|
Nhạc, Nhà Thờ và Thánh Giá
Hà Giang
Một
người bạn tôi nói một câu xanh dờn rằng “Nhà thờ Đức Bà là
biểu tượng của Sài G̣n”. Ngạc nhiên trước nhận xét này của
một người bạn vốn hoàn toàn ngoại đạo; tôi ṭ ṃ hỏi tại sao
anh nói như thế, th́ anh cho biết đă đi đến nhận xét đó do
mới xem qua DVD ca nhạc mới nhất của bầu sô Thúy Nga “Paris
by Night” số 91 có tựa đề Huế – Sài G̣n – Hà Nội.
Xem xong
sô nhạc này tôi không ngạc nhiên khi anh bạn có nhận xét “vô
tư” như thế. Sô nhạc tạp lục theo kiểu caberet hoành tráng
được tổ chức trong một nhà hát lớn ở Long Beach (nam
California) quy tụ nhiều ca sĩ trẻ trong và ngoài nước. Tạm
thời bỏ qua phần nội dung nhạc, hai điểm đáng chú ư nhất
trong sô nhạc có lẽ là h́nh tượng của 3 miền được đạo diễn
gửi gắm và những màn tuyên truyền mang tính cách xuyên tạc
được lồng vào như là một màn giáo dục về sử chính trị.
Khởi đầu
là những đoàn người từ miền Bắc và Hà Nội di dân về miền
Trung với điểm nhấn là thành phố Huế, và xuôi miền Nam với
điểm chính là Sài G̣n. Ở mỗi vùng người ta lồng vào một vài
cảnh quan hay di tích tiêu biểu. Nhưng thay v́ sử dụng những
cảnh hay di tích tiêu biểu cho thành phố Hà Nội (như Chùa
Một Cột, Hồ Gươm), Huế (như Chùa Thiên Mụ, Sông Hương) và
Sài G̣n (như Chợ Bến Thành, Chùa Vĩnh Nghiêm, Chùa Ấn Quang),
đạo diễn lại nhấn mạnh đến nhà thờ và thánh giá! Thật vậy,
xuyên suốt sô nhạc, cường độ xuất hiện của nhà thờ và thánh
giá càng ngày lúc càng gia tăng cho đến đỉnh điểm cuối cùng
là Sài G̣n nơi mà khán giả chỉ thấy Nhà Thờ Đức Bà và thánh
giá làm phông nền cho các bản nhạc cuối.
Thật ra,
cũng không khó giải thích tại sao các sô nhạc của Thúy Nga (và
cả Asia nữa) chúng ta thường thấy nhiều thánh giá và nhà thờ.
Ai cũng biết bầu sô Thúy Nga là người ngoan đạo công giáo.
Người dẫn chương tŕnh Nguyễn Ngọc Ngạn cũng là người ngoan
đạo. Là người ngoan đạo không có ǵ cản trở họ bày tỏ tín
ngưỡng của ḿnh. Sô nhạc do họ bỏ tiền dàn dựng, tại sao
không nhồi nhét vào đó biểu tượng mà họ cho là đẹp đẽ? Nh́n
dưới góc độ này chúng ta hoàn toàn có thể hiểu được tại sao
nhà thờ và thánh giá được sử dụng làm phông nền của sô nhạc.
Nhưng
việc sử dụng nhà thờ và thánh giá như thế có phải với dụng ư
nhắn gửi cho khán giá biết rằng Việt Nam là một nước theo
đạo công giáo? Nếu thế th́ tôi nghĩ đạo diễn đă quá sai lầm,
bởi một lư do đơn giản là đa số người Việt Nam không theo
đạo công giáo, và dĩ nhiên chưa bao giờ người dân công nhận
rằng Nhà Thờ Đức Bà là biểu tượng của Sài G̣n, kể cả những
người không theo đạo Phật. Theo
thống kê
mới nhất th́ nước ta có 5,7 triệu giáo dân, chiếm khoảng 7%
tổng dân số. Ngoại trừ thời Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Văn
Thiệu đạo công giáo được chính quyền thời đó cố nâng lên
thành quốc giáo, công giáo chưa bao giờ được coi là quốc
giáo ở nước ta. Phần lớn người dân hoặc là theo đạo thờ cúng
ông bà hoặc là đạo Phật. Thật ra, đôi khi cũng khó phân biệt
giữa Phật giáo và đạo thờ cúng ông bà, bởi v́ trong thực tế
đạo Phật đă ḥa nhập vào đời sống người dân trên một ngàn
năm nay. Do đó, nếu hỏi một người thường dân theo đạo ǵ,
xác suất 50% họ sẽ nói theo đạo thờ cúng ông bà, nhưng kỳ
thực họ có thể là người theo đạo Phật v́ tục lệ thờ cúng và
ma chay đều theo giáo luật của đạo Phật.
Do đó,
tôi cho rằng việc sử dụng quá nhiều h́nh ảnh nhà thờ và
thánh giá trong sô nhạc là một sự tuyên truyền tôn giáo mang
tích áp đặt. Áp đặt là v́ khán giả (đại đa số không phải là
con chiên) đến xem và nghe nhạc, chứ không phải đến để nh́n
nhà thờ và thánh giá, nhưng Thúy Nga đă lợi dụng cơ hội và
gieo vào họ một ấn tượng [rất sai lầm] rằng nhà thờ và thánh
giá là biểu tượng của Sài G̣n.
Điểm thứ
hai nổi bật trong sô nhạc của Thúy Nga là tuyên truyền. Nhân
biến cố Tết Mậu Thân 1968 ở Huế, Thúy Nga cũng tham gia tṛ
tưởng niệm “nạn nhân cộng sản”. Về tṛ này Thúy Nga bắt
chước nhóm bầu sô Asia, nhưng Thúy Nga thông minh hơn và
tinh vi hơn Asia ở chỗ họ không dùng những từ ngữ chính trị
để chỉ tay ai là thủ phạm. Có lẽ họ biết rằng đây là vấn đề
lịch sử chưa có câu trả lời dứt khoát. Người dẫn chương
tŕnh (Nguyễn Ngọc Ngạn) không chỉ tay tố cáo ai, nhưng ông
khôn ngoan mượn con chiên Nguyễn Lư Tưởng làm việc đó. Trong
vai một “nhân chứng” ông Tưởng tố cáo cộng sản là thủ phạm
của vụ tàn sát trong biến cố Tết Mậu Thân ở Huế.
Có thể
nói vụ Tết Mậu Thân 1968 ở Huế là một thành công tuyệt vời
của tuyên truyền và trường hợp cổ điển cho sách giáo khoa về
tuyên truyền. Bắt đầu vời một số nạn nhân bị giết chết, các
chuyên gia tuyên truyền Mỹ nhân lên thành hàng trăm, hàng
ngàn, và hàng chục ngàn người bị tàn sát. Thật ra, không ai
biết có bao nhiêu nạn nhân chết trong vụ Tết Mậu Thân 1968 ở
Huế, tất cả chỉ là những con số được sản xuất bởi một chuyên
gia t́nh báo và tuyên truyền của Mỹ, đó là
Douglas Pike.
Kết thúc bài phân tích về cái mà tác giả gọi là “huyền thoại
Tết Mậu Thân”, Gareth Porter viết (tôi tạm dịch): “Thấu
hiểu những kỹ thuật bóp méo thông tin và xuyên tạc mà giới
tuyên truyền Sài G̣n và Mỹ thường áp dụng để thực hiện một
cuộc chiến tranh chính trị từ thảm trạng Huế là một điều
quan trọng ngày nay cũng như rất quan trọng trong thời quân
đội Mỹ c̣n có mặt ở Việt Nam trong thời chiến. Màn kịch giả
tạo về vụ Tết Mâu Thân ở Huế được dựng nên chỉ là một cách
chống chế của chính phủ Mỹ để tránh đương đầu với sự thật
về bản chất của cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam”.
Với
truyền thống bắt chước không cần suy nghĩ và phóng đại, các
chuyên gia tuyên truyền của Việt Nam Cộng Ḥa cũng phóng bút
viết theo Pike. Tiêu biểu cho những “sáng tác” loại này là
bút kư tuyên truyền của Nhă Ca. Bà đă thành công gieo vào dư
luận tội ác của cộng sản trong biến cố Mậu Thân, và đặc biệt
là chỉ thẳng tay vào nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường như là một
tội đồ. Nhưng trong thực tế th́ Hoàng Phủ Ngọc Tường chẳng
dính dáng ǵ đến biến cố này ngoài việc ông là người đọc lời
hiệu triệu. Dù Hoàng Phủ Ngọc Tường đă nhiều lần đính chính
và có người làm chứng, nhưng người ta vẫn cho rằng ông là
thủ phạm đằng sau vụ Tết Mậu Thân 1968 ở Huế! Hoặc như có
nhân chứng sống là Nguyễn Đắc Xuân, sau ngày 30-4-1975 đă
gặp trực tiếp Nhă Ca tại Sài g̣n, và trong bài viết của ḿnh
Nguyễn Đắc Xuân đă nói thẳng là Nhă Ca chỉ dựng chuyện trong
“Dải khăn xô cho Huế”, và từ đó không hề thấy Nhă Ca đính
chính. Người ta có thói quen chỉ tin những ǵ họ muốn tin,
và bỏ ngoài tai cũng như tự bịt mắt trước những bằng chứng
khách quan. Cái gọi là “bằng chứng” của Nguyễn Lư Tưởng do
đó cần phải được hiểu trong bối cảnh này.
Người ta
có thể dựng chuyện để nói mà không biết ngượng và cũng chẳng
cần suy nghĩ. Đó cũng chính là một điểm thấp của người Việt
nói chung. Đă có nhiều quan ṭa ở nước ngoài không đánh giá
cao những “bằng chứng” của người Việt. Người Việt thay đổi
bằng chứng cứ như là thay đen thành trắng và ngược lại đến
nỗi bồi thẩm đoàn phải than là bằng chứng của người Việt
không đáng tin cậy. Họ nói dối nhiều quá. Họ nói dối không
biết ngượng.
Biến cố
Tết Mậu Thân 1968 ở Huế là một sự thật lịch sử không ai chối
căi. Nhưng những con số về nạn nhân và thủ phạm vẫn c̣n là
một câu hỏi cần nhiều nghiên cứu hơn để có câu trả lời xác
đáng. Câu hỏi đó không thể được trả lời bằng những bút kư
tuyên truyền của Nhă Ca hay những phát biểu của con chiên
Nguyễn Lư Tưởng, bởi đơn giản một điều là chúng ta không thể
tin vào những con chiên làm chính trị.
Có thể
nói không ngoa rằng nhạc hải ngoại đang dần dần đi vào bế
tắc. Phần lớn các chương tŕnh của Thúy Nga và Asia chỉ là
những tṛ hát nhép, những kiểu nhảy múa hở hang sexy, những
hoạt cảnh vô duyên, những trao đổi của những người gọi là
“MC” như bị ám ảnh về sex, hay mâu thuẫn giữa đàn ông và đàn
bà, v.v… Nói tóm lại là những sô nhạc thiếu tính sáng tạo và
phi nghệ thuật. Thỉnh thoảng họ chêm vào vài sô tuyên truyền,
xuyên tạc chính trị để hấp dẫn một số khán giả già nua vẫn
nặng ḷng thù hận với chính quyền trong nước. Họ biết những
ǵ họ tuyên truyền là sai, nhưng đó không phải là vấn đề;
vấn đề là họ nói những ǵ mà những người cực đoan muốn nghe,
và do đó chúng ta không ngạc nhiên khi thấy có những cái vỗ
tay trước những câu nói rất vô duyên và đổi trắng thành đen.
Các
chương tŕnh ca nhạc chỉ loay hoay với những bài hát xa xưa
của các tác giả tâm lư chiến như Lam Phương. Những bài hát
đó vẫn thu hút được một số khán giá có tuổi, những người
từng gắn liền với cuộc chiến, có nhiều hoài niệm về quá khứ
oai hùng hay thê thảm, nhưng không thể nào hấp dẫn được giới
trẻ ngày nay. Có lần người viết bài này hỏi một nhóm bạn trẻ
trong nước nghĩ ǵ về những sáng tác của các nhạc sĩ miền
Nam trước 1975 như Lam Phương, Duy Khánh, Nhật Trường … th́
ngạc nhiên thay họ nói đó là những bài quá “sến”. Có bạn nói
thẳng là họ nghe không nổi những bản nhạc than thân trách
phận và ủ ê đó. Không ngạc nhiên khi thấy các đĩa nhạc DVD
của Thúy Nga rất ít được giới trẻ chú ư. Có người chú ư
không phải v́ thưởng thức mà v́ ṭ ṃ “xem họ làm tṛ ǵ”
hay “có cô nào bốc không”. Sự thật là ở Việt Nam người ta ṭ
ṃ xem các đĩa DVD của Thúy Nga hay Asia không phải v́ nhạc
mà muốn xem h́nh dáng của ca sĩ. Người ta không bàn đến
những ca khúc biết-rồi-khổ-quá-ca-măi mà bàn đến đặc điểm
trên cơ thể của cô ca sĩ karaoke dạo này cao thấp hay nhô ra
hay được sửa ra sao, ăn mặc hở hang như thế nào, tức là
những khía cạnh thuộc rửa mắt chứ chẳng dính dáng ǵ đến
nghệ thuật. Và nếu như thế th́ những sản phẩm nghệ thuật này
xứng đáng được xếp vào sản phẩm hạng ba!
Nhận
thức được những yếu điểm trên, gần đây đă có vài nhóm bầu sô
nỗ lực thay đổi h́nh thức sáng tạo hơn. Tiêu biểu cho các
nhóm “đổi mới” này có lẽ là Rainbow Entertainment, Gia Huy,
Loan Châu. Họ cố gắng quay cảnh ở trong nước, t́m ca sĩ
trong nước tŕnh diễn những bài ca trẻ trung, mới ở trong
nước, và tránh chuyện tuyên truyền chính trị. Riêng nhóm Vân
Sơn th́ c̣n sáng tạo hơn là “đem chuông đi đánh xứ người”
đến tận Cambốt, Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore, Phi Luật Tân,
v.v… Có thể nói các nhóm này đă dần dần tạo cho ḿnh một
hướng đi riêng rất đáng trân trọng. Nhưng các nhóm này có
thế yếu là cơ sở vật chất không dồi dào bằng các nhóm như
Thúy Nga hay Asia vốn có nguồn tài chính khá dồi dào. Họ
từng khoe rằng dám bỏ ra 27,000 USD để dàn dựng và làm sập
cây cầu Tràng Tiền trên sân khấu!
Cho dù
các nhóm bầu sô nhạc gốc công giáo có giỏi tuyên truyền cỡ
nào đi nữa, họ nên chấp nhận một thực tế là Nhà thờ Đức Bà
chưa bao giờ và không bao giờ là biểu tượng của Sài G̣n.
Từ Sài
g̣n
05-04-2008 |