|
Lại một vụ ngụy tạo dữ liệu khoa
học và một “ngôi sao” Hàn Quốc rơi rụng
(Bài đă đăng
một phần trên
Vietnamnet)
Nguyễn Văn Tuấn
“Tôi
muốn trở thành một Hwang Woo-Suk thứ hai của Hàn Quốc”.
Đó là tuyên bố của giáo sư Kim Tae Kook trước báo chí và
công chúng sau khi ông công bố một công tŕnh nghiên cứu
quan trọng vào năm 2006. Giáo sư Hwang Woo-Suk, như chúng
ta biết, là người ngụy tạo dữ liệu trong công tŕnh nghiên
cứu tế bào mầm vào năm 2005 và sau đó bị cách chức. Ước
nguyện của Kim Tae Kook nay đă thành sự thật, v́ tuần vừa
qua ông bị phát giác là đă ngụy tạo dữ liệu và phân tích dữ
liệu trong hai công tŕnh công bố trên tập san Science
vào năm 2005 và Nature Chemical Biology vào năm
2006. Chỉ trong ṿng 2 năm, khoa học Hàn Quốc kinh qua hai
cú sốc làm tổn hại đến danh dự của giới khoa học nước này.
 |
 |
|
Hwang Woo-Suk |
Kim
Tae Kook |
Một
Hwang Woo-Suk thứ hai
Kim Tae Kook là giáo sư y sinh học tại Viện Khoa học và Công
nghệ Tiên tiến (Korea Advanced Institute of Science and
Technology hay KAIST), một trung tâm nghiên cứu khoa học số
1 của Hàn Quốc. Sự nghiệp khoa học của Kim Tae Kook có thể
nói là quá “hanh thông”: tốt nghiệp cử nhân (năm 1987) và
thạc sĩ (năm 1989) từ Đại học Quốc gia Seoul, tiến sĩ (1994)
từ Đại học Rockefeller (Mĩ) dưới sự hướng dẫn của giáo sư
Robert Roeder. Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ, Kim Tae Kook làm
nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ tại Cold Spring Harbor
Laboratory và Đại học Harvard từ 1994 đến 1997. Trở về Hàn
Quốc, chỉ vài năm sau ông được thăng chức giáo sư trong độ
tuổi 40 dù với một thành tích khoa học tương đối “mỏng”.
Ông là trưởng nhóm nghiên cứu với một sứ mệnh đầy tham vọng:
t́m cách kéo dài tuổi thọ cho con người. Trong một công
tŕnh công bố trên Science, một tập san khoa học hàng đầu
trên thế giới, ông và đồng nghiệp mô tả một phương pháp có
thể tiêu diệt các tế bào ung thư, các “tế bào xấu”, mà không
làm tổn hại đến các “tế bào tốt”. Công tŕnh nghiên cứu này
được các chuyên gia phản biện của Science đánh giá
rất cao, và xem là một sự đột phá trong chuyên ngành. Một
năm sau, Kim Tae Kook công bố một công tŕnh khác trên tập
san Nature Chemical Biology (kém danh giá hơn
Science) mà trong đó ông phát hiện rằng một “đồng hồ
sinh học” trong tế bào có thể chịu sự chi phối của một số
protein, và các protein này có thể nhận dạng qua phương pháp
ông mô tả trong bài báo trên Science. Với hai công
tŕnh nghiên cứu trên, ông được đánh giá là một ngôi sao
khoa học đang lên của Hàn Quốc, một người có thể đem lại
giải thưởng Nobel cho Hàn Quốc.
Lợi dụng thời thế, Kim Tae Kook đề nghị thành lập công ti để
chuyển giao công nghệ mà ông tin rằng sẽ rất hứa hẹn trong
tương lai. Công ti do một thành viên của khoa sinh học
thuộc KAIST là Yeonsoo Seo làm giám đốc. Nhưng sau nhiều
lần thử nghiệm, các thành viên của công ti không cách nào
lặp lại những kết quả của Kim. Khi Yeonsoo Seo gặp Kim Tae
Kook để xem xét lại hồ sơ thí nghiệm lúc trước để đảm bảo họ
làm đúng qui tŕnh, Kim Tae Kook không chịu (và không thể)
cung cấp số liệu gốc. Vài ngày sau, Kim Tae Kook rời Hàn
Quốc đi Mĩ mà không báo cho đồng nghiệp biết. Ngày
12/2/2008 công ti quyết định báo cáo vấn đề cho khoa trưởng
khoa sinh học của KAIST.
Thêm nữa, một trong những tác giả của hai bài báo và cũng là
nghiên cứu sinh của Kim Tae Kook bắt đầu nghi ngờ kết quả
công bố. Nghiên cứu sinh này không thể lặp lại kết quả mô
tả trong hai bài báo bằng phương pháp mà Kim Tae Kook mô tả.
Nghiên cứu sinh quyết định báo cáo cho trưởng khoa sinh học
giáo sư Lee Gyun Min biết vấn đề.
Khi có hai báo cáo, khoa trưởng giáo sư Lee Gyun Min lập tức
cho mở một cuộc điều tra nội bộ. Kết quả điều tra cho thấy
giáo sư Kim Tae Kook đă ngụy tạo dữ liệu và cố t́nh phân
tích dữ liệu sai để có kết quả theo ư của ḿnh! Hội đồng
điều tra, trong đó có cả giám đốc Yeonsoo Seo, kết luận rằng
cả hai công tŕnh nghiên cứu mà Kim Tae Kook công bố không
hàm chứa bất cứ một sự thật khoa học nào! (Nguyên văn: "our
initial investigative results are strong enough to convince
us that the two papers do not contain any scientific
truth.")
Sự nghiệp khoa học của giáo sư Kim Tae Kook có thể xem như
kết thúc. Ông trở thành một Hwang Woo-Suk thứ hai của Hàn
Quốc. Thế giới khoa học lại có thêm một trường hợp gian lận
đầy tai tiếng. Tập san Science danh tiếng lại một
lần nữa phải rút lại bài báo gian dối cũng từ một tác giả
Hàn Quốc.
Hệ quả
của áp lực và cạnh tranh
Mỗi khi một trường hợp gian lận trong khoa học xảy ra, giới
khoa học thường đặt câu hỏi “tại sao”, nhất là trong trường
hợp Kim Tae Kook khi mà câu chuyện Hwang Woo-Suk vẫn là một
vấn đề thời sự. Có người lí giải rằng vấn đề phát sinh từ
những áp lực quá lớn đến nhà khoa học phải có kết quả. Áp
lực đó đến từ phía chính phủ và từ viện nghiên cứu mà ông
làm việc.
Hàn Quốc không hài ḷng với một nền kinh tế lớn vào hàng thứ
11 trên thế giới, mà c̣n muốn trở thành một cường quốc về
khoa học và công nghệ. Do đó, chính phủ Hàn Quốc đă đầu tư
đến 2,6% GDP vào khoa học và giáo dục đại học (một ngân sách
gấp hai các nước Âu châu) để thu dụng những tài năng sáng
giá nhất nhằm đưa khoa học và công nghệ Hàn Quốc lên sánh
vai cùng các nước tiên tiến trên thế giới. Trong chiều
hướng đó, nhà đầu tư (tức chính phủ) đ̣i hỏi phải có “sản
phẩm” xứng đáng với đồng tiền họ bỏ ra, và điều này có nghĩa
là nhà khoa học chịu một áp lực rất lớn để làm cho ra sản
phẩm. Nhưng khoa học không thể là một ngành nghề hoạt động
theo kiểu “đi tắt đón đầu”, mà phải dần dần được xây dựng từ
những nền tảng vững chắc, một nền tảng mà phải nói thật là
Hàn Quốc chưa vững, ít ra là về mặt công nghệ y sinh học.
Bản thân giáo sư Kim Tae Kook dù mang hàm giáo sư nhưng
thành tích khoa học qua công bố quốc tế vẫn c̣n khá khiêm
tốn. Trong thời gian làm nghiên cứu sinh tiến sĩ và hậu
tiến sĩ ông công bố được 7 bài báo khoa học, và khi về Hàn
Quốc cũng chỉ công bố được khoảng 10 công tŕnh. (Cần nói
thêm rằng ở các đại học hàng đầu phương Tây, với một thành
tích như thế chỉ tương đương với giảng viên, chứ chưa thể là
giáo sư được). Tuy nhiên, ông có hai công tŕnh được công
bố trên các tập san hàng đầu như Science và Nature,
và đó cũng chính là “hành trang” khoa học đáng trân trọng.
Nhưng rất tiếc bài báo trên Science là một công tŕnh
giả tạo. Cũng như trường hợp của Hwang Woo-Suk, người ta
đang đặt dấu hỏi (và đang điều tra) về tính trung thực của
các công tŕnh c̣n lại của Kim Tae Kook.
Giáo sư Kim Tae Kook làm việc tại KAIST, một trung tâm khoa
học và công nghệ số 1 và một niềm tự hào của Hàn Quốc.
Nhưng trên trường quốc tế trung tâm này (được xem như là một
đại học) hiện mới đứng hàng 132 trong bảng xếp hạng của
Times Higher Education Supplement. Không hài
ḷng ở vị thế đó, ban giám đốc muốn đưa trung tâm lên một
tầm cao hơn trong tương lai. Một trong những biện pháp để
thực hiện giấc mơ đó là phải làm những nghiên cứu khoa học
có chất lượng cao, những nghiên cứu thời thượng hay mũi nhọn.
Do đó, không ngạc nhiên khi có cựu giáo sư từ KAIST mô tả
rằng áp lực đè nặng lên các nhà khoa học tại KAIST là “ngột
ngạt”. Những giáo sư không làm ra công tŕnh nghiên cứu
được “mời” nghỉ việc, y chang như hệ thống của các trung tâm
nghiên cứu hàng đầu ở phương Tây.
Trong môi trường ḱ vọng của chính phủ, áp lực từ trnng tâm
nghiên cứu, và khả năng có hạn của nhà khoa học, có người
phải gồng ḿnh hay liều ḿnh cho ra những sản phẩm tri thức
dỏm. Nhưng bản chất của khoa học là tính minh bạch và khả
năng lặp lại của kết quả nghiên cứu, và v́ thế, những công
tŕnh nghiên cứu dỏm, không sớm th́ muộn, chắc chắc sẽ bị
lật tẩy. Trong trường hợp của Kim Tae Kook, người phát hiện
sự gian lận của ông không ai khác hơn là đồng nghiệp của ông,
thậm chí chính nghiên cứu sinh của ông.
Chính v́ thế mà xu hướng chung trong nghiên cứu khoa học vài
thập niên gần đây là hợp tác liên ngành. Hợp tác liên ngành
chẳng những là một cách để t́m ư tưởng mới, mà c̣n là một
biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa hay phát hiện kịp thời những
gian lận. Ngày xưa, nghiên cứu khoa học thường được tiến
hành trong môi trường thiếu dân chủ, mà theo đó người sếp
(hay giáo sư) hưởng tất cả thành tích trong khi cộng sự viên
hay nghiên cứu sinh chỉ là những cái bóng hay thậm chí “nô
lệ khoa học”, và trong môi trường như thế giáo sư có toàn
quyền giả tạo số liệu mà nghiên cứu sinh không dám nói ǵ.
Nhưng ngày nay, đó là mô h́nh khoa học của quá khứ; tất cả
công sự viên tham gia công tŕnh nghiên cứu phải được ghi
nhận công trạng xứng đáng. Chính v́ tính dân chủ này mà
chúng ta biết rằng người thật sáng tạo ra con cừu Dolly
không phải là giáo sư Ian Wilmut như thế giới biết, mà là
một nhà khoa học trầm lặng, giáo sư Keith Campbell, và cộng
sự của ông. Đứng trước ṭa, Ian Wilmut khai thật là ông
không phải là tác giả của công tŕnh con cừu Dolly (nguyên
văn: "I did not create Dolly"), nhưng v́ là người đứng đầu
một nhóm nghiên cứu nên ông dành công trạng về phần ḿnh
trước báo chí!
Vấn đề
đạo đức khoa học
Trong khi công chúng Hàn Quốc phẫn nộ về sự việc, giới làm
khoa học chắc sẽ không ngạc nhiên chút nào, bởi v́ những
trường hợp như thế này đă, đang, và sẽ c̣n xảy ra. Thật
vậy, chỉ mới tuần qua (ngày 6/3/2008), một nhà khoa học từng
chiếm giải Nobel (Linda Buck) phải đành rút lại một bài báo
công bố trên tập san Nature vào năm 2001, sau khi nhóm
nghiên cứu của bà không cách nào lặp lại kết quả trong bài
báo. Bài báo này đă được trích dẫn 138 lần kể từ khi công
bố! Người chịu trách nhiệm chính trong công tŕnh nghiên cứu
này là Zhihua Zou (gốc Trung Quốc) th́ nhất định vẫn không
chịu nhận rằng đă ngụy tạo số liệu. Tuy nhiên, hội đồng
điều tra cũng đang xem xét lại những bài báo của Zou.
Hoạt động khoa học ngày nay là một lĩnh vực khá phức tạp với
nhiều cạnh tranh và sức ép lớn từ nhiều phía. Khác với các
lĩnh vực chuyên môn khác chịu dưới sự quản lí nghiêm ngặt
của Nhà nước, cho đến nay hoạt động khoa học vẫn được tự do
theo chiều hướng tự do tri thức và tự quản trị. Mô h́nh tự
quản trị này đă được duy tŕ từ hai thế kỉ qua, và trong
tương lai chắc sẽ khó có một thay đổi nào lớn.
Theo mô h́nh này, các sản phẩm tri thức từ nghiên cứu khoa
học phải được công bố trên các tập san chuyên ngành, và
trước khi công bố đều phải trải qua một quá tŕnh b́nh duyệt
và phản biện bởi các chuyên gia trong ngành. Khi phản biện
một công tŕnh khoa học, các chuyên gia không tiếp cận được
dữ liệu gốc của tác giả mà chỉ dựa vào các dữ liệu tŕnh bày
trong bài báo (thường là phân tích thống kê). Điều này có
nghĩa là các nhà khoa học đặt sự tin tưởng lẫn nhau rất lớn;
họ phải tin rằng những dữ liệu được tŕnh bày trong bài báo
là sự thật, được thu thập bằng những phương pháp như mô tả
trong bài báo.
Do đó, đạo đức khoa học (scientific ethics) đóng một vai tṛ
cực ḱ quan trọng trong nghiên cứu khoa học. Các qui ước về
đạo đức khoa học bao gồm thành thật tri thức (intellectual
honesty), cởi mở và công khai, ghi nhận đóng góp của đồng
nghiệp một cách thích hợp, và có trách nhiệm trước công
chúng và xă hội. Các qui ước này được triển khai thành các
điều lệ cụ thể về cách hành xử cho các t́nh huống khác
nhau. Trong hoạt động khoa học, hai chữ “hành xử” ở đây bao
gồm các lĩnh vực chuyên biệt như thí nghiệm, xét nghiệm,
giảng dạy và huấn luyện, phân tích dữ liệu, quản lí dữ liệu,
chia sẻ dữ liệu, xuất bản ấn phẩm, tŕnh bày công tŕnh
nghiên cứu trước công chúng, và quản lí tài chính.
Nhưng đạo đức khoa học không phải là luật pháp mà chỉ là qui
ước hay điều lệ được các thành viên trong ngành nghề chuyên
môn chấp nhận như là những kim chỉ nam cho việc hành nghề.
Chính v́ thế mà ở những nước mới phát triển khoa học (những
nơi mà văn hóa khoa học chưa h́nh thành hoàn chỉnh), người
ta không xem trọng đạo đức khoa học. Ở một số nước Á châu
đă có quá nhiều trường hợp thí nghiệm y khoa trên bệnh nhân
mà bệnh nhân không hề hay biết (tức vi phạm y đức nghiêm
trọng), một số th́ nói không thật trong các bài báo, và một
số khác th́ ngụy tạo dữ liệu như trường hợp Kim Tae Kook và
Hwang Woo-Suk.
Cũng như các lĩnh vực khác, trong hoạt động khoa học cũng có
nhiều nhà khoa học rất “trần ai”, cũng bịp bợm, lưu manh, và
phạm tội lường gạt. Họ làm nghiên cứu giả dối, che dấu sự
thật, xuyên tạc dữ kiện, đạo văn, ăn cắp ư tưởng của người
khác, bịa đặt số liệu, cố t́nh vặn vẹo số liệu theo ư muốn
ḿnh, v.v… Trong một nghiên cứu trên 4.000 sinh viên bậc
tiến sĩ trong 99 trường đại học ở Mĩ, Giáo sư Judith P.
Swazey cho biết có đến 44% sinh viên và 50% giáo sư đại học
từng biết ít nhất một hành vi vi phạm đạo đức nghiên cứu
khoa học. Phần lớn những vi phạm này xảy ra trong các bộ
môn khoa học thực nghiệm như sinh học, vật lí, hóa học, v.v…
Nhưng vi phạm nhiều nhất vẫn là trong nghiên cứu y khoa.
Nhưng cái thế mạnh của khoa học là một hệ thống mở (open
system) và dân chủ, hiểu theo nghĩa một khi công tŕnh
nghiên cứu đă được công bố th́ bất cứ ai trên thế giới cũng
đều có quyền soi mói và phản biện. Chính v́ thế mà một nhà
khoa học có thể lừa gạt nhiều người trong một lần, hay lừa
gạt một người trong nhiều lần, nhưng không thể nào lường gạt
nhiều người trong nhiều lần.
Kinh nghiệm về các vụ gian lận khoa học trên thế giới cho
thấy người có khả năng phát hiện các trường hợp gian lận
không ai khác hơn chính là đồng nghiệp của nhà khoa học. Ghi
nhận điều này, các trung tâm nghiên cứu và đại học thường có
những cơ chế thông thoáng để bảo vệ an toàn cho các nhà khoa
học dám công khai tố cáo các trường hợp gian lận khoa học.
Nh́n
người lại nghĩ đến ta
Gian lận khoa học và ngụy tạo có xảy ra ở nước ta không?
Tuy chưa có một cuộc điều tra nào được tiến hành, nhưng câu
trả lời chắc chắn là có. Những trường hợp đạo văn trong các
bài báo khoa học, đạo công tŕnh nghiên cứu, lấn áp nghiên
cứu sinh hay cộng sự viên cấp thấp, cướp công, sửa số liệu,
v.v… từng được nêu trên báo chí, nhưng việc xét xử vẫn chưa
rơ ràng. Thật ra, nước ta thiếu một cơ chế để đương đầu với
những vi phạm đạo đức khoa học, và do đó những trường hợp
lem nhem trong khoa học thường không được giải quyết nghiêm
chỉnh và nghiêm minh. Có lẽ đă đến lúc Nhà nước cần phải
thiết lập một ủy ban hay cơ quan tương tự như Office of
Research Integrity (Mĩ) để theo dơi và giải quyết tận gốc
những gian lận trong khoa học.
Ngoài ra, cũng cần phải có cơ chế để điều tra tất cả các
trường hợp gian lận sao cho công bằng cho phía bị tố cáo và
phía tố cáo. Nhưng quan trọng hơn hết, các cơ quan nghiên
cứu cần phải tạo ra một không gian và môi trường mà trong đó
sự liêm chính được ghi nhận và các hành động vô nguyên tắc
phải bị trừng trị.
Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tốn kém. Nhà nước có
trách nhiệm phải đảm bảo tiền bạc và tài nguyên của người
dân đầu tư cho nghiên cứu khoa học được sử dụng một cách
thích hợp và xứng đáng. Khoa học xây dựng và tồn tại dựa
trên tinh thần chân thực và liêm chính. V́ thế, khoa học
không thể nào dung túng t́nh trạng thiếu chân thực và vô
liêm chính. Đảm bảo sự liêm chính và trung thực trong nghiên
cứu là một bước quan trọng để nâng cao chất lượng nghiên cứu
khoa học và nâng cao uy tín khoa học của nước nhà.
|
Vài trường hợp gian
lận khoa học tiêu biểu
John Darsee –
trường hợp cổ điển
Trong những trường hợp gây nhiều tai tiếng trong
dư luận công chúng có lẽ là trường hợp của bác sĩ
John Darsee vào thập niên 1980s khi ông, lúc đó là
một giáo sư trẻ thuộc Đại học Emory (Atlanta, bang
Georgia, Mĩ), công bố một loạt 10 bài báo mà ông
đứng tên tác giả đầu. Với thành tích ấn tượng đó,
Darsee được thăng tiến nhanh chóng trong sự nghiệp
khoa bảng, trở thành một nhà khoa học được nhiều
đồng nghiệp kính trọng. Nhưng tất cả những bài báo
đó là hoàn toàn giả tạo. Nói cách khác, ông đă tạo
sự nghiệp dựa vào việc ngụy tạo nghiên cứu trong
suốt 10 năm liền!
Jon Sudbo và ảo vọng điều trị ung thư
Năm 2005, Tập san Lancet (một tập san y
học đứng vào hàng nhất nh́ trên thế giới) công bố
một công tŕnh nghiên cứu của bác sĩ Jon Sudbo,
chuyên gia về ung thư thuộc Bệnh viện Radium và Đại
học Oslo (Na Uy). Trong bài báo, bác sĩ Sudbo và 13
cộng sự viên báo cáo rằng họ đă tiến hành một nghiên
cứu đối chứng (case-control study) với 908 đối tượng,
và kết quả cho thấy thuốc chống viêm NSAIDs
(non-steroidal anti-inflammatory drugs) có hiệu quả
làm giảm nguy cơ ung thư miệng. Phát hiện của bác sĩ
Sudbo gây sự chú ư lớn của các chuyên gia trong lĩnh
vực ung thư bởi v́ các loại thuốc NSAID được sử dụng
rất rộng răi để giảm đau, nhất là đau thấp khớp, và
tương đối rẻ, và nếu quả thật thuốc có hiệu quả
chống ung thư th́ đó là một tin vui cho bệnh nhân:
một thuốc mà đạt hai mục tiêu. Sau khi công bố bài
báo, Sudbo trở thành nổi tiếng trong giới chuyên môn
về "phát hiện" mà ít ai nghĩ đến đó.
Nhưng nghiên cứu của Sudbo hoàn toàn giả tạo. Bác
sĩ Sudbo giả tạo tất cả các số liệu và bệnh nhân.
Khi điều tra lại các số liệu gốc (tức cũng giả tạo),
người ta mới phát hiện trong số 908 đối tượng ma này,
có đến 250 người có cùng ngày tháng năm sinh! Tuy
nhiên, điều đáng chú ư là trong phân tích, Sudbo đă
giả tạo rất tài t́nh, không để lộ một kẽ hở nào
trong số liệu để người b́nh duyệt có thể đánh dấu
hỏi. Tổng biên tập tập san Lancet, Richard
Horton, phải thú nhận là Sudbo quá thông minh và
tinh sảo đến độ ông có thể qua mặt tất cả 13 cộng sự
viên là tác giả của bài báo, lường gạt tất cả các
chuyên gia trong ngành đă b́nh duyệt bài báo, lường
gạt luôn cả một chuyên gia thống kê học cũng là
người b́nh duyệt bài báo! Hành động ngụy khoa học
của bác sĩ Sudbo chỉ được phát hiện khi một nhà dịch
tễ học người Na Uy chú ư đến đoạn văn mà Sudbo cho
biết nguồn bệnh nhân mà ông nghiên cứu là trích từ
một ngân hàng dữ liệu (database) về ung thư thuộc
bệnh viện Radium, bởi v́ trong thực tế ngân hàng dữ
liệu này không hiện hữu!
Eric Poehlman
– giả tạo số liệu
Poehlman là cựu giáo sư y
khoa, một chuyên gia về bệnh béo ph́ của Trường đại
học Vermont (Mĩ). Trước khi bị phát hiện giả tạo số
liệu và đi tù, Poehlman là một trong những “ngôi sao”
sáng chói trong lĩnh vực nghiên cứu bệnh béo ph́,
với hơn 200 bài báo khoa học trên các tập san y khoa
quốc tế, và được các đồng nghiệp cũng như các công
ti dược mời thuyết giảng. Nhưng 10 bài báo khoa học
và bài giảng trong các hội nghị suốt từ 1992 đến
2002 lại là những tác phẩm khoa học dựa vào số liệu
do ông ngụy tạo để phù hợp với lí thuyết của ḿnh.
Năm 1995, Poehlman tŕnh bày dữ liệu mà ông báo cáo
là thu thập từ một nghiên cứu đánh giá các đặc điểm
về chuyển hóa năng lượng ở phụ nữ trong thời gian
trước và sau măn kinh. Các dữ liệu này được công bố
trong một bài báo khoa học có tên là “Changes in
Energy Balance and Body Composition at Menopause: A
Controlled Longitudinal Study,” trên tập san Annals
of Internal Medicine (một tập san y khoa hàng đầu
trên thế giới). Trong bài báo Poehlman báo cáo rằng
ông đă theo dơi sự chuyển hóa năng lượng trên 35 phụ
nữ trong suốt 6 năm liền. Nhưng trong thực tế,
Poehlman chỉ theo dơi một bệnh nhân duy nhất, phần
c̣n lại là ông giả tạo số liệu. Ngoài ra,
Poehlman c̣n giả tạo
nhiều số liệu trong hơn 10 bài báo khoa học khác.
Chẳng những thế, Poehlman c̣n ngụy tạo số liệu mà
ông cho là “nghiên cứu sơ bộ” để thu hút tài trợ đến
gần 3 triệu USD từ NIH (cơ quan tài trợ cho phần lớn
nghiên cứu y khoa ở Mĩ). Sau nhiều năm điều tra,
Trường đại học quyết định sa thải Poehlman và Nha
liêm chính trong nghiên cứu (ORI) truy tố ông ra ṭa.
Ngày 28/6/2006, Poehlman bị
ṭa xử phạt một năm tù và phải hoàn trả cho Nhà nước
542.000 USD. Đây là trường hợp nghiêm trọng nhất và
lần đầu tiên trong lịch sử khoa học Mĩ một giáo sư
gian lận trong khoa học phải ngồi tù. |
Về đầu trang |