|
TIẾNG VIỆT THỜI HÙNG
VƯƠNG
- HAY LÂU ĐÀI CẤT TỪ HƠI NƯỚC?
Trần Trọng Dương
Các bài liên
quan
Kỳ 1
Các giả thuyết “chồng trứng”
Ts Lê Mạnh Thát là một trong
những học giả lớn trong giới nghiên cứu Phật học ở Việt Nam
từ mấy chục năm trở lại đây. Việc đọc sách, mua sách của
ông nhiều khi đă trở thành lạc thú. Nh́n khối lượng công
việc và những kết quả mà ông đă thành tựu th́ không ai là
không cảm thấy nể phục và kính trọng. Gần đây, một loạt
những phát hiện về lịch sử và văn hoá dân tộc của Tiến sĩ
đă trở thành điểm nóng thu hút sự quan tâm của dư luận. Từ
những thức nhận sau khi đọc xong chương IV “Vấn đề
tiếng Việt thời Hùng Vương” trong cuốn “Lục độ tập
kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta” của Lê
Mạnh Thát (Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
2005), bài này được viết ra nhằm trao đổi với Ts
Lê Mạnh Thát về việc phục nguyên Tiếng Việt thời
Hùng Vương từ cách xác lập giả thuyết đến vấn đề
văn bản học.
1.
Về các giả thuyết
Để cho tiện theo dõi,
bài viết sẽ trình bày lại các bước giả thuyết của
Ts Lê Mạnh Thát trong việc “khôi phục lại diện mạo
của tiếng Việt” (chữ của LMT)
thời kì Hùng Vương. Cụ thể như sau:
Giả thuyết bước 1:
Ts Lê Mạnh Thát cho rằng có thể đã có hệ thống văn
tự ghi lại tiếng Việt thời Hùng Vương qua sự tồn
tại của Việt luật. Sở dĩ ông đưa ra giả
thuyết như vậy là vì sách Hậu Hán thư có một
đoạn chép rằng sau khi Mă Viện diệt xong Trưng Trắc,
Trưng Nhị bèn “điều tấu Việt Luật (so) với Hán luật
sai khác hơn 10 việc”[1].
Ông đi đến nhận định rằng: “Việc tồn tại Việt luật
vào những năm 40 - 43 sdl như vậy buộc ta phải giả
thiết nước ta vào thời điểm đó đã phát triển tới
một mức độ chính xác nhất định đáp ứng được yêu
cầu diễn đạt đúng đắn những khái niệm và quy định
luật pháp và đã có một hệ thống chữ viết tương
đối hoàn chỉnh (TTD nhấn mạnh) để ghi chép các quy
định ấy thành một văn bản pháp quy.” [tr.187]
Giả thuyết bước 2:
(trên cơ sở giả thuyết 1): Ts
LMT
cho rằng hệ thống chữ viết của người Việt thời Hùng
Vương đă có khả năng ghi lại Việt luật th́ cũng có
nghĩa là nó đủ sức để thực hiện dịch thuật kinh Phật từ
tiếng Phạn sang tiếng Việt. Tiến sĩ viết: “Một là có
khả năng thầy Khương Tăng Hội đã dùng một nguyên bản
Phạn văn để dạy cho Hội bằng tiếng Việt. Hội đã ghi
chép lại những lời dạy bằng tiếng Việt ấy... để
sau này khi có dịp, do nhu cầu truyền giáo ở Trung
Quốc, Hội cho dịch ra tiếng Trung Quốc. Hai là thầy
Hội đã dùng một bản Cựu tạp thí dụ kinh
tiếng Việt dạy cho Hội và đây là một khả năng có
tính hiện thực nhất” (TTD nhấn mạnh) [sdd.
tr.189]. Và từ “kết luận (TTD nhấn mạnh) về
việc tồn tại của một nguyên bản Cựu Tạp thí dụ
kinh bằng tiếng Việt” [tr.190].
Giả thuyết bước 3:
(trên cơ sở 2 giả thuyết trên): ông cho rằng có khả
năng người Việt thời Hùng Vương đã dịch kinh Phật từ
tiếng Việt sang tiếng Hán. Ông viết: “Nếu Cựu Tạp
thí dụ kinh tiếng Trung Quốc hiện nay do Khương
Tăng Hội dịch từ một nguyên bản tiếng Việt thì cũng
có khả năng Hội đã dịch Lục độ tập kinh
tiếng Trung Quốc hiện nay từ một nguyên bản Lục
độ tập kinh tiếng Việt như thế. Và khả năng này
trở thành một hiện thực khá rõ nét (TTD nhấn
mạnh) khi ta đi sâu vào việc nghiên cứu chính Lục
độ tập kinh” [tr.191-192]. Luận cứ mà ông đưa ra
là “quá trình cải biên đã được tiến hành một cách
có hệ thống và triệt để nhằm tạo cho các truyện
kể và giáo lý Phật giáo mang bộ mặt Việt Nam”
[tr.192]. Ví dụ: cải biến 100 mảnh thịt thành 100
trứng[2]...
2. Thảo luận về các
giả thuyết
Lý luận rằng thời Hùng
Vương đã có Việt luật thì có thể tồn tại hệ thống
chữ viết hoàn chỉnh, giả thuyết này có thể chấp
nhận được với tư cách là một giả thuyết để từ đó
ta có ý thức tìm kiếm văn bản trong quá trình khai
quật. Vì đến cả văn bản Việt luật hay Hán luật giờ
đều đã mất. Tư liệu là mảng trắng.
Giả thuyết thứ hai cho
rằng kinh Phật đã được dịch từ tiếng Phạn sang
tiếng Việt, gải thuyết này cũng có thể chấp nhận
được. Nhưng nó cũng yếu như giả thuyết trước. Vì tư
liệu cũng không còn gì.
Giả thuyết thứ ba cho
rằng đã có một đợt dịch kinh Phật từ tiếng Việt
sang tiếng Hán. Giả thuyết này là yếu nhất, vì nó
chỉ đứng được khi chúng ta đáp ứng được 3 yêu cầu:
thứ nhất phải có nguyên bản tiếng Việt để chuyển
dịch, và văn bản đó hiện còn; thứ 2 phải có văn
bản dịch bằng tiếng Hán (điều kiện này thì luôn
luôn đáp ứng đủ); thứ 3 Có các văn bản tiếng Việt
khác cùng thời (ví dụ văn bản Việt luật hoặc các
văn bản Kinh Phật bằng tiếng Việt khác). Chỉ khi đáp
ứng được cả ba yêu cầu này thì chúng ta mới có cơ
sở để khảo sát và so sánh ngôn ngữ được. Tiếc rằng
điều kiện quan trọng nhất chúng ta cũng không có trên
tay: văn bản tiếng Việt thời Hùng Vương.
Chừng nào chưa t́m thấy,
chưa khai quật được những văn bản như vậy (Trung Quốc gọi
là “xuất thổ văn hiến”) th́ các giả thuyết trên
chỉ có giá trị như là ... giả thuyết. V́ chúng ta không có
ǵ để nghiên cứu cả. Tất cả hệ thống tư liệu về ngôn
ngữ và chữ viết thời Hùng Vương là một dải băng
tần trắng xóa. Dĩ nhiên, việc nghiên cứu văn tự không
thể lấy một chút tư liệu gì từ mảng truyền thuyết,
thần thoại, hay huyền sử được mà hoàn toàn nương
cậy vào những kết quả của giới khảo cổ. Chính vì
thế, chúng ta thấy khâm phục và tin tưởng vào những
thành quả mà Giáo sư Hà Văn Tấn đã chiu chắt suốt
cả cuộc đời để đi tìm những con chữ trên đá trên
đồng, trên từng con dấu và cột kinh[3]!
Nhân đây, tác giả bài viết
cũng muốn nhắc đến một số văn bản văn xuôi tiếng
Việt được ghi bằng chữ Nôm cổ nhất còn lại cho đến
nay[4]
đều chỉ được khắc in vào thế kỷ XVII-XVIII như
Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh[5]
(1730), hay Tân biên truyền kì mạn lục tăng bổ giải
âm tập chú[6]
(1714). Ngay đến cả mấy bài phú Nôm đời Trần (sáng
tác tk XIII) thì văn bản cũng khắc in lại ở thế kỉ
XVIII. Và các nhà ngữ học như Hoàng Xuân Hãn[7]...
phải chứng minh niên đại sáng tác của tác phẩm qua hệ
thống từ cổ, hệ thống chữ Nôm và ngữ âm của tiếng
Việt vào giai đoạn Lí Trần.
Mặt khác, chúng tôi tự
đặt ra câu hỏi: tại sao lại có sự trùng khít “ḱ lạ” giữa
Việt luật và Hán luật? Tại sao hai bộ luật: một là của thời
Hùng Vương, một là của nhà Hán lại chỉ khác nhau có hơn 10
điều? Hay là Hán luật bắt chước Việt luật?
Các điều luật giống nhau như thế nào, cụ thể là những điều
khoản ǵ? Khác nhau ra sao? Chúng tôi đă lần theo Tứ khố
toàn thư
[8]
th́ thấy có gần 20 bộ sử (như Thông chí, Quảng Tây
thông chí, Thiểm Tây thông chí, Quảng Đông
thông chí, Ngọc Hải, Thái B́nh ngự lăm…)
có đề cập đến Việt luật. Các bộ sau này đều là chép/ trích
dẫn lại nguyên văn của Hậu Hán thư (dĩ nhiên câu chữ
có đôi chỗ xuất nhập). Nội dung chỉ vỏn vẹn có như vậy (xem
chú 1)! Như thế, về bộ Việt luật chúng ta chỉ
có mỗi cái tên (mà tên là bằng chữ Hán, tiếng
Hán), còn nội dung của nó cụ thể ra sao, nó được
viết bằng thứ tiếng gì, bằng thứ văn tự gì thì
không biết.
Dĩ nhiên, việc xây dựng
giả thuyết là quyền của mọi nhà khoa học, và tất
cả những người có tinh thần dân tộc đều “hi vọng”
giả thuyết của Ts Lê Mạnh Thát là sự thực. Vấn đề
đáng nói ở đây là các giả thuyết sau chỉ có thể
đứng vững được nếu giả thuyết trước đã trở thành
sự thực hoặc đã được chứng minh là đúng, tiếc thay
tất cả các giả thuyết trước đều chỉ là... giả
thuyết! Nếu ông chỉ dừng lại ở việc đưa ra các giả
thuyết thì sẽ không có vấn đề gì để nói. Nhưng, từ
những giả thuyết theo kiểu “chồng trứng” như
trên, Ts LMT đã thực hiện một thao tác trước nay chưa
từng biết đến: ĐI TÌM DIỆN MẠO TIẾNG VIỆT THỜI
HÙNG VƯƠNG QUA “LỤC ĐỘ TẬP KINH” - MỘT BẢN HÁN VĂN.
Còn cụ thể ông đã tìm thấy những gì, và tìm thấy
như thế nào, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể ở các
bài bài sau. Dù sao chúng tôi vẫn muốn nói: giá như
chúng ta khai quật được một mảnh văn bản Việt luật...
giá như chúng ta có một văn bản dịch Kinh Phật
bằng tiếng Việt thời Hùng Vương trong tay. Giá như...
giá như......!!! Và, dù sao đi nữa, chúng tôi cũng vẫn
rất trân trọng Ts Lê Mạnh Thát vì ông đã cố gắng xây
dựng lại dáng hình của lâu đài tiếng Việt - tiếng
mẹ đẻ của chúng ta qua những hơi nước bốc lên từ
“bể đời” mênh mông.
Kỳ 2
Thao tác “Việt hóa” tiếng Hán cổ
Tiếp theo những phản biện
về những giả thuyết kiểu “chồng trứng” của Ts
LMT
đă đăng ở ḱ trước, chúng tôi có một số câu hỏi:
Tại sao cứ nhất quyết
Khương Tăng Hội dịch Lục độ tập kinh từ một bản tiếng
Việt thời Hùng Vương mà không dịch thẳng từ tiếng Phạn
sang tiếng Hán?
Phải chăng Khương Tăng Hội
không biết tiếng Phạn?
Hay là ông cũng có biết
tiếng Phạn, nhưng để “Việt hoá”, Khương Tăng Hội chỉ dùng
bản tiếng Việt mà thôi? Nếu quả đúng như thế thật th́ chúng
ta có thể khẳng định rằng ý định “Việt hoá ” ngôn từ kinh
kệ tiếng Hán đă tồn tại từ gần 2000 năm trước cho đến tận
bây giờ!
Ts
LMT
viết: “Ấn tượng “văn từ điển nhă” bắt nguồn từ việc
Khương Tăng Hội đă sử dụng bản đáy Lục độ tập kinh
tiếng Việt với một hệ thống văn từ Phật giáo đă được Việt
hoá (TTD nhấn mạnh) mang sắc thái văn hoá Viễn Đông,
để dịch ra bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc”
[2001. Tổng tập văn học Phật giáo Việt
Nam.
Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.
T1, tr.395]. Và bây giờ là những “văn từ điển nhã”
mà Ts Lê Mạnh Thát đã phục dựng lại. Chúng tôi muốn
nhắc đến trường hợp cấu trúc trung tâm ngữ- định
ngữ (trung – định).
1. Sự
nghiên cứu của Ts
LMT
Ts
LMT
viết: “Chúng ta phát hiện ra một sự kiện hết sức
lạ lùng, nhưng rất quan trọng và có nhiều ý nghĩa
đối với không những lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà
còn lịch sử văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam. Sự kiện
đó là trong một số câu của Lục độ tập kinh,
Khương Tăng Hội đã không viết đúng theo ngữ pháp Trung
Quốc, mà lại theo ngữ pháp Việt Nam” [T1, tr.400]. Đó
là các chữ trung cung, trung tâm, trung
đình, thần thụ... Ông lập luận: “Theo ngữ pháp
tiếng Trung Quốc thì chữ trung luôn luôn đứng
sau danh từ hay đại từ mà nó chỉ nơi chốn. Điều này
hoàn toàn ngược với ngữ pháp tiếng Việt. Cho nên,
khi viết trung tâm, trung cung, trung đình với
nghĩa “trong lòng”, “trong cung”, “trong sân”, Khương Tăng
Hội rõ ràng đã sử dụng ngữ pháp tiếng Việt, chứ
không phải ngữ pháp tiếng Trung Quốc. Nếu viết theo
ngữ pháp tiếng Trung Quốc, thì trung tâm, trung
cung, trung đình phải đổi lại thành cung trung,
tâm trung, đình trung.” [T1, tr.401-402]
Ông có nhắc đến một đặc
điểm của Hán ngữ cổ đại: “Vị trí chữ trung
như một giới từ chỉ nơi chốn đến thế kỉ thứ II sdl
như vậy được qui định là ở sau danh từ hay đại từ
nó chỉ định.” [tr.403] Còn trước đó, kết cấu này
của tiếng Hán cổ đại (từ tk I về trước đến đời
Thương Chu) cũng giống y hệt như tiếng Việt hiện đại
ngày nay: trung – định. Ông thống kê rằng: “từ
thế kỷ thứ I sdl về sau cho đến thời Khương Tăng Hội,
trong khoảng 300 năm, cụm từ trung tâm chỉ được
sử dụng 3 lần; trong khi đó Lục độ thập kinh 8
lần xuất hiện cấu trúc trung tâm [tr.409].
“Vậy, sự có mặt của những cấu trúc trung tâm
này xác nhận một cách không chối cãi (TTD
nhấn mạnh) ảnh hưởng của ngữ pháp tiếng Việt đối
với bản dịch Lục độ tập kinh” [tr.410].
2. Phản biện
Phản biện 1:
trung cung, trung tâm, trung đ́nh là những
từ song tiết (có nghĩa). Từ pháp của chúng đều là
theo cấu trúc phụ-chính. Trung lúc này nghĩa
là “ở giữa, ở bên trong” (= inside adj), nghĩa đen là
“cung ở chính giữa”, “tim ở trong ngực”, “cái sân giữa.” Các
từ này được ghi nhận trong từ điển Từ nguyên
[1997. Thương vụ ấn thư quán. Bắc Kinh] như sau:
“Trung cung: 1.Nơi ở
của hoàng hậu, để phân biệt hai cung Đông và cung Tây,
cho nên thường dùng từ này để gọi thay cho hoàng
hậu...2.Chỉ vùng trời nơi sao Bắc cực ở.” [tr.0047.2]
Nên câu “王及夫人。自然還在本國中宮正殿上坐。如前不異。Vương
cập phu nhân, tự nhiên hoàn tại bản quốc trung cung
chính điện thượng tọa, như tiền bất dị” trong truyện
13 tờ 7c13 nên dịch là “vua và phu nhân tự nhiên ngồi
ở trung cung (cung chính giữa) nước mình, ngồi
trên chính điện như trước, không hề khác.” chứ không
dịch là “ngồi trên chính điện trong cung”[tr.583].
Câu “爾王
者之子生於榮樂長於中宮Nhĩ vương
giả chi tử, sinh ư vinh lạc, trưởng ư trung cung...” nên
dịch là “nàng là con vua, sinh ra trong vui sướng, lớn
lên ở nơi cung cấm.” Chỉ có chữ “ư” là
giới từ, chữ cung trung là từ song tiết như chữ
“vinh lạc” ở câu trên.
“Trung tâm: 1.Nội
tâm/ cõi lòng. Tim ở trong ngực, cho nên gọi trung
tâm. Bài Hữu phu chi đỗ phần Đường phong
trong Kinh thi có câu: ‘trung tâm hiếu chi’; 2.
Chính giữa của sự vật...’” [Từ Nguyên:
tr.0045.4]. Cho nên, từ “trung tâm” trong các câu
“trung tâm sảng nhiên”, “trung tâm hoan hỉ”, “trung tâm
đát cụ”...đều dịch lần lượt theo nghĩa là “cõi
lòng nhẹ nhõm/ hoan hỉ/ sợ hãi...” cả.
Vậy, Ts Lê Mạnh Thát sơ
suất đến mức không biết rằng đây là những từ Hán
song tiết? Câu trả lời rằng: ông biết! Nhưng ông có
“mục đích luận” của ông: “dù biết trung cung
và trung đình trong tiếng Trung Quốc là những
danh từ ghép chỉ những sự vật cụ thể, chúng tôi
vẫn tách riêng chúng ra, coi chúng có cấu trúc tiếng
Việt kiểu cụm từ trung tâm và hiểu theo nghĩa
tiếng Việt.” Phải chăng, đây chính là “thao tác Việt
hóa” của ông!? Đọc dăm ba từ theo “kiểu Việt” trong
một văn bản tiếng Hán cổ có độ dài lên đến 79.607
lượt chữ như thế liệu có thuyết phục được không?
Thêm nữa, với sự ghi nhận
của từ điển, các từ trung cung, trung tâm, trung đ́nh
thuộc về vốn từ vựng cơ bản của tiếng Hán suốt từ thời cổ
đại cho đến ngày nay. Theo thống kê của Ts Lê Mạnh Thát, từ
trung cung xuất hiện 2 lần, trung tâm xuất
hiện 8 lần, trung đ́nh xuất hiện 1 lần trong Lục
độ tập kinh. C̣n chúng tôi thống kê được rằng, trong
Tứ khố toàn thư, chữ trung cung xuất hiện 5000
lần trong 2942 quyển, trung tâm xuất hiện 9441 lần
trong 6094 quyển, trung đ́nh xuất hiện 4093 lần trong
2853 quyển. Đến đây, chúng tôi không dám b́nh luận ǵ thêm
cả, hăy để các con số tṛ chuyện với nhau vậy!
Phản biện 2:
Về từ Thần thụ (thọ)
Chúng tôi tạm chấp nhận với
Ts LMT rằng từ “Thần
thụ” có lẽ mới là từ được đặt theo kết cấu trung -
định. Thần thụ nghĩa là “thần cây” chứ không phải
cây thần. Ông dẫn chứng rằng chữ này c̣n xuất hiện trong cả
Cựu tạp thí dụ kinh [tr.414]. Ngoài ra, ông c̣n dẫn
thêm một số trường hợp khác như thuỷ vũ là “nước
mưa”, tượng Phật, bệ thăng thiên là “bệ lên
trời”, ngoại dă là “ngoài cánh đồng.” Ông coi đây như
là chứng tích của sự “Việt hoá” ngữ pháp trong văn bản này.
Trước hết, về chữ thần
thụ theo cấu trúc trung-định, chúng tôi thống kê
được rằng chữ này xuất hiện 243 lần trong 185 quyển ở Tứ
khố toàn thư. Tạm có thể nhận định rằng: kết cấu Thần
thụ là một hiện tượng ngữ pháp không phải chỉ xuất hiện
trong hai văn bản mà Ts LMT
đang nghiên cứu (2 so với 243).
Thực ra, vấn đề kết cấu
trung - định không lạ lẫm ǵ đối với giới nghiên cứu Hán
ngữ cổ đại. Năm 1956, Dương Bá Tuấn trong Văn pháp văn
ngôn đă đề xuất khái niệm “định ngữ hậu trí” (định ngữ
đặt sau trung tâm ngữ) trong tiếng Hán cổ. Vấn đề này
quan trọng đến nỗi, năm 1979, Trung Quốc đă đưa vào
chương tŕnh học tập cho học sinh trung học (TTD
nhấn mạnh) [theo Mai Quang Trạch. 2004. Thiển đàm
AB giả kết cấu định ngữ hậu trí. trong “Nhạc Sơn Sư phạm
Học viện Học báo”, số 8, tr.18-20]. Mai Quang Trạch cho
rằng: trong lịch sử c̣n có một giai đoạn mà cả hai h́nh thái
trung- định, định – trung cùng song song tồn
tại. Bài viết, sách vở nghiên cứu về vấn đề này th́ nhiều
không kể xiết, các tác giả như Mantaro Hashimoto
(1980), Trần Địch Minh (1981), Tào Văn An (1982), Kinh Quư
Sinh (2001), C.Goddard (2005)... đã nghiên cứu cho thấy:
kết cấu trung định trong Hán cổ là sản phẩm của quá
tŕnh tiếp xúc với các ngôn ngữ có họ hàng với nó, như các
ngôn ngữ thuộc các ngữ tộc Tạng - Miến, Miêu - Dao, Đồng -
Thái (chuyển dẫn theo NTC).
V́ thế có thế nói, cái “ sự
kiện lạ lùng” mà Ts LMT
phát hiện ra kia thực ra cũng chỉ là “lạ với ḿnh mà quen
với người” mà thôi. Việc ông phát hiện ra một hiện tượng ngữ
pháp của tiếng Việt hiện đại (TTD nhấn mạnh)
trong bản Hán văn Lục độ tập kinh (vào Tk II sdl)
là sai lầm không những về văn bản học, mà c̣n về phương
pháp khoa học. Ông đă đem những cái “phi đồng đại” ở những
không gian địa lư khác nhau so sánh và đồng quy. Nói đơn
giản hơn: ông dùng cái tư duy tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt hiện
đại) để t́m kiếm một số ít hiện tương tương đồng trong một
văn bản Hán văn cổ, sau đó đưa ra 2 chủ ư: 1.Bản Hán văn bị
ảnh hưởng của tiếng Việt; 2. Tiếng Việt thời Hùng Vương
không có thay đổi ǵ so với tiếng Việt hiện nay ở kết cấu
trung - định. Đến đây, chúng tôi mới hiểu vì sao
những phát hiện “chấn động” của Ts Lê Mạnh Thát đến
giờ mới được dư luận chú ý; còn các nhà chuyên môn
(ngữ học) thì vẫn cứ tiếp tục công việc của mình
một cách thầm lặng và ưu tư.
Kỳ
3
Biến “văn Hán” thành “thơ thời Hùng Vương”
Ở kì 2,
chúng tôi đã đề cập đến thao tác của Ts Lê Mạnh
Thát, đó là việc ông “Việt hóa” tiếng Hán cổ theo
tinh thần “mục đích luận”; đó là tinh thần “vị
chủng”, “Việt nguyên”. Chúng tôi đã chứng minh rằng
từ cung trung, trung tâm,...là
từ vựng cơ bản
của tiếng Hán cổ, và chúng xuất hiện với tần số
cực cao (5000 và 9441 lần) trong Tứ khố toàn thư.
Chúng tôi cũng đã cung cấp thông tin việc cấu trúc
trung – định trong tiếng Hán cổ như kiểu thần
thụ đã được đưa vào dạy cho học sinh trung học ở
Trung Quốc từ năm 1979. Trong bài viết này, chúng tôi
sẽ đi tiếp vào phát hiện “chấn động” của Ts LMT. Đó
là việc ông phục dựng lại một bài “thơ thời Hùng
Vương” qua văn bản Hán văn Lục độ tập kinh.
Liệu có hay không sự tồn tại của một bài thơ Việt
thời Hùng Vương trong văn bản được viết bằng chữ Hán
cách đây gần 2000 năm?
1.
Sự nghiên cứu
của Ts LMT
Ông viết:
“Ngoài ra, truyện 14, mà chúng tôi sẽ bàn kỹ ở dưới đây, khi
tả diện mạo lăo phạm chí, đă viết: “Tỉ chính biển hổ, thân
thể liêu lệ, diện sô thần đả, ngôn ngữ khiểng ngật”. Trong
đó nếu ta coi những chữ “tỉ”, “diện”, “thần” như những tá âm
tiếng Việt của chữ Trung Quốc tức đọc "mũi", "mặt",
"môi", th́ bốn câu vừa phiên âm có thể là một bài thơ
tiếng Việt cổ:
Mũi chính
vểnh vẹo,
Thân thể rệu
rạo
(rẹo),
Mặt xô môi
dày,
Ngôn ngữ
ngọng nghịu
Tất cả những
chữ “vểnh vẹo”, “xô”, “dầy”, “ngọng nghịu”, chúng tôi
hầu như phiên âm lại những chữ viết của Khương Tăng
Hội. Và chúng có thể là những chữ quốc âm
(TTD nhấn mạnh) đầu tiên hiện còn ghi lại. Chữ “xô”
đây là xô xảm. Chữ “dày” đúng ra là phải phiên
“đày”... .[Lê Mạnh
Thát. 2001. Tổng tập văn học phật giáo Việt Nam.
nxb Thành phố Hồ Chí Minh. tr.435]
Ông kết luận:
“Qua những phân tích trên, ta thấy Lục độ tập kinh
chứa đựng một số tàn dư (TTD nhấn mạnh) của ngữ
vựng, ngữ pháp và cú pháp tiếng Việt. Sự tồn tại của những
tàn dư nầy đưa ta đến những kết luận nào? Thứ nhất, như trên
đă nói, Khương Tăng Hội sinh ra, lớn lên và được đào tạo
thành tài tại đất nước ta, cho nên khi tiến hành phiên dịch
và trước tác, dứt khoát không thể nào không chịu ảnh hưởng
của tiếng Việt về cả ba mặt ngữ vựng, cú pháp và ngữ
pháp...Thứ hai: đó là có khả năng Khương Tăng Hội đã
sử dụng một nguyên bản Lục độ tập kinh tiếng
Việt để dịch ra bản Lục độ tập kinh tiếng
Trung Quốc” [tr. 421-422]
2. Phản biện
về phiên âm
Nguyên văn đoạn
tiếng Hán như sau: “鼻正匾虒。身體繚戾。面皺脣[多頁][9]。言語蹇吃。”
Điều mà tôi lấy làm lạ nhất là trong một đoạn có
16 chữ, lại có 4 chỗ sai phiên âm. Cụ thể đó là các
chữ sau:
2.1. Chữ
鼻tị
(nghĩa là mũi) bị đọc thành tỉ. Chữ này
không thể đổ lỗi cho chế bản được, vì đây là chữ
quá ư thông dụng, cũng không thể đổ lỗi là tác giả
kém chữ nghĩa được, vì chúng ta đều biết ông là
người rất uyên thâm về ngôn ngữ, nhất là tiếng Hán .
Lỗi không thuộc về ai cả. Chỉ có việc phiên sai là
tồn tại một cách có hệ thống và khá nhất quán[10].
2.2. Chữ
虒
bị đọc
nhầm thành hổ. Vì đúng là có chữ
“hổ
虎” nằm
ở trong. Từ điển
Từ
nguyên
chú
âm là“虒:息移切
tức di thiết, bình
thanh”
[tr.1494.1],
Trùng tu ngọc thiên chú: “思移切tư
di thiết”. Sách Ngự định Khang Hi tự điển
(Q.26) ghi: “虒Đường
vận:
息移切tức di thiết.
Tập vận:
相枝切tương chi thiết.”
Như thế, chữ này phải đọc là
“tì”.
2.3. Chữ
皺 bị đọc là sô.
Sách Trùng tu ngọc thiên, Trùng tu quảng vận
đều ghi: “側救切trắc
cứu thiết”. Cổ văn tứ thanh vận ghi: “籀韻trứu
vận”. Như vậy chữ này có âm Hán Việt là “trứu”.
2.4. Chữ
蹇bị đọc
nhầm thành “khiểng”. Từ nguyên chú âm: “九輦切cửu
liễn thiết, thượng” [tr.1633.2]. Ngự định Khang Hi
tự điển ghi: “Đường vận:
居偃切cư yển
thiết. Tập Vận vận hội:
紀偃切kỉ yển
thiết.” Tự điển Hán Việt của Trần Văn Chánh
ghi âm “kiển” [tr.919]. Như vậy, chữ này đọc là
“kiển”.
3. Phản biện
về khái niệm tá âm
Ts LMT cho rằng
các chữ ““tị”, “diện”, “thần” là những tá âm tiếng
Việt của chữ trung Quốc”. Ý ông là chữ “tị” mượn âm
từ chữ “mũi”, chữ “diện” mượn âm từ “mặt”, chữ
“thần” mượn âm từ “môi.” Như thế, ông hình dung những
từ trong văn bản Hán văn Lục độ tập kinh là
vay mượn (tá) âm đọc từ tiếng Việt (mà khái niệm
“tiếng Việt” lại đánh đồng về lịch đại. Tiếng Việt
nào?).
Quả đúng là Ts
LMT tỏ ra không chuyên về vấn đề khái niệm. Ai cũng
biết “tá âm[11]”
là “vay mượn âm” (như chữ tá điền). Và sự vay
mượn bao giờ cũng để lại những “chứng tích” về âm
giữa các yếu tố từ vựng của hai ngôn ngữ. Và ở
đây, chúng ta hãy đi tìm sự tương ứng hay gần gũi
giữa các cặp âm tị – mũi, diện – mặt , thần – môi
như ông
Rokuro Kono đã làm với tiếng
Nhật[12]!
Nếu kết quả này của Ts LMT được các học giả thế
giới công nhận thì tiếng Hán trong Lục độ tập
kinh là phương ngôn của tiếng Việt thời Hùng
Vương.
Ts LMT cũng lấy
được đôi ba trường hợp có cùng vị trí cấu âm. Ví
dụ: âm môi: biển – vểnh; âm đầu lưỡi:
liêu lệ – rệu rạo. Nhưng những liên hệ âm
đọc này chỉ là bề mặt. Muốn đọc được âm của thời
Hùng Vương chúng ta phải thực hiện những quy trình
tái lập ngữ âm (TTD nhấn mạnh) rất phức
tạp, chứ không nên đơn giản hóa và bắc cầu giữa các
hiện tượng tồn tại cách nhau 2000 năm. Nói cụ thể
hơn là chữ “rệu rạo”, “ngọng nghịu” đều là từ vựng
được đọc theo âm tiếng Việt hiện đại. Còn nếu tái
lập âm đọc chữ “rệu rạo/ rẹo” cho tiếng Việt quãng
thế kỉ XV thì phải là “kleo klao” (tạm ví dụ một
cách cụ thể và thô phác như thế). Giống như cái
việc mà ông Nguyễn Bạt Tụy ngày xưa tái lập câu
“tìm mai theo đạp bóng trăng” của Nguyễn Trãi thành
“xìm môi seo tạp boóng blăng” vậy (còn tái lập lên
đến tận thời Hùng Vương thì ...). Mặt khác, chữ
“rệu rạo” đến tận cuối thế kỳ XIX vẫn chưa thấy
được ghi nhận trong từ điển [ví dụ Huình Tịnh Của,
Génibrel].
Ấy là chưa kể
đến mấy chữ không đọc đúng theo âm Hán Việt như đã
nêu trên. Liệu chữ “vẹo” có liên quan gì đến âm “tì”
(kể cả âm “hổ”)? Hay “xô” với “trứu”? Hay “ngọng” với
“kiển” (/kiểng)? Hay “nghịu” với âm “ngật”? Thế mà,
Ts Lê Mạnh Thát đã khẳng định “Chữ ngọng nghịu,
rệu rạo và vặn vẹo thì quá rõ ràng,
khỏi phải bàn cãi” [tr.435]
Chúng tôi cũng
không thấy ông đề cập đến hai trường hợp từ Hán
Việt là “thân thể” và “ngôn ngữ.” Có lẽ, cứ theo
tinh thần lập luận của ông thì hai từ này cũng mượn
từ tiếng Việt thời Hùng vương, rồi được kí âm bằng
các chữ “身體”,
“言語”.
Tiếc là chữ viết thời Hùng Vương đến nay không còn
dấu vết gì, chỉ có người Hán là may mắn giữ lại
được.
Đến đây, chúng
tôi tạm đưa ra vài câu hỏi để tự mình tìm hiểu:
Nếu cứ coi đây
là một bài thơ Việt, thì tại sao người Việt thời
Hùng Vương lại không dùng văn tự của chính mình để
ghi lại chuỗi ngôn từ của tiếng Việt?
Mà lại dùng
chữ Hán để ghi?
Bốn câu thơ mà
Ts LMT phục dựng trên đây liệu có thể đọc theo “cách
Việt” trong một văn bản văn xuôi tiếng Hán “điển nhã”
dài đến 79.607 lượt chữ?
Chúng ta đã bao
giờ thấy việc sử dụng những chữ cực khó (như匾,
虒,皺,
[多頁],,
蹇) của
tiếng Hán cổ để ghi âm lại tiếng Việt bao giờ chưa?
Bởi đã dùng chữ Hán để ghi âm tiếng Việt thì ắt
phải dùng những chữ thông dụng để mọi người cùng
đọc được.
Chúng tôi cho
rằng đoạn trên vẫn là những “ngôn từ điển nhã” của
văn ngôn tiếng Hán cổ. Chúng tôi xin dịch lại như sau:
3. Phiên dịch
lại đoạn văn
Nguyên văn “鼻正匾虒。身體繚戾。面皺脣[多頁][13]。言語蹇吃。”
Chú thích chữ nghĩa
(loại trừ những chữ dễ):
Về chữ
匾
biển:“薄也。《方言》:物
之薄
者曰匾[匸+虒]。《玉篇》:匾.
匾[匸+虒].
《廣韻》,匾。匾[匸+虒],薄也.”[Lâm
Doãn & Cao Minh (chủ biên).
Trung văn đại từ điển.
(Q.37). Trung Quốc văn hóa nghiên cứu sở ấn hành & Hoa
Cương văn hóa thư cục. tr 1956][14].
Chữ [
匸+虒]
được ghi nhận trong từ điển này bao gồm bộ hạp
(匸)
bao ở ngoài và chữ tì (虒)
nằm ở trong bộ hạp. Do ít gặp, nên chữ này
chưa được đưa vào trong bất cứ bộ gõ chữ nào. Chúng
tôi đành phải mô tả cấu trúc hình thể lại như vậy.
Theo Chính tự thông[15]
chữ [
匸+虒]
(hạp + tì)
còn có một tục tự nữa là [匸+
虎] (hạp +
hổ). Nhưng vị trí này trong văn bản được viết
bởi chữ tì虒,
như chúng tôi đã đề cập đến ở phần “2.Phản biện âm
đọc”. Chúng tôi tạm đưa ra giả thuyết như sau: trong
văn bản này, chữ tì[16]
虒là chữ giả tá
của chữ [
匸+虒],
chúng có giá trị ngữ âm như nhau, có ngữ nghĩa như
nhau khi đi với từ biển; vì hai chữ này hợp
lại thành một từ song tiết. Vậy chữ
[
匸+虒]
có âm đọc là gì? Trung văn đại từ điển cũng
ghi: “廣韻》:土奚切。《集韻》:天黎切,音梯。”
(Quảng vận: thổ hề thiết. Tập vận:
thiên lê thiết, âm thê).
Như vậy, chữ
[
匸+虒]
đọc là THÊ. Đến đây chúng tôi phiên âm, dịch nghĩa
lại đoạn trên trong Trung văn đại từ điển:
Biển: “bạc dã. Phương ngôn: vật chi bạc giả
viết BIỂN THÊ. Ngọc thiên: biển, biển thê.
Quảng vận: biển, biển thê, bạc dã.” Dịch nghĩa:
“Biển: nghĩa là mỏng. Sách Phương ngôn viết:
vật gì mà mỏng dẹt thì nói là BIỂN THÊ. Sách
Ngọc thiên viết: biển, tức BIỂN THÊ, nghĩa là
mỏng). Tiểu kết: hai chữ
匾
[匸+虒]
đọc là BIỂN THÊ nghĩa là “mỏng dẹt”. Câu “tị chính
biển thê” nên dịch là “mũi thẳng và dẹt”. Rõ ràng
là đặc điểm nhân chủng của vị phạm chí này không
phải là người Việt. Như thế, Khương Tăng Hội dịch
khá sát về ngữ nghĩa. Tiếc rằng, chúng tôi không
biết tiếng Phạn để đối chiếu và kiểm chứng.
Về chữ “Liêu lệ”.
Trung văn đại từ điển ghi: “Liêu lệ
繚戾: chỉ cái dáng
nước chảy uốn éo (khuất khúc
屈曲)” [sđd, Q 26,
tr.11308]. Đặt trong cả câu thì chữ này nên dịch như
thế nào? “Thân thể liêu lệ” là lời của một chàng
trai khi chê bai hình dáng của phạm chí ở huyện Cưu
Lưu. Dĩ nhiên, không thể dịch một cách thô thiển là:
thân thể uốn éo được. Chúng tôi tạm đưa ra hai giả
thuyết để xử lý: nhứ nhất, chữ liêu lệ không
chỉ dùng để chỉ dáng quanh co, uốn lượn của dòng
nước chảy qua khe mà còn còn được dùng để chỉ dáng
người. Thứ 2, từ liêu lệ chỉ có nghĩa “uốn
éo” như trên, nhưng trong văn cảnh này, tác giả/ người
dịch (người chuyển ngữ) đã dùng ngôn từ theo hướng
văn học. Nếu dịch câu này theo đúng nghĩa từ điển
và cho dễ hiểu hơn thì nên “tân dịch” (dịch từ Hán
cổ sang tiếng Hán trung đại) là “thân thể khuất
khúc”. Khuất khúc nghĩa là “bất trực” (không
thẳng). Chúng tôi tạm đưa ra 2 cách dịch sau: 1. Thân
hình khúc khuỷu (Ý tả hình dáng gầy gò, chân tay
cong và teo tóp); 2. Thân thể còng queo. Với cả hai
cách dịch trên, câu văn trở nên hợp nghĩa hơn với cả
đoạn văn miêu tả một vị phạm chí tóc bạc, da mồi.
Về chữ trứu
皺 (Ts
LMT
đọc nhầm là sô
芻). Chữ trứu
gồm bộ bì
皮để
trỏ trường nghĩa (liên quan đến da) và âm sô
芻(Sô芻được
dùng làm thanh phù để tạo nên các chữ khác, một
số chữ có âm đọc là sô như雛鶵犓蒭,
và một đôi chữ có âm đọc là trứu
皺縐謅). Từ nguyên
ghi: “Trứu: chỉ mặt có nếp nhăn, vật gì mà có
nếp vết cũng đều dùng chữ trứu
cả.”[tr.1184.4]。Đỗ
Phủ
杜甫trong bài《病后过王倚饮赠歌》viết:"肉黄皮皺命如线。"
(nhục hoàng bì
trứu mệnh như tuyến) nghĩa là: thịt vàng, da nhăn,
mệnh đã mỏng như cái sợi. Ts Lê Mạnh Thát không dịch
mà phiên âm thành “xô”.
Về chữ
[多頁]
(chữ này không
có trong các bộ gõ, nên chúng tôi tam mô tả như sau:
chữ đa ở bên trái, bộ hiệt ở bên phải).
Trung văn đại từ điển ghi: “[多頁]《廣韻》:
丁可切。《集韻》:典可切,音嚲,
上聲。醜貌” [tr.16076]. (Sách
Quảng vận ghi: đinh khả thiết. Sách Tập vận
ghi: điển khả thiết, âm ĐẢ, nghĩa là vẻ xấu xí.)
Chữ này cũng rất
ít xuất hiện đến mức các từ điển thông thường không
ghi nhận. Như vậy câu: “diện trứu thần đả” dịch là:
mặt nhăn nhúm, môi xấu xí.
Về chữ kiển ngật
蹇吃. Sách Trung
văn đại từ điển ghi: “《一切經音義,
引通俗文》:
言不通利,謂之蹇吃”
nghĩa là “ Sách Nhất thiết kinh âm nghĩa có
dẫn sách Thông tục văn rằng: lời nói không lưu
loát, thì gọi là Kiển ngật”. Như vậy, Kiển
ngật nghĩa là: lắp bắp, lúng búng (hoặc cũng
có thể dịch là ngọng nghịu như Ts LMT,
nhưng chữ này chỉ dùng cho trẻ em đang ở độ tuổi
nói chưa sõi). Như vậy câu: “ngôn ngữ kiển ngật” nên
dịch là “ăn nói lắp bắp”.
Bây giờ, chúng ta thử
đặt các câu dịch trên trong toàn bộ đoạn văn xem như
thế nào: “Mặt mày đen đúa, mũi cao và dẹt, thân
hình còng queo, mặt nhăn môi xấu, ăn nói lắp bắp, hai
mắt thì xanh, dạng hình như quỷ... ”. Đây là đoạn văn
chữ Hán hoàn toàn. Tuy nhiên, hình thức bốn chữ của
cổ văn khiến cho Ts LMT
giải quyết theo hướng “thơ hóa”. Như thế, Ts Lê Mạnh
Thát đã biến
một đoạn
“văn Hán”
trong một văn bản Hán văn cổ kính và “điển nhã”
thành “thơ
tiếng Việt
thời Hùng Vương”.
Để kết thúc bài viết, chúng tôi xin trích lại một
đoạn lập luận của Ts
LMT: “Ấn tượng “văn từ
điển nhã” ấy có được là do khi dịch Lục độ tập
kinh , Khương tăng Hội đã sử dụng một bản đáy
tiếng Việt, thay vì tiếng Phạn. Chính nhờ căn cứ
vào bản đáy Lục độ tập kinh tiếng Việt này,
Khương Tăng Hội mới có được một bản Lục độ tập
kinh tiếng Trung Quốc mang tính “văn từ điển nhã”
vừa thấy” [tr.394].
Chú thích
[1]
Nguyên văn:
條奏越律與漢律駮者十餘事. [Hậu
Hán Thư. Quyển 54]. Chữ “條奏điều
tấu” nên dịch
sang tiếng Việt là “theo từng điều một mà tâu lên
trên
逐条上奏” [罗竹风
主编.
《汉语大词典(全13卷)》。汉语大词典出版社1994。第01卷,
tr. 1482].
Chúng tôi xin trích dịch cả đoạn để làm tư liệu:
..."
援所过辄为郡县治城郭,穿渠灌溉,以利其民。條奏越律与汉律驳者十余事,与越人申明旧制以约束之,自后骆越奉行马将军故事。Cả
câu dịch là: "Mă Viện đi đến đâu cũng tu sửa thành quách,
đào mương máng tưới tiêu, để làm lợi cho dân.
Theo từng điều mà tấu tŕnh
về hơn chục chỗ trái nhau giữa Việt luật với Hán luật, giảng
giải cho người Việt rơ về phép tắc cũ để ước thúc họ, từ đó
người Lạc Việt phụng theo phép tắc cũ của Mă Tướng quân" [许嘉璐主编.《二十四史全译-后汉书-第2册
.
世纪出版集团-汉语大词典出版社2004,tr.657.]
[2]
Tuy nhiên, biểu tượng trứng là một mẫu số phổ quát
ở mọi nền văn hóa từ Celtes, Hy Lạp, Ai Cập,
Phénicien cho đến Tây Tạng, Ấn Độ, Việt Nam, Trung
Quốc, Nhật Bản. [Jean Chevalier & Alain Gheerbrant.1997.
Từ
điển biểu tượng văn hóa Thế giới.
(bản dịch do Phạm Vĩnh Cư chủ biên). Nxb Đà Nẵng &
Trường Viết Văn Nguyễn Du. H. tr.961-965.] Ông c̣n khẳng
định: “những đối tượng này chắc chắn không phải là
người Trung Quốc mà là người Việt Nam, người thuộc
một dân tộc tự nhận tổ tiên mình sinh ra từ một trăm
cái trứng, như Lĩnh Nam chích quái và Đại
Việt sử ký toàn thư đã ghi”[tr.194] Khốn nỗi, cả
hai văn bản này đều ra đời sau Lục độ tập kinh
đến cả hơn ngàn năm.
[3]
Hà Văn
Tấn. 2002. Chữ trên đá, chữ trên đồng- Minh văn và
lịch sử. Nxb. KHXH.212tr.
[4]
Theo những nghiên cứu về chữ Nôm tính đến
thời điểm viết bài.
[5]
Theo chứng minh của Hoàng Thị Ngọ thì
văn bản Phật thuyết... do Trịnh Quán đem khắc
lại vào trước năm 1730. Còn theo chứng minh của
Nguyễn Quang Hồng qua việc tái lập ngữ âm từ chứng
tích về chữ Nôm cổ thì tiếng Việt trong bản này
thuộc về thời Lý-Trần. “Cũng cần lưu ư đến những văn
bản chữ Nôm mặc dầu chưa xác minh được niên đại, song xét về
mặt ngôn ngữ được ghi chép bằng chữ Nôm trong đó, ta thấy
những dấu hiệu của một tiếng Việt cổ xưa, có thể là xưa hơn
cả các văn bản thời nhà Trần. Đó phải chăng là trường hợp
của văn bản giải âm (trực dịch từ Hán sang Nôm) trong sách
Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, trong đó
ngoài những chữ Nôm tự tạo, có hàng loạt từ ngữ tiếng Việt
được viết bằng hai chữ vuông Hán, phản ánh t́nh trạng cấu
trúc ngữ âm từ theo kiểu MiS+MaS (âm tiết phụ + âm tiết
chính) hoặc CCVC với tổ hợp phụ âm đầu khá đa dạng, như
破
散 "phá
tán" *păsanh / psănh > rắn)
破
了 "phá
liễu" *pălau / plău > sáu, "cư măng"
車
莽
* kămang /
kmăng > mắng , "cá nô"
个
奴
*kăno / kno
> no, v.v., là những ǵ đặc trưng cho tiếng Việt sơ
kỳ, có thể là vào thời nhà Lư, là thời kỳ đạo Phật rất thịnh
hành ở nước ta”. [Nguyễn Quang Hồng. 2004. Một số vấn đề
và khía cạnh nghiên cứu chữ Nôm. Trong Nghiên cứu chữ
Nôm. Viện NCHN & The Vietnamese Preservation Nom
Foundation (USA). Nxb KHXH.H.tr.32-33] .
[6]
Xin xem Nguyễn Quang Hồng phiên khảo, 2001. Tân biên
truyền Kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, Nxb.Khoa học
Xă hội, Hà Nội.
[7]
Hoàng Xuân Hăn. 1998. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần- Lê,
trong “La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hăn”. Nxb. Giáo dục. Hà
Nội.
[8]
Văn Uyên Các. Tứ Khố toàn thư. Thượng
Hải nhân dân xuất bản xă.
[9]
Chữ này
khó và ít xuất hiện đến mức không thấy
trong
bất cứ một bộ
phông tiếng Hán nào có mã chữ
này cả.
Các từ điển như
Từ điển Hán Việt
của Thiều Chửu, Từ
nguyên , hay Khang Hi tự điển đều không có
chữ này. Chúng tôi tạm ghép như trên và để trong
ngoặc kép.
[10]
Lê Mạnh
Thát. 2001. Tổng tập văn học phật giáo Việt Nam.
nxb Thành phố Hồ Chí Mi |