành thủ đô Phật giáo của thế giới
trong mùa Phật Đản năm 2008. Điều đó thể hiện Phật giáo đang
lớn mạnh trên thế giới.
2. Việt Nam lớn mạnh
trên thế giới
Không phải tôi bênh
ǵ nước tôi, nhưng tôi phải nói ngay: Việt Nam hơn Thái Lan.
Hơn chỗ nào? Ở chỗ Việt Nam là nước đầu tiên, chứ không phải
nước thứ hai như tôi vừa nói.
Lư do là thế này: Bắt
đầu từ 2005, "Ngày Phật Đản của LHQ" được tổ chức tại Cơ
quan châu Á - Thái B́nh Dương của LHQ, mà trụ sở đặt tại
Bangkok. Như vậy, Phật Đản 2007, tuy trọng thể, vẫn không có
ư nghĩa ǵ đặc biệt đứng về mặt quốc gia đăng cai. Thái Lan
v́ có trụ sở của LHQ tại kinh đô, nên đương nhiên được hưởng
lộc Phật Đản.
Việt Nam, không có
trụ sở của LHQ, mà được LHQ trao lộc cho, thế mới đáng nói.
Như vậy mà không phải là nước đầu tiên th́ là ǵ?
Chúng ta nên hănh
diện cho đất nước của chúng ta về sự kiện lịch sử này. Bởi
trước hết, uy tín của Việt Nam trên thế giới lên cao.
Năm qua, Việt Nam là thành viên của Hội đồng bảo an LHQ.
Việt Nam đă tổ chức thành công những hội nghị quốc tế quan
trọng.
Thứ hai,
Việt Nam nhận ra được gốc gác của ḿnh mà ngôn ngữ nhà Phật
gọi là bản lai diện mục. Như một người trở về lại nhà ḿnh,
Việt Nam t́m lại được bộ mặt thật của Việt Nam. Phật giáo
không muốn chiếm độc quyền trong bản lai diện mục đó.
Nhưng hăy xem: ai đă
tạo ra văn hóa, ai đă tạo ra đạo đức, ai đă tạo ra tâm hồn
cho dân tộc ngày hôm nay? Nhờ đâu mà chúng ta đă không rơi
hẳn vào quỹ đạo văn hóa của Trung Hoa, với thầy Khổng, thầy
Mạnh, tứ thư, ngũ kinh thuộc ḷng như húp cháo của cả tầng
lớp nho sĩ nắm quyền?
Nhờ đâu mà chúng ta
đă không hướng về phương Bắc để lạy như một thánh địa? Tất
nhiên có người sẽ nói: Tại v́ chúng ta có văn hóa bản địa.
Nhưng văn hóa bản địa th́ khó thấy, văn hóa Phật giáo th́ sờ
sờ trước mắt.
Như một chất xúc tác,
Phật giáo đă dung hóa tất cả, góp phần tạo ra bộ mặt văn
hiến mà Nguyễn Trải, một người uyên thâm Phật giáo, đă xác
quyết ngay trong những câu đầu của B́nh Ngô Đại Cáo:
"Nước ta là một nước văn hiến".
Để tuyên ngôn độc lập
với phương Bắc, Nguyễn Trăi tôn văn hiến lên hàng đầu, văn
hóa là linh hồn của một dân tộc.
Bây giờ đây, nước ta
đă hết Bắc thuộc, đă hết Tây thuộc, hết chiến tranh, hết
ngoại thuộc, bây giờ đây, chủ quyền đă được củng cố, phần
xác đă tạm ổn, hăy lo phần hồn cho dân tộc, bởi v́ đó mới
chính là sức mạnh trường tồn.
Làm nước đầu tiên
không có trụ sở của một cơ quan LHQ đăng cai tổ chức Phật
Đản, Việt Nam xác nhận long trọng trước thế giới gốc gác của
ḿnh và cả hướng đi của ḿnh. Hướng đi đó mở ra một chân
trời ngoại giao đầy thiện cảm với thế giới và nhất là với
lân bang.
Thứ ba,
và đây là điểm quan
trọng nhất, Việt Nam lớn mạnh cho nên không ngần ngại đối
mặt với những vấn đề nhạy cảm nhất của thời đại. Đó là những
vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong chính chủ đề của "Ngày Phật
Đản của LHQ 2008". Chủ đề của LHQ ghi rơ: "Đóng góp của
Phật giáo vào việc xây dựng một xă hội công bằng, dân chủ và
dân sự".
Vấn đề đặt ra trong
ngày lễ trọng đại như thế này, trên đà tiến như thế này của
đất nước, chúng ta có bổn phận phải trả lời như một người
trưởng thành.
Cái nh́n của đức Phật
về sự công bằng của con người
Muốn trả lời câu hỏi
"Thế nào là công bằng trước mắt Phật giáo?" một cách cụ thể,
không ǵ bằng nh́n h́nh ảnh của chính đức Phật và xă hội
chung quanh Ngài.
Thầy và tṛ sống như
nhau, không khác: một b́nh bát, ba tấm y. Tṛ đi khất thực,
Thầy cũng đi khất thực, Thầy cũng bưng b́nh bát đứng trước
cửa nhà dân, không phân biệt giàu nghèo sang hèn. Thầy không
bắt tṛ mang thức ăn về cho ḿnh, Thầy đội chung giờ ngọ và
mặt trời trên đầu cùng với tṛ.
Hành động khất thực cũng là một hành động công bằng: ở đây
không có kẻ xin người cho, ở đây ai cũng cho, một bên cho
thực phẩm, một bên cho phước đức. Đức Phật tự ḿnh đi khất
thực, chính cũng v́ muốn cho, tự ḿnh cho, và đức Phật mà
cho th́ phước đức lớn không lường được. Công bằng là như
vậy: không phải chỉ biết đ̣i mà c̣n biết cho.
Trong một xă hội mà
ai cũng chỉ đ̣i, không ai biết cho, th́ dù xă hội đó có thực
hiện được công bằng đi nữa, trước sau ǵ cũng mất tự do.
Công bằng nằm
trong cái nh́n của đức Phật về con người: con người ai
cũng có Phật tính như ai, cho nên mọi sự phân biệt giàu
nghèo, sang hèn, nam nữ, giai cấp, đều không có nghĩa.
Ngài A Nan, đại đệ tử
của Phật, đă nói một câu nhẹ nhàng mà triệt để cách mạng với
cô thiếu nữ hạ tiện không dám múc nước giếng dâng ngài, sợ
bàn tay hạ tiện làm bẩn nước: "Tôi xin nước chứ không xin
giai cấp".
Tôi kể thêm: ai cạo
tóc cho đức Phật? Bác thợ cạo Upali, giai cấp hạ tiện! Vậy
mà bác cũng đă trở thành đại đệ tử, bác đă chứng A-la-hán!
Nhưng công bằng có
phải là ai cũng ngang nhau, bằng nhau tuyệt đối hay không?
Chắc chắn là không, không bao giờ có t́nh trạng đó. Đức Phật
thấy ai cũng có Phật tính như ai, nhưng Ngài cũng thấy ai
giác ngộ sớm hơn ai. Gặp người đă chín muồi giác ngộ, dù
người đó là tướng cướp, Ngài chỉ dạy thêm một lời là người
đó chứng A-la-hán.
Trong hàng đệ tử của
Ngài, đâu có phải ai cũng là A-la-hán? Ngang nhau nhưng
không giống nhau, b́nh đẳng nhưng không đồng đẳng, đó là căn
bản của công bằng.
Bởi vậy, sự phân biệt
duy nhất trong Phật giáo giữa người với nhau là sự phân biệt
dựa trên khả năng giải thoát, dựa trên đức hạnh.
Ngang nhau nhưng
không giống nhau
Luật của nhà chùa y
theo quan niệm công bằng như thế mà xử. Người có đức hạnh
lớn không bị xử ngang hàng như người có đức hạnh nhỏ. Tỷ như
bỏ một nắm muối vào chén nước, nước mặn uống không được; bỏ
nắm muối vào chum nước, nước uống được, chẳng sao.
Người ít đức thiện ví
như chén nước: nếu người ấy làm thêm một điều bất thiện nữa,
nào có khác ǵ bỏ muối vào chén. Người có nhiều đức thiện,
ví như nước trong chum, lỡ lầm làm một điều bất thiện, muối
ấy đâu có làm mặn nước.
Đó là phẩm "Hạt
Muối", áp dụng trong luật nhà chùa. Ngang nhau nhưng không
giống nhau. Tất nhiên, đây là tội về đức hạnh, không phải
tội ngoài đời.
Áp dụng quan niệm ấy
vào đời trong t́nh trạng bất b́nh đẳng giàu nghèo tàn nhẫn
hiện nay, tất nhiên Phật tử chúng tôi đau xót cho t́nh trạng
bất nhẫn này và mong được cải thiện, nhưng chúng tôi cũng đi
đến cùng một kết luận với nguyên thủ tướng Vơ Văn Kiệt khi
ông viết gần đây: "Kinh nghiệm sau hơn hai thập kỷ đổi
mới cho thấy, không thể có "công bằng" đúng nghĩa trong một
xă hội mà tất cả đều nghèo. Cũng không thể "cào bằng" bằng
cách "điều tiết" hết lợi ích của người giàu để chia cho
người nghèo. Xă hội sẽ không phát triển nếu không có chính
sách kích thích một bộ phận dân chúng vươn lên làm giàu
chính đáng"
Công bằng là như thế.
Là Nhà nước phải giải phóng những lực lượng nào có khả năng
làm phát triển đất nước, đừng ḱm hăm họ lại.
Những lực lượng đó,
hiện nay có hai: Một là doanh nhân tư nhân độc lập, hai là
trí thức. Một bên là của cải lương thiện, một bên là cái đầu
sáng tạo. Không có hai lực lượng đó, Âu châu đă chẳng bao
giờ làm được cách mạng kỹ nghệ và thế kỷ Khai Sáng, đưa họ
lên địa vị hàng đầu thế giới.
Lănh đạo: Càng đo
càng cao
Tôi chỉ xin mượn câu
viết của ông Vơ Văn Kiệt để nói thêm một lời về lănh đạo.
Dân thường nghe nói: lănh đạo phải cao hơn người khác một
cái đầu. Quá đúng!
Thế nhưng, cao hơn
một cái đầu không có nghĩa là ḿnh cứ lùn và đè đầu mọi
người khác xuống để ḿnh cứ cao hơn. Thế nào là lănh đạo cao
hơn một cái đầu?
Tôi lại kể chuyện
Phật. Có một người Bà la môn nghe nói thân Phật cao 1 trượng
6 th́ không tin, bèn vào rừng chặt một cây trúc dài để đem
đến đo Phật. Ông càng đo th́ Phật càng cao. Vác cái thang
đến, leo lên thang để đo, vẫn thế, sào cao đến đâu, Phật cao
hơn sào đến đó. Lănh đạo là như vậy, là tự ḿnh cao măi hơn,
cao hơn cả chính ḿnh, cao về tài năng, cao về đạo đức. Đó
là công bằng.
Dân chủ là "tự tứ"
Bây giờ là dân chủ.
Tôi lại kể chuyện đức Phật. Luật của nhà chùa buộc tăng ni
phải họp nhau có định kỳ để chỉ lỗi cho nhau và để sửa lỗi.
Luật đó có từ lúc nào? Có từ đời đức Phật.
Cứ sau ba tháng an
cư, Phật lại họp tăng chúng để "tự tứ", nghĩa là để sửa lỗi
cho nhau và cùng sám hối lỗi.
Phật trải tọa cụ ngồi
giữa khoảng đất trống, tỷ kheo ngồi chung quanh. Phật hỏi
tăng chúng : « Hôm nay tôi tự tứ: Tôi có lỗi với ai không?
Thân, miệng, ư của tôi có phạm lỗi ǵ không?"
Phật hỏi ba lần như
vậy. Đă ai thấy một vị giáo chủ của một tôn giáo nào có tư
tưởng, hành động và tập quán như vậy chưa? Lănh đạo mà cư xử
như thế, thế gian cũng không thấy.
Từ đó suy ra: Dân chủ
là lănh đạo không phải chỉ thường xuyên biết nghe ư kiến của
dân, mà c̣n tổ chức, thành lập, áp dụng định chế để dân chỉ
lỗi, sửa lỗi. Phát triển ư đó, thiếu ǵ biện pháp để thực
hiện dân chủ!
"Vua đừng chống lại ư
của dân" - ấy mới là dân chủ
Tôi lại kể thêm
chuyện đức Phật. Trong "Mười bổn phận của vua" mà Ngài
khuyên, điều thứ 8 nguyên văn như sau: "Kiên nhẫn, biết tha
lỗi, khoan dung, hiểu biết. Vua phải có khả năng chịu đựng
những thử thách, những khó khăn, và những lời nhục mạ mà
không giận".
Nhục mạ mà c̣n không
giận, huống hồ chỉ là phê b́nh, chỉ trích! Chỉ là phê b́nh,
chỉ trích xây dựng!
Điều thứ 10 nói tiếp
theo: "Không chống lại, không làm bế tắc. Nghĩa là vua không
được chống lại ư muốn của dân, không ngăn cản một biện pháp
nào có lợi cho hạnh phúc của dân chúng. Nói một cách khác,
vua phải ḥa hợp với dân". Đó là nguyên văn điều 10.
Từ đó mà suy ra, cũng
không thiếu ǵ biện pháp để cụ thể hóa lời khuyên "đừng
chống lại ư muốn của dân". Chỉ chừng đó thôi, chừng đó thôi,
quá đủ để thực hiện dân chủ mà không cần phải vay mượn lư
thuyết của ai, dưới áp lực của ai, từ chân trời nào khác.
Tinh hoa của đạo Phật
là chống giáo điều
Nhưng muốn nói thêm
nữa th́ tôi kể thêm. Lúc nhập diệt, Phật không chỉ định ai
để thay thế Ngài thống lĩnh tăng chúng. Ngài nói: "Sau khi
ta nhập diệt, hăy lấy Pháp và Luật làm Thầy". Pháp là lời
Phật dạy.
Giới luật là đạo đức
và luật áp dụng trong đời sống của tăng ni. Ai nghiên cứu
giới luật của Phật giáo đều ngạc nhiên về tính cách dân chủ
trong đó.
Ở đây, tôi chỉ muốn
nhấn mạnh một điểm này thôi: lấy Pháp và Giới Luật làm thầy
nghĩa là ǵ? Nghĩa là bản thân của lănh đạo cũng chịu ở dưới
Pháp và dưới Luật như tất cả mọi người. Ngôn ngữ ngày nay
gọi đó là "Nhà nước pháp quyền", điều kiện tất yếu của dân
chủ.
Tôi nói thêm nữa.
Tinh hoa của đạo Phật là ǵ? Là chống giáo điều. Tinh hoa ấy
toát ra từ mỗi lời dạy của đức Phật.
Bài kinh Kalama chẳng
hạn đă làm thế giới kinh ngạc về tư tưởng chống giáo điều,
chống việc tin mà không hiểu. Phật dạy: Đừng tin bất cứ ai,
bất cứ điều ǵ mà tự ḿnh không hiểu rơ. Thậm chí Phật c̣n
dạy một vị tăng phải quan sát, xem xét chính Ngài thật kỹ
cho đến khi nào hoàn toàn được thuyết phục. Hiểu cho rơ rồi
mới tin.
Cho đến phút cuối,
trước khi nhập diệt, Phật c̣n khuyến khích đệ tử hỏi những
chỗ nào chưa hiểu rơ trong giáo lư của Ngài để Ngài giảng
lại lần cuối. Không ai hỏi, Ngài thúc: "Nếu v́ kính trọng ta
mà không ai tự ḿnh đặt câu hỏi, cứ nhờ người khác hỏi thế
cho".
Cái ǵ chứa đựng
trong những câu nói đó? Không phải chỉ là tự do tư tưởng mà
c̣n là tư tưởng rốt ráo về tự do, tư duy rốt ráo về tự do:
Đó là tự do căn bản, tự do nằm trong tinh túy của mọi nền
dân chủ. Không thể có dân chủ nếu ta bị bắt buộc phải nghe
mà không tin, nghe những điều mà ta thấy là không đúng, là
trái với sự thực trước mắt. Cũng không thể có dân chủ nếu ta
buộc người khác không được nói.
Đức Phật căn dặn
trước khi nhập diệt: "Hăy đặt câu hỏi!". Đặt câu hỏi, tức là
thúc dục người khác nói. Và người khác dám nói là v́ ta biết
nghe. Nghe và nói trong tinh thần đó tức là khoan dung, và
cả thế giới đều xưng tụng tinh túy khoan dung trong giáo lư
của Phật. Tinh thần khoan dung đó, văn hóa khoan dung đó,
vua A Dục ngày xưa đă cho khắc vào trụ đá vá áp dụng triệt
để.
Vua A Dục là Phật tử
thuần khiết, vậy mà dưới triều đại A Dục, mọi tôn giáo đều
được tôn trọng trong vương quốc rộng lớn của vua. Ông không
tuyên truyền. Ông không nhồi sọ. Đức Phật không bao giờ
phán. Bất cứ ai đến chất vấn, Ngài đều dùng đối thoại để
thuyết phục. Phật là ông thầy giảng bài một cách khoa học.
Chừng mực, vừa phải
cũng là căn bản của đạo Phật
Tôi lại xin nói thêm
nữa, và đây cũng là căn bản của đạo Phật. Giáo lư của đức
Phật dạy sự chừng mực, vừa phải. Mà vừa phải, chừng mực, là
căn bản của dân chủ. Bất cứ sự thái quá nào đều làm hỏng dân
chủ.
Tự do thái quá th́
hỗn loạn. Tập trung quyền lực thái quá th́ chuyên chế. Dân
chủ là tránh cả hai thái cực, và tránh như thế nào là tùy óc
sáng tạo của mỗi dân tộc. Dân tộc ta có văn hóa Phật giáo,
văn hóa ấy phản ánh h́nh ảnh của đức Phật trước giờ chứng
ngộ.
Phật từ bỏ lối tu ép
xác, nhận bát sữa cúng dường của cô gái chăn cừu, xuống sông
tắm, rồi lên ngồi dưới cây bồ đề. Bát sữa đă giúp Ngài tĩnh
tọa cho đến khi Ngài chứng ngộ chân lư. Sau này, có lần Phật
nói với một người đang đói hăy đi ăn cho hết đói rồi Ngài
mới giảng cho.
Trong lư thuyết, cũng
như trong tu tập, đạo Phật không bao giờ cực đoan, trung đạo
là con đường Phật dạy do chính kinh nghiệm chứng ngộ của
Ngài. Trung đạo của Phật giáo, đó cũng chính là nền tảng của
dân chủ.
3. Phật giáo Việt Nam
lớn mạnh
Chúng ta đang lớn
mạnh, không phải chỉ v́ số chùa chiền được xây nhiều, xây to
hơn. Nếu như vậy mà lớn, th́ đó là lớn vỏ, lớn xác, không
lớn cái hồn. Chúng ta đang lớn, kể cả phần hồn, và khí thế
ngày hôm nay chứng minh sự xác quyết đó.
Phật Giáo chúng ta
lớn trong xă hội nào? Không phải trong xă hội chính trị mà
ta không ham. Chúng ta lớn trong xă hội dân sự. Xă hội chính
trị là xă hội quyền lực. Xă hội dân sự là xă hội của dân
gian.
Phật giáo không làm
chính trị và không bao giờ muốn dính dáng đến chính trị với
nghĩa quyền lực. Phật giáo chỉ muốn sống với dân. Giữa xă
hội chính trị và xă hội dân sự, đường phân chia rạch ṛi hay
không là tùy theo chế độ chính trị của mỗi nước.
Ở nước ta, đường phân
chia đó không rạch ṛi, nhưng chắc chắn càng ngày càng sẽ rạch
ṛi hơn. Mặt Trận Tổ Quốc *MTTQ) chẳng hạn là cơ quan của xă
hội chính trị, nhưng có trách nhiệm quan hệ với xă hội dân sự.
Ở đây, chúng ta không đề cập đến vấn đề trọng đại này.
Ở đây, chúng ta chỉ
muốn nói: Dù có MTTQ hay không, Phật giáo chỉ có một con đường
duy nhất thôi là trung thành với Nhà nước Việt Nam, phụng sự
dân chúng. Có hay không có MTTQ, nhiệm vụ của Phật giáo bao
giờ cũng vẫn thế: Phát triển văn hóa dân tộc, chấn hưng đạo
đức, làm nhẹ nỗi khổ của cô quả, nghèo đói, bệnh tật.
Thế nào là văn hóa
dân tộc? Thế nào là đạo đức dân tộc ? Để cho các nhà học giả
thông thái tranh luận với nhau, chúng ta chỉ cần nói với họ
thế này: điều ǵ mà chỉ cần bật ra một tiếng là dân gian hiểu
ngay và nhận ra ngay rằng đó là tư tưởng của chính ḿnh, dù
là người dân ít học nhất, điều ấy nằm trong văn hóa của dân
tộc, đạo đức của dân tộc.
Điều ǵ vậy? Một ví dụ
thôi: Ba chữ tham sân si. Nói ra, ai cũng hiểu, ai cũng nhận,
ai cũng nghĩ là chân lư. Lúc trước, tôi có nhắc đến bài kinh
"Ngọn lửa". Lửa ǵ đang đốt cháy thế giới ? Lửa chiến tranh,
lửa hận thù, lửa bạo lực, lửa cuồng tín, lửa tiêu thụ chủ
nghĩa. Dân ta nói gọn : lửa tham sân si. Là v́ tư tưởng ấy của
Phật giáo đă thấm sâu vào đầu của dân ! Cái ǵ cắt nghĩa
tham nhũng, cái ǵ cắt nghĩa t́nh trạng giàu nghèo chênh lệch
tàn bạo hiện nay, cái ǵ cắt nghĩa những cản trở trong phát
triển? Dân ta nói gọn: Tham Sân Si.
Vậy th́ Phật giáo làm
ǵ? Đời đời kiếp kiếp làm mỗi cái chuyện dẹp lửa ấy mà thôi.
Dẹp lửa ấy trong ḷng chính ḿnh. Dẹp lửa ấy trong ṿng nội
bộ. Dẹp lửa ấy trong ḷng xă hội.
Chúng ta làm công việc ấy càng độc lập càng tốt. Chính quyền
càng nên ủng hộ chúng tôi độc lập. Bởi v́ chúng tôi không có
tham vọng chính trị. Bởi v́ chúng tôi không nhận lệnh từ một
thánh địa quyền lực nào.
Độc lập, chúng tôi sẽ giải quyết được những mâu thuẫn nội bộ.
Can thiệp, lửa tham sân si từ bên ngoài càng bén vào mâu
thuẫn giữa chúng tôi, không có lợi cho chính quyền, cũng
không có lợi cho xă hội. Chúng tôi tốt th́ chính quyền tốt,
xă hội tốt. Chúng tôi xấu th́ cả đất nước này sẽ mất phần
hồn.
Trong Phật giáo có một tín ngưỡng cũng đă thấm vào ngôn ngữ
và tư tưởng của dân gian: tin có hộ pháp. Hộ pháp bảo vệ cho
chùa. Hộ pháp bảo vệ cho chánh pháp. Hộ pháp bảo vệ cho
những nơi chốn linh thiêng.
Đứng trong xă hội dân sự, Phật giáo là hộ pháp của Nhà nước
để Nhà nước thực sự xứng đáng là Nhà nước của dân. Trong
lịch sử đă thế, ngày nay lại càng phải thế. Một nhà lănh đạo
có tầm cỡ lớn sẽ không nh́n Phật giáo như bất cứ đoàn thể
quần chúng nào.
Phật giáo không phải là một đoàn thể, lại càng không phải là
một phong trào. Phật giáo là hộ pháp của Nhà nước, một Nhà
nước hết ḷng lo cho dân. Phật giáo làm nhiệm vụ mà B́nh Ngô
Đại Cáo đặt ngay nơi câu đầu tiên: Nhiệm vụ an dân, "việc
nhân nghĩa cốt ở an dân". "Quốc thái dân an" là nhiệm vụ của
Phật giáo từ những bước đầu của lịch sử.
Hôm nay, chúng ta đi trong ánh nến từ Diệu Đế đến Từ Đàm là
để nhắc nhở cho tất cả và cho chính chúng ta nhiệm vụ thiêng
liêng đó. Chúng ta là hộ pháp. Chúng ta phải hiểu chúng ta
là như thế để đừng làm nhục vai tṛ đó của tổ tiên.
Và như vậy, chúng ta, hôm nay, hăy cùng với chính quyền, tay
trong tay, ăn mừng "Ngày Phật Đản của LHQ 2008".
Nguồn: http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/3809/index.aspx |