|
Thiền sư Lê
Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động
Hoàng Hải Vân
(Phần cuối)
|

|
|
Giáo sư
Lê Mạnh Thát - Ảnh: N.Hải |
(Tiếp theo
Thanh Niên thứ tư 5.3.2008)
Mỗi một di sản của tổ tiên đều phải
được truy t́m, cũng như mỗi một tấc đất của tổ tiên đều phải được
ǵn giữ.
Một minh chứng văn hóa
Những phát hiện nói trên của giáo sư
Lê Mạnh Thát cho phép dựng lại lịch sử dân tộc trong thời kỳ nước
nhà không có sử liệu, sử sách được viết chủ yếu căn cứ theo các tài
liệu của Trung Quốc. Việc khẳng định chủ quyền của dân tộc thời
trước Hai Bà Trưng, thời Sỹ Nhiếp và sau đó nữa là có cơ sở. Những
phát hiện về văn hóa, bắt đầu từ Khương Tăng Hội với Lục độ tập
kinh và Mâu Tử với Lư hoặc Luận, đặc biệt là sự kiện 6
lá thư đề cập dưới đây càng minh chứng cho điều đó.
Lư hoặc Luận
của Mâu Tử là một tác phẩm nổi tiếng, được viết vào cuối thế kỷ thứ
II (198) và được lưu hành tại Trung Quốc bắt đầu từ thế kỷ thứ V, có
ảnh hưởng lớn ở Trung Quốc. Nó c̣n là "sách gối đầu giường" của
người Phật tử Viễn Đông, cụ thể là Trung Quốc và Nhật Bản. Đến nửa
đầu thế kỷ XX, một loạt những nghiên cứu của các học giả Trung Quốc,
Nhật Bản và Pháp được công bố về tác phẩm này, gây nên một cuộc
tranh biện sôi nổi và hào hứng, bắt đầu từ công tŕnh của Lương Khải
Siêu, tiếp đó là của H.Maspéro, Tokiwa Daijo, P.Pelliot, Chu Thúc
Ca, Hồ Thích, Matsumoto Bunzaro, Dư Gia Tích và Fukui Kojun (dẫn
theo Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1). Ở Việt Nam, nó cũng
được coi là cuốn sách lư luận được quan tâm từ hơn 1.000 năm trước,
đặc biệt từ năm 1932 khi Trần Văn Giáp giới thiệu Mâu Tử là "người
đầu tiên truyền bá đạo Phật ở Việt Nam", cuốn sách đó được sự quan
tâm rộng răi của giới học giả và nhiều người dân. Trong khi nghiên
cứu Lục độ tập kinh, giáo sư Lê Mạnh Thát đă phát hiện
những mối liên hệ thú vị và trên cơ sở một cuộc khảo sát hết sức
công phu, ông đă t́m ra bằng chứng khẳng định Mâu Tử là người Việt
Nam và Lư hoặc Luận chính là tác phẩm của Việt Nam truyền
sang Trung Quốc. Công tŕnh nghiên cứu này của ông đă được công bố
một phần trước năm 1975 và công bố toàn bộ sau này (xem Tổng tập
Văn học Phật giáo Việt Nam, tập 1).
Theo giáo sư Lê Mạnh Thát: "Trong bối
cảnh văn hóa thời Mâu Tử, Lư hoặc Luận không phải viết để
xiển dương Phật giáo, mà là một cuộc tổng kết cuộc đấu tranh về văn
hóa, giữa văn hóa Việt Nam đối với văn hóa phương Bắc". Phải có một
bề dày văn hóa như thế nào mới có thể có được một bản lĩnh văn hóa
như vậy. Một bên th́ áp đặt Thi Thư như chân lư, Trung Hoa là trung
tâm, một bên Mâu Tử đáp trả "Đất Hán chưa chắc là trung tâm của
trời đất", "năm kinh chưa hẳn là lời của thánh hiền".
Tiếp cận tác phẩm của Mâu Tử, chúng ta c̣n thấy dân tộc ta đă bảo
tồn văn hóa của ḿnh như thế nào, tiếp thu có chọn lọc những tinh
hoa của Phật giáo, Nho giáo và Lăo giáo để phát triển nền văn hóa
của ḿnh như thế nào và truyền bá văn hóa của ḿnh ra nước ngoài ra
sao.
Sáu lá thư và một vị vua
Một phát hiện cực kỳ quan trọng khác
của giáo sư Lê Mạnh Thát là 6 lá thư nằm trong Đại tạng kinh
chữ Hán. Đó là 6 lá thư trao đổi giữa hai pháp sư Đạo Cao và Pháp
Minh với một "sứ quân" của Giao Châu tên là Lư Miễu. Trước khi ông
công bố 6 lá thư này, chưa có một tài liệu nào đề cập tới. Từ điểm
gây ṭ ṃ đầu tiên trong 6 lá thư là địa danh "Giao Châu", ông đă
tiến hành một cuộc truy t́m ngoạn mục. Trước hết là t́m nguồn gốc
Việt Nam về mặt điển cố lịch sử, t́m nguồn gốc Việt Nam về mặt điển
cố thư tịch, kế đó là t́m niên đại và tung tích tác giả 6 bức thư.
Khó khăn nhất là t́m ra tác giả của
chúng. Ông bảo tung tích của những người mang tên Đạo Cao, Pháp Minh
và Lư Miễu ngày nay chúng ta không biết một tí ǵ hết.
Ông "kiểm soát toàn bộ" những tư liệu
lịch sử Trung Quốc và Phật giáo Trung Quốc, cũng như tư liệu lịch sử
Việt Nam và Phật giáo Việt Nam, cũng không t́m thấy những người có
các cái tên ấy. Ông lục t́m trong Tấn thư, Tống thư, Nam Tề thư,
Lương thư, Ngụy thư, Bắc sử, Nam sử và Tư trị thông giám sử
cũng như Đại Việt sử lược, Đại Việt sử kư toàn thư, Việt sử tiêu án
và Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng không gặp một "sứ
quân" (hoặc chức vụ tương đương) nào với cái tên Lư Miễu; lục t́m
trong Cao tăng truyện và Tục cao tăng truyện cũng
như Thiền Uyển tập anh, cũng không t́m thấy một pháp sư nào
có tên Đạo Cao hay Pháp Minh. Chỉ duy nhất trong Toàn Tấn văn
157 tờ 15a12-2 có liệt ra tên một Thích Đạo Cao, nhưng kiểm tra
bản mục lục của văn liệu này cũng như xuất xứ của tên ấy dẫn từ
Cao tăng truyện 5 tờ 255b15-17 th́ thấy là Thích Đạo Tung chứ
không phải Đạo Cao, sự khác nhau đó là do Toàn Tấn văn khắc
nhầm.
Ông mở rộng việc truy t́m sang các tài
liệu Nhật Bản và Triều Tiên. Trong khi khảo sát toàn bộ tài liệu
liên quan của Nhật, ông đọc kỹ lại Nhật Bản quốc kiến tại thư
mục lục (là sách được Vũ Điền thiên hoàng cho viết nhằm ghi lại
tất cả những bộ sách Trung Quốc c̣n sót lại trong Thư viện hoàng gia
sau vụ cháy năm 887), t́m thấy một dữ kiện lôi cuốn. Dưới mục thứ
mười mang tên Tiểu học gia, liệt ra một bộ sách nhan đề "Tá
âm, một quyển, Thích Đạo Cao soạn" và dưới mục Biệt tập lại ghi
"Đạo Cao pháp sư tập, một quyển". Vấn đề là Đạo Cao tác giả
của hai cuốn sách Tá âm và Đạo Cao pháp sư tập này
có phải là Đạo Cao pháp sư trong 6 lá thư hay không? Đối chiếu th́
thấy hai tác phẩm này chắc chắn không phải do người Nhật biên soạn
mà phải là từ Trung Quốc mang về, v́ khảo sát toàn thể tài liệu Phật
giáo Nhật Bản ông không thấy tăng sĩ Nhật Bản nào mang tên Đạo Cao
cả. Vấn đề là họ mang về Nhật từ lúc nào. Một cuộc kiểm soát tiếp
vẫn không cho biết một tí ǵ cả, chỉ biết chắc chắn là nó phải được
mang về trước năm 887 để có thể ghi vào bản thư mục nói trên. Ông
cũng kiểm soát những bản thư tịch liệt kê những tư liệu liên quan
tàng trữ ở các nước Anh, Pháp, Liên Xô, cũng không t́m thấy ǵ hết.
Tuy nhiên, ở đây xuất hiện một vấn đề
mới. Trước hết về cuốn Tá âm. Nó được liệt vào loại
Tiểu học gia, mà căn cứ vào định nghĩa của Tùy thư kinh
tịch chí, nó là loại sách ngôn ngữ. Cần nói thêm, một chú giải
trong tài liệu Nhật Bản c̣n ghi "Kinh tịch chí của Tùy thư có
ghi Tá âm tự một quyển, nhưng không ghi họ tên người viết". Ghi
chú này đă được xác nhận từ tài liệu Trung Quốc và từ dẫn giải của
các tài liệu Trung Quốc cũng như Nhật Bản, có thể coi Tá âm tự
là một tác phẩm khác nữa của Thích Đạo Cao. Như vậy là ít nhất Thích
Đạo Cao cũng có 3 tác phẩm được nhắc đến. Vấn đề đặt ra là tại sao
những tác phẩm đó được Nhật Bản đem về từ Trung Quốc mà Trung Quốc
lại không ghi một cách đàng hoàng trong các tài liệu chính thống của
ḿnh, mà chỉ ghi một cách sơ sài khuyết danh trong Tùy thư?
Tiếp tục nghiên cứu và đối chiếu, ông xác định rằng sở dĩ như vậy là
v́ những sách đó chắc chắn không phải tiếng Trung Quốc mà là tiếng
nước ngoài.
Những khảo sát như vậy dẫn đến kết
luận, Đạo Cao chắc chắn không phải là người Trung Quốc, Nhật Bản hay
Triều Tiên, trong khi người mang tên đó là một trong hai tác giả các
bức thư trao đổi với Lư Miễu, "sứ quân" Giao Châu. Bởi vậy Đạo Cao
chắc chắn là người Việt Nam. Và từ nhân vật này, ông phát hiện một
chứng cứ quan trọng khác về một cột mốc phát triển ngôn ngữ dân tộc:
Tá âm là một quyển sách ngữ học về quốc âm, c̣n Tá âm
tự là một cuốn tự điển về thứ tiếng quốc âm đó. Rất tiếc là
chúng đă thất lạc, nhưng chắc chắn là có những cuốn sách đó. Ông bảo
trong sưu tập Stein tàng trữ tại Bảo tàng viện Anh Quốc có một thủ
bản mang kư hiệu S.5731, mô tả một tài liệu giống như vậy, nhưng v́
ông "chưa có trong tay" thủ bản đó nên chưa thể khẳng định.
Chúng tôi dẫn chứng dài ḍng đoạn trên,
tuy rất sơ lược, để bạn đọc phần nào thấy được cách làm việc cẩn
trọng của giáo sư Lê Mạnh Thát. Những khảo sát như vậy đă được tiến
hành và dễ dàng t́m ra tông tích Việt Nam của người thứ hai là Pháp
Minh.
Đối với nhân vật Lư Miễu, nội dung 6
lá thư cho thấy Lư Miễu được gọi là "sứ quân" và lời lẽ của nhị vị
pháp sư trong 6 lá thư coi ông "ở địa vị của một bậc thiên tử". Đối
chiếu danh sách những chức danh tương đương với "sứ quân" như "thái
thú", "thứ sử" Trung Quốc cử sang th́ không thấy tên Lư Miễu. Toàn
bộ sử sách Trung Quốc cũng như Việt Nam đều không có tên Lư Miễu.
Với một khảo sát văn liệu tương tự cùng những phân tích chính trị,
xă hội đến tận ngọn nguồn, ông kết luận Lư Miễu chính là một vị vua
của Việt Nam. Một nhân vật xưng vương xưng đế trên một đất nước độc
lập mà Trung Quốc không với tới th́ sử sách Trung Quốc không chép là
không có ǵ lạ. C̣n việc sử ta không chép cũng là đương nhiên, v́
không không có sử liệu. Ông ước đoán 6 lá thư đó được viết vào những
năm 435-440, nằm trong thời kỳ Nam Bắc triều (420-588) của Trung
Quốc. Niên đại của Lư Miễu nằm trong khoảng 390-470, của Đạo Cao
khoảng 365-455 và Pháp Minh khoảng 370-460. 6 lá thư chứa đựng những
sử liệu vô cùng quư giá cho việc nghiên cứu nghệ thuật, âm nhạc, văn
học, Phật giáo, chính trị và tư tưởng (bạn
đọc quan tâm vấn đề này xin đọc Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1,
trang 427-582).
Xin tạm dừng loạt bài này ở đây. Thiền
sư Lê Mạnh Thát đă thực hiện một loạt các công tŕnh nghiên cứu đồ
sộ về lịch sử dân tộc và lịch sử Phật giáo, về văn học, triết học...
Riêng các công tŕnh lịch sử văn học của ông được tập hợp thành
Tổng tập văn học Phật giáo khoảng 50 tập (đă in 3 tập). Chúng
tôi giới thiệu sơ lược một số trong rất nhiều phát hiện lịch sử của
thiền sư với mong muốn những người quan tâm đến lịch sử nước nhà
biết đến. Đối với các cơ quan quản lư ngành lịch sử và những nhà sử
học - những người đang nghiên cứu lịch sử, chúng tôi thiết nghĩ nó
có lợi chứ hoàn toàn không gây thiệt hại ǵ cho việc nghiên cứu, v́
nghiên cứu th́ cần có những tài liệu mới do chính ḿnh hoặc do người
khác phát hiện ra. Các cơ quan nghiên cứu lịch sử hoặc các nhà sử
học có thể xem xét, đánh giá, tranh biện, cái ǵ có tài liệu chứng
minh là không đúng th́ nói là không đúng, cái ǵ cần tiếp tục làm rơ
th́ cùng nhau t́m ṭi làm rơ, nhưng cái ǵ thấy có cơ sở là đúng rồi
th́ cần thừa nhận để đưa vào ḍng chính thống. Tất cả đều nhằm mục
đích t́m ra sự thật để tôn vinh dân tộc chúng ta. Mỗi một di sản của
tổ tiên đều phải được truy t́m, cũng như mỗi một tấc đất của tổ tiên
đều phải được ǵn giữ.
Hoàng Hải Vân
http://www2.thanhnien.com.vn/Vanhoa/2008/3/6/228910.tno
Quay
lại phần đầu
Về đầu trang |
|