|
Điệp Viên Hoàn Hảo
CHƯƠNG 1
Hoà b́nh, nhà t́nh báo và người bạn
Tặng Phạm Xuân Ẩn - người đă dạy tôi về Việt
Nam và về ư nghĩa đích thực của t́nh hữu
nghị. Với bạn, một người can đảm nhất mà tôi từng gặp, tôi vẫn c̣n
nợ một điểu mà chắc không bao giờ có thể trả được. Xin nhận ở tôi
lời chào Hoà B́nh.
Robert Sam Anson viết tặng trong cuốn sách của ông mang tựa đề
"Tin chiến tranh: Một phóng viên trẻ ở Đông Dương".
Tháng 8/1970
Chuyền bay chín mươi phút từ Singapore đến Sài G̣n đối với cô Diane
Anson dường như dài bất tận. Vài ngày trước đó, cô nhận được thông
báo chính thức rằng chồng cô, nhà báo Robert Sam Anson, làm việc cho
Tạp chí Time đă bị mất tích ở Campuchia. Ngày mất tích chính thức là
mồng 3/8/1970. Ngoài ra không có một thông tin nào khác. Bob (tên
gọi tắt của Robert Anson - ND) cỏ thể đă chết mất xác giống như
trường hợp phóng viên ảnh tự do San Flynn của Tạp chí Time và Dana
Stone làm việc cho Hăng truyền h́nh CBS, khi cả hai đều mất tích đầu
tháng 4 ở ngay ngoại ô Phnôm Pênh.
Campuchia được coi là vùng đất nguy hiểm đối với cánh nhà báo. Chỉ
riêng trong tháng 9, hai mươi lăm nhà báo thiệt mạng chỉ ở nước láng
giềng này của Việt Nam. Trong số họ có một số nhà báo Mỹ và nhà báo
quốc tế cùng một tổ làm phim bỏ xác tại Takeo, cách Phnôm Pênh một
giờ xe hơi. Nh́n con gái bé nhỏ và đứa con trai sơ sinh của ḿnh ở
ghế bên cạnh, Diane cố không nghĩ tới việc tên của cha hai đứa nhỏ
có thể bị liệt kê trong danh sách những nhà báo đă thiệt mạng đó.
Diane Anson căm ghét cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Chính cô và
chồng của cô đă gặp nhau tại một cuộc biểu t́nh phản đối chiến tranh
trong khu học xá của Trường Đại học Notre Dam. Nhà báo Anson từng
viết: "Việt Nam là lư do để chúng tôi gặp nhau. Tôi thấy Diane đứng
trong đội ngũ những người biểu t́nh phản đối việc hàng năm Cha cố
Hesburgh đều tổ chức cầu nguyện ủng hộ cho Quân đoàn đào tạo sĩ quan
dự bị (ROTC). Diane là một trong số ít nữ sinh tham gia cuộc biểu
t́nh và là người tỏ ra tức giận nhất trong số khoảng trên dưới chục
người chúng tôi có mặt hôm đó. Tôi nhận thấy những biểu hiện trên
nét mặt của cô khá hấp dẫn. Anson lúc đó mang một tám biểu ngữ "Chiến
tranh là một nghề kinh doanh tốt, hăy đầu tư con trai của các người".
Chỉ một tuần sau, hai người yêu nhau rồi tổ chức đám cưới ở Las
Vegas.
Tất cả những điều đó giờ đây đối với Diane dường như đă quá lâu rồi
và cứ thế cô miên man nghĩ cho đến khi máy bay hạ cánh xuống phi
trường Tân Sơn Nhất. Rời phi trường, Diane đi thẳng tới trụ sở của
Văn pḥng Tạp chí Time -life đặt tại Khách sạn Continental. Một tay
bế con trai Sam mới 15 tháng tuổi c̣n tay kia dắt đứa con gái
Christian mới hai tuổi rưỡi, cô vào hết pḥng này đến pḥng khác để
hỏi các phóng viên tại đây thông tin về chồng ḿnh.
Nhưng tất cả họ đều chẳng giúp được ǵ cho cô. Các đồng nghiệp của
Bob tại văn pḥng t́m cách an ủi động viên Diane, nhưng đều vô ích.
Linh cảm mách bảo cô rằng Bob đă vĩnh viễn ra đi. Diane lúc đó sợ
điều xấu nhất đă xảy ra đối với người phóng viên trẻ nhất của Tạp
chí Time, đồng thời là người chồng mới hai mươi lăm tuổi của ḿnh.
Diane khóc nức nở khi cô tới văn pḥng một người bạn tốt của chồng
cô, một phóng viên người Việt Nam tên là Phạm Xuân Ẩn. Suốt cuộc gặp,
Phạm Xuân Ẩn cứ nh́n chằm chằm vào hai đứa trẻ. Trong đầu ông bỗng
loé lên ư nghĩ về một ngày cách đó vài tuần Bob Anson đă hẹn gặp ông
ở tiệm cà phê Givral để nhờ ông đọc qua lá thư xin từ chức mà Bob
định sẽ gửi cho Trưởng phân xă Tạp chí Time là Marsh Clark - một
người tai tiếng khắp Sài G̣n về việc công khai bộc lộ sự hoan hỉ của
ông ta đối với chiến tranh. Cha của Clark là một thượng nghị sĩ Hoa
Kỳ; ông nội của Clark từng là Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ. Anson coi
Clark là loại người Mỹ mà có lẽ anh chưa bao giờ gặp.
Khi nhận nhiệm vụ sang Việt Nam, Bob Anson nghĩ về công việc đang
chờ đợi anh ở đó khác rất nhiều so với thực tế. Anh được tặng cho
biệt danh "Người mới của Công ty Time". Cũng như hầu hết các phóng
viên trẻ đến Việt Nam, chuyến công tác này là cơ hội để Bob tạo dựng
danh tiếng của ḿnh giống như các đồng nghiệp David Halberstam,
Malcolm Browne, và Neil Sheehan đă từng làm hồi những năm đầu thập
kỷ 1960. Khi đó, cuộc chiến tranh vẫn c̣n chưa lan rộng. Nhưng sau
vài tháng ở Việt Nam, các bài viết của Anson không được chấp nhận
đăng trên Tạp chí Time. Hai phóng viên cao cấp thường trú tại Sài
G̣n là Clark và Burt Pines dường như cũng gặp ít nhiều rắc rối khi
các bài viết của họ không được Trưởng ban biên tập Tạp chí Time
Henry Grunwald ở New York duyệt.
Cuộc Tổng tấn công của Cộng sản hồi Tết Mậu Thân 1968 đă chứng tỏ
rằng cho dù Mỹ đă đổ vào Việt Nam 525.000 quân, hàng tỷ đô la, và cả
một chiến dịch ném bom toàn diện mang tên "Sấm rền", th́ cường độ
chiến tranh, năng lực giành thắng lợi và kiểm soát cuộc chiến tranh
đó không phải do người Mỹ với sự vượt trội về công nghệ quyết định,
mà là do đối phương.
Hậu quả của cuộc tổng tấn công và nổi dậy đó là Mỹ rơi vào thế tiến
thoái lưỡng nan ở Việt Nam. T́nh thế khiến Mỹ c̣n lâu mới đạt được
mục tiêu chính trị của ḿnh, khác nào quay lại điểm xuất phát của
thời kỳ bắt đầu chiến dịch Mỹ hoá chiến tranh năm 1965.
Điều này tác động về mặt tâm lư rất mạnh lên Lyndon Johnson. Tại một
buổi thông báo tin tức cho các phóng viên nước ngoài, Tổng thống Mỹ
Lyndon B. Johnson bị các nhà báo hỏi về những tín hiệu từ phía Hà
Nội và về việc ông cảm thấy hoà b́nh đă đến gần chưa? Tổng thống
liền lớn tiếng: "Tín hiệu à, tôi sẽ nói cho các bạn biết về những
tín hiệu. Tôi có ăngten ở Washington. Tôi có ăngten ở London. Tôi có
ăngten ở Paris. Tôi có ăngten ở Tokyo. Thậm chí tôi có cả ăngten ở
Rangoon! Vậy các bạn có biết những tín hiệu mà tất cả các ăngten của
tôi nghe được từ phía Hà Nội là ǵ không? Tôi sẽ nói cho các bạn
biết về điều mà những tín hiệu từ Hà Nội đang nói: Đó là "Đ. mẹ
thằng Lyndon Johnson".
Sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, Johnson được đề nghị cho tăng
thêm 206.000 quân nữa vào Nam Việt Nam. Trước khi đưa ra lời cam kết
chính thức, Johnson lập ra một đội công tác chuyên trách đặt dưới sự
chỉ đạo trực tiếp của tân Bộ trưởng Quốc pḥng Clark Clifford.
Johnson chỉ thị cho Clifford là t́m cách để giảm bớt số lính Mỹ bị
chết ở Việt Nam.
Sau đó, Johnson triệu tập một cuộc họp với các cố vấn của ông về
chính sách đối ngoại để thảo luận về báo cáo Clifford đi đầu trong
việc cố gắng thuyết phục Tổng thống rằng chính sách hiện nay của ông
không thể giúp đạt mục đích duy tŕ hoà b́nh ở miền Nam Việt Nam. "Chúng
ta h́nh như đang có một cái thùng "không đáy". Chúng ta càng đổ thêm
quân vào th́ đối phương cũng tăng quân: Tôi chỉ thấy càng giao tranh
nhiều, th́ càng gây ra nhiều thương vong hơn cho phía Mỹ và đó là
điều sẽ liên tục diễn ra tiếp nối nhau không bao giờ ngừng".
Phát biểu trước toàn thể nhân dân Mỹ ngày 31/3/1968, Johnson nói về
một nền hoà b́nh sắp đạt được thông qua thương lượng và kêu gọi
ngừng ném bom từng phần. Tổng thống Johnson đề nghị Chủ tịch Hồ Chí
Minh hăy cùng với ông làm việc nhằm đạt được một nền hoà b́nh thông
qua thương lượng. Mỹ đă "sẵn sàng cử các đại diện của ḿnh tới bất
kỳ diễn đàn nào, bất kỳ lúc nào để thảo luận các biện pháp nhằm đưa
cuộc chiến tranh xấu xí này đến hồi kết".
Tiếp đó, trong một cử chỉ phô diễn tỏ ra là v́ sự đoàn kết dân tộc,
Tổng thống đă tuyên bố từ bỏ cơ hội tái cử của ḿnh: "Tôi sẽ không
t́m kiếm và sẽ không chấp nhận việc đề cử của đảng tôi cho một nhiệm
kỳ nữa với tư cách là tổng thống của các bạn".
Tháng 1/1969 khi Richard Nixon nhậm chức Tổng thống, lực lượng quân
sự Mỹ ở Việt Nam đă vượt quá con số 540.000 quân, phần lớn là lính
chiến trên bộ. Hơn 80.000 người Mỹ đă bị thiệt mạng và cuộc chiến
tranh đă nuốt 80 tỷ USD trong năm tài chính 1969. Chỉ riêng năm 1968
đă có 14.500 lính Mỹ bị thiệt mạng. Nixon nêu quyết tâm không để cho
cuộc chiến tranh ở Việt Nam làm hỏng nhiệm kỳ tổng thống của ông.
Khoảng tháng 3/1969, Nixon đưa ra một kế hoạch hành động. Theo đó,
Mỹ sẽ bắt đầu thu hẹp vai tṛ của ḿnh, t́m kiếm những điều kiện để
đạt được một giải pháp trên cơ sở thương lượng, hai bên đều rút quân
đội của ḿnh khỏi miền Nam Việt Nam. Kế hoạch của Nixon thực chất là
sự phi Mỹ hoá cuộc chiến tranh, thay vào đó là Việt Nam hoá chiến
tranh. Theo kế hoạch này, quân đội Việt Nam Cộng hoà được xây dựng
mạnh hơn để có thể gánh vác được những nhiệm vụ chiến đấu to lớn hơn.
Cùng lúc đó, Mỹ sẽ rút các đơn vị chiến đấu khỏi miền Nam Việt Nam.
Như vậy, vai tṛ của quân đội Mỹ sẽ chuyển từ chỗ tham chiến trực
tiếp sang chỉ làm cố vấn cho quân đội Sài G̣n. Trong khi đó, Mỹ sẽ
viện trợ ồ ạt vũ khí và thiết bị quân sự cho Việt Nam Cộng hoà. Có
lẽ điều quan trọng nhất lúc này là Nixon thay đổi mục tiêu chính trị
trong quá tŕnh can thiệp của Mỹ. Từ chỗ Mỹ gánh trách nhiệm đảm bảo
cho miền Nam Việt Nam được tự do và độc lập, đến chỗ Mỹ chỉ tạo ra
cơ hội để cho miền Nam Việt Nam tự quyết định lấy tương lai chính
trị của ḿnh. Việt Nam hoá chiến tranh và thương lượng là hai trụ
cột được sản sinh ra cùng một lúc nhằm đạt được điều mà Nixon gọi là
"Hoà b́nh trong danh dự".
Trong con mắt của Anson, cuộc chiến tranh này là giết chóc và vô đạo
đức. Đây cũng chính là quan điểm chung về cuộc chiến tranh tồi tệ
được cảm nhận ở mọi nơi, trừ bên trong bốn bức tường của Văn pḥng
Tạp chí Time ở Sài G̣n cũng như tại tổng hành dinh tờ tạp chí này ở
New York - nơi đưa ra quyết định cuối cùng về những nội dung sẽ xuất
hiện trên Tạp chí Time ra hàng tuần. Khi Anson nêu vấn đề với ban
biên tập Tạp chí Time về sự tự quyết của người Việt Nam, anh liền bị
gán cho nhăn hiệu là kẻ phản chiến nhụt chí và ấm đầu. Anson gửi về
toà soạn những bài của anh trong đó viết từ "Việt Nam" theo lối
người Việt vẫn dùng là chữ Việt và chữ Nam tách rời nhau th́ liền bị
Trưởng phân xă Marsh Clark phê b́nh, nói rằng Time là một tờ tạp chí
của Mỹ, do vậy chữ "Việt Nam" cần phải được viết theo kiểu Mỹ. Sự
bức bối sôi sục suốt bữa tiệc tối tại Văn pḥng Tạp chí Time do John
Scott, một uỷ viên biên tập trong vai chủ tiệc.
Cuộc nói chuyện tại bữa tiệc tối hôm đó xoay quanh vấn đề Mỹ đang
giành được những tiến bộ lớn trong chiến tranh. Khi ấy, Anson nghĩ
cuộc nói chuyện chẳng khác nào buổi thông báo tin tức thường kỳ của
Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Việt Nam, trong đó người ta lảng tránh thực
tế bằng cách đưa ra những thành tích bằng con số lấp lánh. Những nhà
lănh đạo chiến tranh luôn nh́n thấy ánh sáng cuối đường hầm; chỉ c̣n
một góc nữa để rẽ cho đến khi nào chúng ta đạt tới điểm được gọi là
ngă rẽ của cuộc chiến tranh.
Anson không thể chịu được nữa. Anh xổ ra một tràng "Các bạn đă bỏ
qua một điểm chính rồi. Đó là, chúng ta đang làm cái đếch ǵ ở đây,
tại vị trí số một này? Hăy xem đi, người Việt Nam đă từng ở đây lâu
rồi, từ những năm 1940 chống Nhật Bản, có nhớ không? Người Việt Nam
đă từng đánh bại Nhật Bản, đánh bại Pháp, và họ đang đánh bại chúng
ta, bất kể chúng ta đă dùng đến vũ khí ǵ để đánh họ. Người Việt Nam
kiên tŕ lắm, họ rất quyết tâm, và lịch sử đang đứng về phía họ. Có
lẽ các người không nhận ra điều đó chủ nghĩa thực dân cũng đă chẳng
tài cán ǵ".
Burt Pines nói chen ngang: "Có lẽ các bạn nói sai rồi. Chúng ta đang
làm những ǵ ở đây, khác nào với chủ nghĩa thực dân". Anson liền
chộp lấy câu nói này của Burt Pines: "Cậu hoàn toàn đúng. Tôi muốn
nói đây chính là chủ nghĩa thực dân mới. Đó là một cuộc chiến tranh
xâm lược tội ác của chủ nghĩa thực dân mới, trong đó người ta bất
chấp đạo lư là cái điều mà ngay cả chính sách đối ngoại Hoa Kỳ cũng
ít đề cập".
Nghe Anson nói vậy, vị khách mời danh dự John Scott quay sang Anson
hỏi: "Vậy theo anh th́ những người Cộng sản họ đúng à?". Anson trả
lời: "Tôi chỉ muốn nói rằng đó không phải là việc của chúng ta phán
quyết họ đúng hay sai, mà là việc của người Việt Nam. Chúng ta đang
làm ǵ ở đây ngoài việc giết nhiều người của họ và cả của ta nữa".
Anson không hề cảm thấy hối tiếc những điều anh đă nói. Nhưng chính
những lời anh nói ra đă mang lại tai hoạ cho anh. Marsh Clark không
bỏ qua cho anh việc này. Ngày hôm sau được bắt đầu một cách buồn tẻ
bằng việc Clark yêu cầu Anson phải chuẩn bị một bài viết về những ư
định của Bắc Việt Nam trong vài tháng tới. Nội dung và lời lẽ về
cuộc trao đổi giữa các đồng nghiệp buổi tối hôm đó được phát tán
nhanh chóng. Bằng chứng là Trưởng pḥng hành chính quản trị Văn
pḥng Tạp chí Time ở Sài G̣n Nguyễn Thuỳ Đang gặp Anson cũng đưa ra
nhận xét: "Anh đáng ra không phải chịu rắc rối như vậy. Trong mắt họ
anh dường như là rất giống kẻ thù".
Chẳng bao lâu sau, Clark bắt đầu trở mặt, bí mật gửi một lá thư báo
cáo các sếp của hắn ở New York. Nhận được thư của Clark, lănh đạo
Tạp chí Time ở New York liền gửi một lá thư cho tất cả các phóng
viên và biên tập viên của Tạp chí Time đang làm việc trên khắp thế
giới nói rằng "Tôi không muốn can thiệp vào những đánh giá của Bob
Anson về Việt Nam bởi v́ anh ta mới đến Việt Nam được một thời gian
tương đối ngắn. Trước khi đến Việt Nam, Bob đă từng cảm thấy rằng
cuộc chiến tranh ở Việt Nam là vô đạo đức; và rằng Việt Nam hoá
chiến tranh chỉ đơn giản là kéo dài cuộc chiến tranh vô đạo đức mà
thôi; rằng khái niệm về chống Cộng ở miền Nam Việt Nam không đáng để
bàn luận; và rằng Việt Nam, Đông Nam Á, và thậm chí cả châu Á là
không thể tránh khỏi rơi vào tay các lực lượng giải phóng dân tộc.
Chẳng có điều ǵ ở Việt Nam khiến Bob thay đổi được cách nh́n cũ của
anh ta".
Ai có thể trách cứ được Bob Anson về việc anh muốn từ chức sau khi
đọc được những điều mà anh hiểu rằng Clark đă công khai muốn đuổi
anh đi. Đó là lư do tại "sao anh đă đi t́m gập một người bạn thân
nhất của ḿnh ở Việt Nam, ông Phạm Xuân Ẩn.
Giống như hầu hết các phóng viên ở Sài G̣n, Anson khâm phục Phạm
Xuân Ẩn v́ các mối quan hệ của ông trong Phủ Tổng thống và Bộ Tổng
tham mưu quân đội Sài G̣n. Phạm Xuân Ẩn dường như biết tất cả mọi
người và mọi điều xảy ra ở Sài G̣n, đồng thời luôn sẵn sàng giúp đỡ
các phóng viên Mỹ t́m hiểu về đất nước ông. Đôi khi Phạm Xuân Ẩn
nhặt được những mẩu tin hấp dẫn về an ninh chỉ sau sự kiện vài giờ.
Tại phân xă các toà báo nước ngoài người ta đồn rằng Phạm Xuân Ẩn là
cựu nhân viên mật vụ dưới thời Ngô Đ́nh Diệm, một điệp viên của Pháp,
một nhân viên CIA, một điệp viên của chính quyền Sài G̣n, hoặc là
cùng lúc làm điệp viên cho tất cả các cơ quan nói trên.
Nhưng c̣n có một nguyên nhân khác khiến Anson hay t́m đến gặp Phạm
Xuân Ẩn. Đó chính là việc ông có thể giảng giải rất hùng biện về cái
nơi mà Anson cũng như hầu hết các nhà báo khác đang sống, nhưng lại
hiểu biết rất ít về nơi đó. Việt Nam là một đất nước không chỉ có
chiến tranh, mà c̣n có một bề dày lịch sử phong phú, có những bài
học mà ít người có thời gian để học. Anson nhớ lại: "Cũng có một vài
người cảm thấy khó nói chuyện với ông Phạm Xuân Ẩn, chủ yếu là v́
ông quen với cách trả lời theo kiểu Việt Nam mỗi khi được hỏi. Đó là
nếu bắt đầu từ thế kỷ XV th́ phải theo cách giảng giải của ông từ
thời gian đó đến nay".
Phạm Xuân Ẩn khâm phục Bob Anson chính v́ cái cá tính mà Bob đă
khiến cho Marsh Clark ghét anh. Anson có phẩm chất của một người độc
lập quyết liệt.
Ông Ẩn hồi tưởng về những người bạn Mỹ mà ông từng gặp trong hai năm
sống ở California. Anson là người rất say sưa với những niềm tin của
ḿnh và không hề sợ nói ra những điều ngược lại. Phạm Xuân Ẩn nể
tính cách đo của Anson. Ông kể, có lần Anson dám thách thức các đồng
nghiệp Tạp chí Time về một lá cờ Mỹ lớn treo ở bên ngoài Văn pḥng
phân xă tại phố Hàn Thuyên. Time là một cơ quan báo chí độc lập chứ
không phải là một trụ sở chính thức của cơ quan chính phủ, Anson nói.
Do vậy, nên có hai lá cờ, một của Mỹ, một của Việt Nam Cộng hoà sóng
đôi.
Các đồng nghiệp ở Tạp chí Time liền miễn cưỡng làm theo ư kiến của
Anson. Nhưng sau đó, Anson lại thấy là cờ Mỹ th́ to hơn cờ của Việt
Nam Cộng hoà. Anh liền t́m gặp Đang - Trưởng pḥng hành chính quản
trị của Văn pḥng Tạp chí Time - yêu cầu phải t́m một lá cờ Việt Nam
Cộng hoà to hơn để có cùng kích thước với lá cờ Mỹ. Ông Đang miễn
cưỡng làm theo.
Phạm Xuân Ẩn quan sát và theo dơi diễn biến từ đầu nên tỏ ra khâm
phục người đồng nghiệp trẻ tuổi dám đấu tranh cho cả những vấn đề
chỉ mang tính biểu tượng. Phạm Xuân Ẩn nói với tôi: "Điều đó chứng
tỏ Anson hiểu được điều mà nhiều người Mỹ và một số người Việt Nam
đă quên mục đích của cuộc chiến tranh. Nhiều người Mỹ cho rằng lịch
sử của chúng tôi là không quan trọng, bởi v́ người Mỹ đă vạch ra kế
hoạch về một tương lai tươi sáng cho chúng tôi".
Phạm Xuân Ẩn giải thích: Tất nhiên có tiếng nói của Anson ở Văn
pḥng Tạp chí Time vẫn tốt hơn. Bởi v́ theo quan điểm của ông, Anson
là người am hiểu lịch sử, văn hoá, và con người Việt Nam hơn các
phóng viên khác của Tạp chí Time, đặc biệt là Marsh Clark và Burt
Pines. Tạp chí Time cần những con người như Bob Anson và sẽ là rất
không tốt nếu để mất Anson. Đáng tiếc là lúc đó Frank McCulloch
không c̣n ở đó, v́ khi McCulloch mới đến Việt Nam, cách nghĩ của ông
ta cũng giống hệt như của Marsh Clark. Nhưng khi kết thúc nhiệm kỳ
rời Việt Nam, McCulloch lại có quan điểm giống hệt Anson.
Frank McCulloch dù đứng ở đâu cũng dễ bị nhận ra chỉ v́ cái đầu cạo
trọc của anh ta. Bởi vậy, trẻ đánh giầy, dân bán hàng dạo ở Sài G̣n
thường gọi Frank McCulloch là "sư cụ". McCulloch lần đầu tiên đến
Sài G̣n tháng 1/1964. Trong nhiệm kỳ bốn năm làm việc tại Văn pḥng
Tạp chí Time -life khu vực Đông Nam Á ở đây, McCulloch chứng kiến
bảy lần thay đổi người đứng đầu chính quyền Sài G̣n. Thời kỳ cao
điểm nhất, McCulloch phát về tổng xă số tin bài tổng cộng 50.000 từ
mỗi tháng bằng máy telex. Frank McCulloch là người được các nguồn
tin tin cậy, đồng nghiệp tôn trọng, nhân viên dưới quyền trung thành.
V́ vậy McCulloch được mệnh danh là nhà báo của các nhà báo.
McCulloch cho rằng mỗi phóng viên làm việc ở Việt Nam đều phải trải
qua những giai đoạn khác nhau về quan điểm, nhận thức. "Giai đoạn
một: Rất hứng khởi với niềm tin rằng người Mỹ có thể bảo vệ được
người Việt Nam, người Việt Nam thực sự muốn được bảo vệ và biết ơn
người Mỹ. Giai đoạn hai (thường khoảng ba tháng sau): Chúng ta có
thể làm được điều đó, nhưng công việc trở nên khó khăn hơn tôi tưởng
lúc đầu và hiện tại đang được lên giây cót. Giai đoạn ba (khoảng từ
sáu đến chín tháng sau): Người Việt Nam (luôn luôn là người Việt chứ
không bao giờ là người Mỹ) đang thực sự phải lên giây cót. Giai đoạn
bốn (mười hai đến mười lăm tháng sau): Chúng ta đang thất bại tồi tệ
hơn nhiều so với điều tôi tưởng. Giai đoạn năm: Bất lực. Người Mỹ
không nên đến đây và chúng ta đang làm những điều tai hại nhiều hơn
là điều tốt":
Khi McCulloch bước vào giai đoạn cuối cùng của đời phóng viên ở Việt
Nam, anh đă gửi về tổng xă một bài viết về sự tăng quân ồ ạt vào
Việt Nam năm 1965.
Thông tin này McCulloch lấy được từ các mối quan hệ của anh trong
hải quân Mỹ đúng bốn tuần trước khi được công bố. (Phạm Xuân Ẩn cũng
từng được nhận một Huân chương Chiến công v́ đă rút ra kết luận
giống như vậy trong các báo cáo của ông gửi ra cho Hà Nội). Vậy mà
cấp trên của McCulloch ở New York đă từ chối đăng bài viết này của
anh chỉ v́ đích thân Tổng thống Mỹ yêu cầu không đăng. Tổng biên tập
Tạp chí Tim Hedley Donovan sau này nói với McCulloch rằng bản thân
ông đă nhận được điện thoại trực tiếp từ Tổng thống Mỹ Johnson nói:
"Donovan, Tổng thống Hoa Kỳ đây… Ông có một cậu phóng viên đầu trọc
lần ṃ khắp nơi dưới nắng nhiệt đới mà cứ để đầu trần đấy. Tay phóng
viên này làm rối tung rối mù lên. Ông phải rút tay phóng viên này ra
khỏi Việt Nam ngay!".
Vào cuối năm 1967, khi McCulloch rời Việt Nam, quan điểm của anh
không khác mấy so với quan điểm của Anson về cuộc chiến tranh. Bằng
chứng là vào ngày 8/6/1967, phát biểu tại một buổi lễ khai giảng ở
Trường Đại học Nevada, McCulloch nói: "Tôi quen biết một sĩ quan
Việt Nam Cộng hoà từng tham chiến trong một phần tư thế kỷ, một kẻ
giết người chuyên nghiệp, thế mà rất lạ là vẫn không tin tưởng người
Mỹ. Đó là một người đàn ông nhẹ nhàng và sâu sắc. Một hôm tôi hỏi
người sĩ quan: Theo anh th́ tương lai sẽ ra sao. Người sĩ quan nhún
vai và chỉ cười. Sau đó ông ta nói: Có lẽ tiếp đến chúng tôi phải
đánh người Mỹ thôi. Thấy tôi sửng sốt, người sĩ quan nói tiếp: "Khi
tôi 19 tuổi, người Nhật Bản kéo vào nước tôi và bảo chúng tôi rằng
Nhật Bản là bạn của Việt Nam, đến đây để giải phóng chúng tôi khỏi
đám người da trắng. Nhưng thực tế, người Nhật không phải là những
người đến giải phóng chúng tôi và chúng tôi đă phải kháng Nhật. Khi
cuộc kháng chiến chống Nhật Bản vừa kết thúc, người Pháp trở lại bảo
chúng tôi rằng lần này người Pháp đến Việt Nam không phải là những
ông chủ thực dân, mà là những người bạn. Nhưng chúng tôi đă phải
đánh họ suốt chín năm, đến tận 1954 mới kết thúc và người Pháp phải
cuốn gói ra đi. Những người Cộng sản th́ không phải đến, mà họ đă
sẵn ở đây, cũng nói họ là bạn của chúng tôi, nhưng từ năm 1955 chúng
tôi đă phải đánh nhau với họ. Điều lạ là tôi thực sự không muốn đánh
bất kỳ ai trong số nói trên và tôi cho rằng hầu hết họ cũng không
muốn đánh chúng tôi. Bây giờ người Mỹ đang ở đây với tư cách những
người bạn, những người giải phóng của chúng tôi. Tôi tự hỏi liệu có
ai trong số chúng ta học được điều ǵ từ lịch sử đă từng diễn ra ở
Việt Nam hay không?" Tôi không thể trả lời câu hỏi của người sĩ quan".
Chiến lược đa gọng ḱm của Hà Nội là bằng mọi cách tranh thủ được dư
luận Mỹ. Phạm Xuân Ẩn hiểu rằng có Anson trong Tạp chí Time sẽ rất
lợi, v́ nhà báo này đưa ra các thông tin về chiến tranh giống như
quan điểm của Phạm Xuân Ẩn. Đó là không tô vẽ cho những thắng lợi,
mà mô tả cuộc chiến tranh như một cái thùng không đáy. Phạm Xuân Ẩn
quả quyết rằng ông không hề t́m cách gây ảnh hưởng đối với cách nghĩ
của Anson. Ông nói với tôi: "Anson đă dành khá nhiều thời gian ra
ngoại ô Sài G̣n và vào các thôn làng, nói chuyện với những người dân
địa phương. Anson đă học được nhiều điều qua những chuyến đi ấy hơn
là học từ tôi". Sau này, chính Anson cũng nói với tôi: "Tôi chưa bao
giờ cảm thấy ḿnh bị Phạm Xuân Ẩn lôi kéo. Ông Phạm Xuân Ẩn có thể
chỉ trích bên này, bên kia một cách có dụng ư. Nhưng ngay từ khi tôi
đặt chân đến Sài G̣n, th́ cả ông Phạm Xuân Ẩn và tôi đều đă có quan
điểm chống chiến tranh rồi cơ mà".
Phạm Xuân Ẩn lắng nghe lời của Diane cầu xin giúp đỡ t́m kiếm chồng
ḿnh, ông nghĩ tới nghĩ lui về cái ngày ở tiệm cà phê Givral. Ông đă
bảo Anson xé lá đơn xin từ chức đó đi. Nếu ông không khuyên Anson
như vậy, rất có thể hôm nay biết đâu gia đ́nh Anson lại chẳng đang
cùng nhau đi nghỉ ở Singapore hay Bali. Vài tuần sau khi Anson gặp
ông ở tiệm cà phê Givral, Marsh Clark gọi Anson tới văn pḥng của
ông ta - nơi có treo trên tường một tấm bản đồ Đông Dương khổ lớn.
Clark chỉ vào Việt Nam, đoạn quay sang nói với Anson: "Tôi phụ trách
đưa tin khu vực này". Sau đó ông ta chỉ sang vị trí nước Lào và
Campuchia nói: "C̣n hai nước này thuộc về anh phụ trách". Kết thúc
buổi làm việc hôm ấy, Clark bảo Anson đóng gói đồ đạc để ra sân bay:
"Tôi không muốn thấy cái mặt anh ở đây nữa".
Phạm Xuân Ẩn cố t́m lời an ủi Diane bằng cách nói rằng ông sẽ làm
tất cả mọi điều có thể để giúp đỡ, nhưng trong ḷng th́ ông cũng
nghĩ rằng bạn ḿnh có thể không c̣n nữa. Chính v́ thế mà ông thấy
ḿnh càng phải có trách nhiệm hơn.

Lúc nào người ta cũng thấy ông Ẩn dắt theo con chó King. Khi ông
viết báo cáo mật và chụp các tài liệu mật th́ con chó này cũng đứng
nh́n ông (ảnh trong Bộ sưu tập cá nhân của Phạm Xuân Ẩn)
Nếu Anson trước đó từ chức th́ anh đă không phải sang Campuchia.
Phạm Xuân Ẩn hứa với Diane rằng ông sẽ tiếp tục kiểm tra các nguồn
tin. Ông cũng không ngăn cản việc Diane dán h́nh Anson với những lời
t́m kiếm bằng 3 thứ tiếng lên những cây cổ thụ dọc các đường phố mà
Bob thường qua lại trước khi anh mất tích.
Sau khi Diane và hai đứa nhỏ rời văn pḥng của ông, Phạm Xuân Ẩn suy
nghĩ mông lung về người bạn Bob Anson của ḿnh. Ông biết rơ những
điều cần làm, nếu không cẩn thận có thể làm hỏng sứ mệnh của ḿnh.
Nhà t́nh báo hàng dầu của Hà Nội ở Sài G̣n chấp nhận rủi ro bị lộ
tẩy để cứu mạng sống cho một phóng viên người Mỹ. Ông biết rằng nếu
Bob Anson chết, người Việt Nam cũng mất đi một người bạn chân chính.
Trong ḷng ngập tràn trách nhiệm nặng nề về sự mất tích của Anson,
Phạm Xuân Ẩn quyết tâm t́m bằng được câu trả lời về việc Anson c̣n
sống hay đă chết.
Việt Nam và Campuchia từ lâu từng là những người láng giềng không
thân thiện của nhau. T́nh h́nh trở nên xấu hơn kể từ tháng 3/1970
khi tướng Lon Nol lật đổ Hoàng thân Sihanouk để lập nên một chính
phủ quân sự do chính Lon Nol đứng đầu.
Sihanouk vốn là người trung lập, nhưng đành phải nhượng bộ để làm
hài ḷng cả phe Cộng sản lẫn phe không Cộng sản. Sihanouk cho phép
Mỹ bí mật ném bom Việt Cộng, nhưng lại cung cấp nơi trú ẩn ngay
trong lănh thổ Campuchia cho Bắc Việt Nam. Ông ta c̣n cho phép cộng
sản Việt Nam sử dụng hải cảng Sihanoukville của Campuchia để vận
chuyển tiếp viện cho đội quân của họ đang đóng ở những "vùng đất
thánh".
Chỉ một tháng sau cuộc đảo chính quân sự, Lon Nol tổ chức một cuộc
thanh trừng sắc tộc đối với những người dân tộc thiểu số Việt Nam
sinh sống tại Campuchia. Phóng viên Sydney Chanberg của tờ New York
Times đă chứng kiến quân dội của Lon Nol giết hai người bị t́nh nghi
là Việt Cộng rồi đem treo ngược đầu thi thể bị cháy sém của họ tại
một quảng trường ở trung tâm thành phố. Làm như vậy, Lon Nol nhằm
đưa ra một thông điệp răn đe cho tất cả những ai c̣n đang cân nhắc
việc giúp đỡ Cộng sản. Chứng kiến cảnh này, một đồng nghiệp của
Sydney Chanberg lâm việc cho Tạp chí Time là Henry Kamm liền nói với
viên chỉ huy Campuchia rằng hành xử với các tử thi như vậy là vi
phạm Công ước Geneva. Viên chỉ huy chỉ cười. Một viên tướng tên là
Sosthene Fernandez người Campuchia gốc Philippines sau này leo lên
đến chức tư lệnh các lực lượng vũ trang bắt đầu sử dụng những thường
dân trong nhóm người dân tộc Việt thiểu số làm bia đỡ đạn cho quân
đội Campuchia mỗi khi họ mở những đợt tấn công vào trận địa của Việt
Cộng. Viên tướng này nói: "Đó là một kiểu chiến tranh tâm lư mới".
Chính quyền Nixon luôn lo ngại rằng nếu Campuchia trở thành một căn
cứ của Cộng sản Việt Nam, công cuộc Việt Nam hoá chiến tranh có thể
sẽ thất bại. Ngày 30/4/1970, Richard Nixon tuyên bố 6.000 lính quân
đội Việt Nam Cộng hoà được sự hỗ trợ của các máy bay ném bom, trọng
pháo và các cố vấn Mỹ đă xâm lược khu vực Mỏ Vẹt - một khu rừng già
rậm rạp ở vùng đông nam Campuchia, kéo dài xuống miền Nam Việt Nam.
Đây là nơi được đồn đại là đại bản doanh của Trung ương Cục miền
Nam. Cuộc hành quân này là một nỗ lực nhằm làm trung lập hoá việc
Bắc Việt Nam sử dụng lănh thổ Campuchia. Trong bài phát biểu với dân
chúng Mỹ, Nixon công bố. "Đêm nay, các đơn vị quân đội Mỹ và Việt
Nam Cộng hoà sẽ tấn công các tổng hành dinh nơi chỉ huy toàn bộ hoạt
động quân sự của Cộng sản ở miền Nam Việt Nam. Việc vùng đất trung
tâm kiểm soát chủ chốt này bị Bắc Việt và Việt Cộng chiếm đóng trong
5 năm qua là một sự vi phạm trắng trợn nền trung lập của Campuchia".
Chỉ một năm trước đó thôi, Tổng thống Nixon đă từng hứa sẽ kết thúc
sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam. Thế mà nay ông ta lại mở rộng cuộc
chiến sang cả nước láng giềng Campuchia.
Một ngày sau khi Nixon phát biểu trước quốc dân Mỹ, Phạm Xuân Ẩn gửi
cho Anson một bịch tài liệu, trong đó có bản dịch sang tiếng Anh một
tập tài liệu thu được của Việt Cộng. Đây là loại tài liệu mà các
phóng viên dễ dàng tiếp cận, nhưng Phạm Xuân Ẩn cung cấp thêm cả lời
b́nh luận cho đồng nghiệp của ḿnh - người vừa mới trở về Sài G̣n
nghỉ cuối tuần.
Tập tài liệu này là một kế hoạch trận đánh tháng 7/1969 thu được
tháng 10/1969, trong đó Bắc Việt dự đoán rằng với sự thất bại của kế
hoạch Việt Nam hoá chiến tranh, Nixon có thể chuyển hướng chú ư sang
Campuchia. Phạm Xuân Ẩn khoanh tṛn một đoạn trong tài liệu và gạch
chân câu cuối cùng viết ngang trang giấy: "Bọn Mỹ chết tiệt. Chúng
bay đọc mà chẳng bao giờ chịu học".
Đoạn văn bản trong tài liệu mà Phạm Xuân Ẩn khoanh tṛn gửi cho
Anson viết: "Nếu các cuộc tấn công của ta trên tất cả các mặt mà
không đủ hiệu quả; nếu tạm thời Mỹ có khả năng vượt qua một phần khó
khăn, chúng sẽ cố gắng kéo dài cuộc chiến tranh ở Nam Việt Nam thêm
một thời gian nhất định nữa. Trong thời gian đó, chúng sẽ xuống
thang ở một số mặt và thực hiện phi Mỹ hoá chiến tranh kéo dài đến
khi chúng phải thừa nhận thất bại và chấp nhận một giải pháp chính
trị. Trong cả hai trường hợp này, đặc biệt là trong trường hợp phải
xuống thang kéo dài, trong những hoàn cảnh nhất định, Mỹ có thể gây
áp lực đối với chúng ta bằng cách đe doạ mở rộng cuộc chiến tranh
sang Campuchia".
Cuộc hành quân sang Campuchia đă gây ra sự hoảng sợ đối với những
người dân tộc thiểu số Việt đang sinh sống ở đây. Chính phủ Lon Nol
bắt đầu khơi dậy cơn sốt chống Việt Nam. Theo đó, một trong những
chiến dịch thanh trừng sắc tộc của Lon Nol đă diễn ra tại thị xă
Takeo - nơi nổi tiếng là một căn cứ của Cộng sản. Tại đây, thường
xảy ra những cuộc phản đối chống chế độ Lon Nol. Hơn hai trăm thường
dân, trong đó có nhiều trẻ em bị phía Campuchia xác định là Việt
Cộng, đă bị vây ráp và bắt giam giữ trong một trại tập trung ở Takeo.
Ba tiểu đoàn lính dù Campuchia được huy động canh gác những người
Việt này. Anson khi đó được phái sang Campuchia để viết bài vế sự
kiện nói trên. Cứ mỗi sáng Anson cùng với người cộng tác viên của
anh là Tim Allman lái xe hơi từ Phnôm Pênh đi Takeo để kiểm đếm số
lượng những người Việt bị giam giữ. Một thời gian sau, vào một đêm
lính Campuchia xả súng vào tất cả những người Việt Nam này. Đó là
một vụ thảm sát. Sáng hông sau, khi Anson và Allman lái chiếc xe
Ford Cortina màu trắng mà các anh thuê chạy đến nơi th́ đă thấy
những thi thể, người nọ nằm đè lên người kia giữa một vũng máu lớn.
Anson nhớ lại: "Lúc đầu tôi cứ nghĩ tất cả họ đă chết. Nhưng khi
bước lại gần hơn, tôi nh́n thấy một vài người cử động đồng thời nghe
thấy những tiếng kêu rên. Tôi đếm nhanh thấy khoảng hơn hai chục
người đàn ông và một bé trai c̣n sống đang nằm giữa đống thi thể
nhiều gấp ba lần họ. Ngoài những tiếng rên và tiếng ruồi nhặng bay
vo ve, xung quanh hoàn toàn vắng lặng. Một ông già bị bắn gẫy chân
cố gắng nói với chúng tôi rằng: Chúng nó bảo chúng tôi là Việt Cộng,
thực tế chúng tôi chỉ là những người bán hàng. Các ông hăy đưa chúng
tôi ra khỏi đây ngay, nếu không đêm nay, chúng quay lại sẽ giết chết
hết những người c̣n sống sót trong chúng tôi. Xin các ông hăy đưa
chúng tôi ra khỏi đây". Anson quỳ xuống gần một bé trai chừng tám
tuổi. "Khuôn mặt cậu bé trắng bệch như phấn. Tôi đặt bàn tay lên
ngực bé thấy c̣n nhịp thở phập phồng. Vạch mảnh trong quấn quanh
người bé lên, tôi nh́n thấy một vệt dài năm sáu lỗ đạn xuyên từ hông
đến mắt cá chân bé". Anson và Allman quyết định chở chú bé tới bệnh
viện ở Phnôm Pênh, đồng thời gọi thêm các phóng viên khác tới đưa
những người bị thương đi, nếu không, lính Campuchia trở lại sẽ giết
hết những người c̣n sống sót. Anson và Allman xếp những người bị
thương càng nhiều càng tốt vào xe hơi rồi chở họ về Phnôm Pênh. Một
bệnh viện của Pháp tại Phnôm Pênh đă chấp nhận chữa cho chú bé bị
thương. Allman nán lại bệnh viện để trông coi đứa trẻ và hứa sẽ trở
lại Takeo ngay sau khi biết chắc vết thương của bé có thể chữa khỏi.
Anson chạy thẳng về khách sạn để gặp đoàn phóng viên mới tới. Anh
hét to: "Xuống Takeo ngay. Người ta đang bắn giết người Việt Nam.
Gọi cả những nhà báo khác nữa".
Henry Kamm của báo New York Times và Kevin Buckley của Tạp chí
Newsweek đề nghị được lái xe chở Anson tới Takeo. Đúng lúc các nhà
báo đến nơi, một tốp lính Campuchia đă quay lại. Một tên có vẻ là
chỉ huy nói: "Chúng tôi chẳng có ǵ phải giấu giếm. Chúng tôi chỉ
thực hiện cái điều cần phải làm thôi. Tất cả bọn chúng đều là Việt
Cộng". Anson hỏi gần đây có bệnh viện nào không? Tên lính trả lời: "Có.
Nhưng không phải để cho những người này". Anson yêu cầu phải ngừng
ngay việc giết trẻ em vô tội. Nhóm lính Campuchia phá lên cười, nói
rằng chúng chỉ giết Việt Cộng thôi.
Trời tối dần. Allman lái chiếc xe Cortina chở đầy các nhà báo trở
lại để viết bài về vụ thảm sát. Anson yêu cầu mỗi nhà báo mang một
cháu bé về Phnôm Pênh. nhưng Keyes Beech, một phóng viên cao cấp
được kính nể, từng đoạt giải thưởng Pulitzer về đưa tin quốc tế năm
1951 nói: "Đừng dính vào việc này. Nếu chúng ta mang những người này
đi theo tức là đă can dự vào rồi. Đó không phải là việc của chúng ta".
Anson chẳng t́m được ai giúp sức đưa đứa trẻ đi cấp cứu. Măi một lúc
sau chỉ có mỗi Kenvin Buckley tới nói muốn giúp một tay. Anson nhớ
lại: "Các phóng viên khác chỉ đứng nh́n chúng tôi một lúc rồi lần
lượt bỏ đi. Buckley, Anson, và Allman nhồi nhét được năm đứa trẻ và
ba người lớn vào chiếc xe Cortina. Allman lái xe chở họ đi bệnh viện
và hứa sẽ quay trở lại vào rạng sáng mai. Tại đó vẫn c̣n nhiều người
c̣n sống. Anson hiểu rằng nếu để mặc họ nơi đây sẽ không an toàn cho
tính mạng của họ. Những người Việt Nam này cần được bảo vệ và trông
coi.
Kevin Buckley t́nh nguyện ở lại cùng với Anson, "Đă thương th́
thương cho chót".
Đêm đến, đám lính Campuchia chuẩn bị cuộc thảm sát cuối cùng của
chúng. Anson bắt đầu sợ, linh cảm thấy sự có mặt của hai nhà báo Mỹ
cũng không thể ngăn cản được những người Campuchia. Đúng lúc đó, có
tiếng xe hơi đang đến gần. Th́ ra đó là xe của Bernard Kalb, phóng
viên của hăng CBS cùng cả nhóm làm phim từ Phnôm Pênh lên để chở vài
người bạn ra khỏi Takeo. Nhận ra hai đồng nghiệp, Bernard Kalb nói:
"Các cậu cho rằng đứng đây là có thể ngăn chặn được đám lính
Campuchia hành quyết những người đó sao? Nếu chúng đă có ư định giết
những người Việt này, th́ chúng sẽ giết họ thôi. Và khi đó th́ cả
các cậu cũng không thoát".
Anson không muốn đi, nói rằng anh không nỡ bỏ mặc những đứa trẻ Việt
Nam ở lại. Bernard Kalb liền đặt bàn tay hộ pháp của anh lên vai
Anson có vẻ như để an ủi động viên đồng nghiệp. Nhưng không, bàn tay
của người khổng lồ đă túm chặt lấy cổ Anson rồi cùng với các phóng
viên truyền h́nh khiêng Anson ấn vào xe hơi.
Henry Kamm - người sau này được nhận giải thưởng Pulitzer về loạt
bài anh viết về những thuyền nhân Việt Nam và những người di tản từ
Campuchia và Lào - đă có bài đăng trên trang nhất báo New York Times
về vụ thảm sát người Việt Nam ở Campuchia. Trong đó, anh nêu rơ nhà
báo Anson đứng đầu một nhóm người t́m cách cứu Việt Cộng. Những bài
báo viết về vụ thảm sát nói trên đă làm dấy lên sự căm phẫn ở Sài
G̣n, đặc biệt là trong đám phi công quân lực Việt Nam Cộng hoà.
Những phi công này thường vẫn tổ chức những đợt tấn công vào các vị
trí của Bắc Việt ở Campuchia. Giờ đây họ sôi sục đi bắn phá và dội
bom xuống các làng mạc Campuchia để trả đũa vụ thảm sát.
Bob Anson ṣn sống, nhưng suưt nữa th́ bị giết chết. Theo lời kể của
Anson th́ anh bị quân đội Bắc Việt Nam bắt sống tại địa điểm bên kia
một con sông trên đất Campuchia cách thị trấn Skoun vài kilômet do
anh không để ư đến hai hoặc ba trạm gác trên đường. Sau này, Phạm
Xuân Ẩn nói với tôi: "Anson rất thiếu thận trọng. Ông ấy luôn lái xe
chạy quá nhanh. Đối với người đàn ông có một gia đ́nh trẻ mà như vậy
là quá liều lĩnh".
Điều kiện hoạt động nghiệp vụ của các phóng viên chiến trường ở
Campuchia và Việt Nam khác nhau rất nhiều. Tại Việt Nam, các phóng
viên được đi cùng với xe quân sự của Mỹ hoặc của quân đội Việt Nam
Cộng hoà và thường được lính vũ trang che chắn, giúp đỡ. Trong khi
đó, tại Campuchia, các phóng viên phải thuê xe giống như loại Ford
Cortina hoặc Mercedes chạy bằng dầu diesel để tự lái và chẳng có sự
hỗ trợ nào của quân đội. Nếu xe mà chết máy giữa đường th́ phóng
viên bị mắc kẹt và sẽ chẳng có ai đến cứu. Do vậy, điều đầu tiên cần
chú ư khi đi lấy tin ở Campuchia là phải làm sao để tới được vùng
chiến sự sau đó trở về mà không bị bắn hoặc bị bắt sống. Nhà báo
phải tự lái xe từ Phnôm Pênh xuống vùng chiến sự. Dọc đường vắng
tanh không hề có an ninh bảo vệ. Nhiều khi đến nơi rồi mà phóng viên
cũng chả biết phải làm ǵ.
Sau khi bị bắt, Anson bị người ta tống xuống một cái hố có sẵn, ấn
vào tay một dụng cụ đào công sự và bị yêu cầu phải đào cho sâu hơn.
Anson cảm thấy như anh đang tự đào hố chôn ḿnh. Hy vọng chỉ bị bắn
vào ngực chứ không phải vào đầu, Anson cầu mong cho thi thể của anh
sẽ được t́m thấy. Anson nghĩ về Diane: "Cô ấy là một phụ nữ c̣n trẻ
sống xa nhà, không có chút kỹ năng chợ búa nào, lại c̣n có hai con
nhỏ… Lạy Chúa, con thật có lỗi v́ những ǵ đă làm đối với mẹ con cô
ấy". Anson cũng nghĩ tới những người đồng nghiệp bị mất tích San
Flynn và Dana Stone; Anson lầm rầm cầu nguyện câu lạy Đức Mẹ đồng
trinh. Rồi anh bị ra lệnh lên đứng bên miệng hố. Một họng súng AK dí
vào trán anh. Tiếng kim loại của khoá c̣ súng kêu đánh rạch. V́ quá
hoảng sợ, nước tiểu chảy thành ḍng từ lúc nào theo ống quần ướt
xuống chân anh. Anson kêu lên những lời cuối cùng bằng tiếng Việt: "Hoà
b́nh, hoà b́nh". Có ai đáp lại cũng bằng một từ tiếng Việt: "Hoà
b́nh", tiếp đó là một sự im lặng. Hôm ấy Anson đă không bị giết.
Những ngày tiếp sau đó là quăng thời gian đầy sợ hăi đối với Anson.
Những người đă bắt anh không tin rằng anh là nhà báo. Họ nghĩ anh là
một phi công Mỹ bị bắn rơi. Anson mang theo ḿnh một cuốn sổ tay của
phóng viên trong đó có đoạn anh ghi chép nội dung một cuộc phỏng vấn
cách đó không lâu với một lính mũ nồi xanh. Anh đă ghi bằng chữ viết
hoa "USAF" (Không lực Hoa Kỳ - ND) để xác định những vị trí mà Mỹ đă
ném bom xuống Campuchia. Đối với những người đă bắt Anson, th́ những
chữ viết hoa này là dễ hiểu nhất. Những ngày và đêm tiếp theo, Anson
bị dẫn giải đi. Khi th́ phải đi bộ, lúc th́ chạy xuyên qua những địa
h́nh rừng già dọc đường ṃn Hồ Chí Minh trong tư thế tay bị trói.
Anh nghĩ chắc những người lính Bắc Việt đang dẫn giải anh ra Hà Nội
để nhốt chung với những phi công khác tại "Khách sạn Hilton" (Nhà tù
Hoả Ḷ - Hà Nội, nơi giam giữ phi công Mỹ bị bắt giữ trong những năm
chiến tranh phá hoại miền Bắc - NXB) nếu anh c̣n sống được đến lúc
đó.
Cuộc đi bộ bắt buộc đă dẫn Anson đến một ngôi làng nhỏ. Tại đây,
Anson bị một người sĩ quan nói được tiếng Anh thẩm vấn. Anson bị yêu
cầu phải khai mọi chi tiết về đời sống cá nhân và nghề nghiệp, không
được che giấu điều ǵ. Anson bắt đầu khai ra hàng loạt thông tin về
hoàn cảnh cá nhân, lai lịch gia đ́nh, học vấn. Bỗng người sĩ quan
thẩm vấn nêu câu hỏi về tên con gái của Anson là Christian Kennedy
Anson có phải đă được đặt theo tên của John Kennedy - Tổng thống Mỹ
từng là người đầu tiên đưa quân vào Việt Nam hay không? Anson đáp
lại một cách rành rọt: "Không. Tên cháu được đặt theo tên của Robert
Kennedy là người muốn chấm dứt chiến tranh".
Anson tự giới thiệu ḿnh là phóng viên của Tạp chí Time, không phải
là lính chiến. Đồng thời, anh tŕnh ra những thông tin về các mối
liên hệ của anh có thể kiểm chứng được. Bỗng người sĩ quan thẩm vấn
reo lên: "A! Time là một ấn phẩm rất quan trọng của Mỹ. Nhưng có lẽ
không quan trọng bằng New York Times, nhưng lại quan trọng hơn Tạp
chí Newsweek. Đúng không?" Anson đáp: "Vâng, đúng" và mỉm cười,
tưởng tượng đến phản ứng của Arnaud (de Borchgrave) nếu anh có cơ
hội để kể chuyện này cho ông ấy nghe.

Ngày 25/1/1962 là ngày cưới của Thu Nhàn và Phạm Xuân Ẩn (ảnh
trong Bộ sưu tập cá nhân của Phạm Xuân Ẩn)

Phạm Xuân Ẩn cùng với bốn người con của ông: Hoàng Ân (tức Phạm
Ân, con cả, b́a phải), Hoàng Vũ bên phía tay phải ông Ẩn, Hoàng An
bên phía tay trái, và Thanh B́nh, con gái (ảnh trong Bộ sưu tập cá
nhân của Phạm Xuân Ẩn)
Tại Sài G̣n, sau cuộc gặp đầy xúc động với Diane Anson, Phạm Xuân Ẩn
trở về nhà. Đêm hôm đó, chờ cho đến khi các con đă đi ngủ, Phạm Xuân
Ẩn đặt mấy hạt gạo và đổ một ít nước bên chiếc th́a rồi đưa lên lửa
nấu cho đến khi gạo trở thành một chất hồ sền sệt. Bên cạnh ông, con
chó Đức và bà Thu Nhàn vợ ông đứng nh́n. Phạm Xuân Ẩn nhúng ng̣i bút
vào th́a cháo đặc, rồi bắt đầu viết lên một tờ giấy gói thông thường.
Vài phút sau mực bay hơi biến mất, nhưng ông vẫn tiếp tục viết giống
như ông đă từng làm cứ vài tuần một lần như vậy trong suốt một thập
kỷ qua.
Bà Thu Nhàn làm việc tại một trung tâm sản xuất hàng thủ công Sài
G̣n ở gần tiệm cà phê Givral, khi lần đầu tiên gặp ông Phạm Xuân Ẩn,
bà kể: "Lần đầu tiên gặp ông Phạm Xuân Ẩn, tôi nghĩ ông là người có
học, trông rất trí thức và có phong cách lịch lăm. Ông ấy là người
dễ gần và rất hay nói đùa". Hai người yêu nhau được sáu tháng th́
làm lễ cưới vào ngày 25/1/1962. Bà Thu Nhàn nhớ lại: "Có rất nhiều,
rất nhiều nhà báo đến dự lễ cưới của chúng tôi". Sáu tháng sau, Phạm
Xuân Ẩn nói với vợ rằng ông cũng làm việc cả cho cách mạng nữa. Điều
này đă khiến con tim bà rạo rực hẳn lên. Bà Thu Nhàn kể: "Khi c̣n ở
bậc tiểu học, tôi rất thích học môn lịch sử, những bài giảng về
những cuộc nổi dậy ở đất nước tôi chống giặc ngoại xâm… Trong máu
tôi đă sẵn có t́nh yêu đất nước v́ thế mà cho đến nay tôi vẫn c̣n
nhớ những bài hát, bài thơ ca ngợi, đề cao chủ nghĩa yêu nước". Bà
Thu Nhàn luôn sẵn sàng làm tất cả mọi điều để ủng hộ sự nghiệp của
chồng ḿnh. "Khi biết chồng tôi đang thực hiện những hoạt động bí
mật cho cách mạng và gánh vác những nhiệm vụ rất nặng nề và nguy
hiểm nhằm mang lại độc lập cho đất nước, tôi chấp nhận ngay sự
nghiệp của chồng để công tác cùng với chồng, sao cho an toàn và hiệu
quả nhất. Như chúng tôi thường nói, thuận vợ thuận chồng th́ bể Đông
tát cũng cạn". Bà Thu Nhàn thường đi cùng với ông Phạm Xuân Ẩn để
làm nhiệm vụ cảnh giới cho ông mỗi khi ông phải chuyển giao tài liệu.
Những lúc cần thiết, bà c̣n thức gần như trắng đêm cùng với chồng để
chụp ảnh các tài liệu bên dưới hai bóng phân tán tư tưởng bởi những
việc liên quan đến con cái gia đ́nh.
Bà Thu Nhàn nói với tôi rằng ông Phạm Xuân Ẩn đă giao hẹn với bà
rằng nếu ông có bị bắt, bà không cần phải đi chạy vạy xin xỏ cho ông
được thả ra, cũng không phải cậy nhờ ai giúp đỡ. Bởi v́ ông không
bao giờ phản bội lại các nguồn tin của ḿnh, đồng thời sẵn sàng hy
sinh. Bà Thu Nhàn cho biết ông Phạm Xuân Ẩn luôn mang bên ḿnh một
viên thuốc để khi cần có thể tự sát. Điều này khẳng định thêm lời mà
ông Phạm Xuân Ẩn đă nói với tôi nhiều lần. "Là một phụ nữ, tôi rất
lo ngại và sợ. Lúc nào tôi cũng ở trong t́nh trạng sẵn sàng đối phó
với trường hợp xấu nhất. Lúc nào tôi cũng cảm giác ḿnh như cá nằm
trên thớt".
Phạm Xuân Ẩn là người luôn tin ở sự may mắn và lần này Bob Anson đă
gặp may bởi v́ sáng hôm sau, ông Ẩn có hẹn gặp với bà Nguyễn Thị Ba,
một người liên lạc lâu năm của ông. Năm 1976, bà Nguyễn Thị Ba được
tuyên dương Anh hùng các lực lượng vũ trang. Chính ông Phạm Xuân Ẩn
đă lựa chọn bà Ba làm liên lạc cho ḿnh, v́ ông tin rằng chỉ có phụ
nữ làm liên lạc th́ mới dễ che mắt được đối phương. Bà Nguyễn Thị Ba
lớn hơn ông Ẩn 12 tuổi, mồm luôn bỏm bẻm nhai trầu, nên không hề gây
ra sự chú ư nào đối với người khác. Trước khi lựa chọn bà Ba làm
liên lạc cho ḿnh, Phạm Xuân Ẩn đă từ chối chín người khác. Bà
Nguyễn Thị Ba kể cho tôi nghe: "Trước khi được gặp ông Ẩn lần đầu
tiên, tôi được mọi người cho biết ông này chẳng giống ai cả đâu, cho
nên phải chuẩn bị tinh thần sẽ bị ông từ chối. Ông Phạm Xuân Ẩn là
người rất đặc biệt và luôn đ̣i hỏi cao". Nhớ lại buổi gặp gỡ đầu
tiên, bà Ba kể rằng bà làm như người đang mang hoa đi lễ chùa. Theo
qui định trước, ông Phạm Xuân Ẩn chào bà: "Chào chị Bảy Ba". Bà đáp
lại bằng câu: "Chào anh Ba Ẩn". Nếu hai con số thứ tự trao đổi mà có
tổng là 10, th́ cả hai đều nhận nhau là người của cách mạng.
Suốt từ năm 1961 đến năm 1975, bà Ba là người liên lạc t́nh báo duy
nhất của ông Phạm Xuân Ẩn. Bà Nguyễn Thị Ba mang bí số nữ t́nh báo
B3 nhớ lại: "Mỗi tháng tôi gặp ông Ẩn ba, bốn lần để nhận tài liệu.
Tuy nhiên, trong t́nh h́nh khẩn cấp, mỗi tháng chúng tôi có thể gặp
nhau từ năm đến sáu lần. Khi đi nhận tài liệu từ phía ông Ẩn, tôi
thường trong vai một người bán hàng rong, khi th́ bán rau xanh, lúc
bán tạp hoá, cất để dễ trà trộn trong đám đông. Nếu tài liệu ông Ẩn
trao mà ở dạng phim, ông thường cuộn lại rất nhỏ rồi giấu bên trong
một bánh xà pḥng hoặc bên trọng những chiếc nem chua". Bà Nguyễn
Thị Ba cố giải thích để cho tôi hiểu về chiếc nem chua, một món ăn
được làm bằng thịt sống gói trong lá chuối là thứ mà ông Ẩn rất hay
giấu những cuộn phim.
Anson đă may mắn thoát chết chỉ v́ Hà Nội đang chờ báo cáo phân tích
chi tiết của Phạm Xuân Ẩn về cuộc tấn công của Nixon vào Campuchia,
cũng như những thông tin cập nhật về sự huấn luyện và tinh thần của
quân đội Việt Nam Cộng hoà. Phạm Xuân Ẩn quyết định chỉ gửi một bức
điện với vài cuộn phim. Ông nêu yêu cầu cấp trên cung cấp cụ thể
những thông tin về một nhà báo Mỹ, đồng nghiệp của ông làm việc cho
Tạp chí Time, một người bạn của Việt Nam vừa bị bắt sống. Ông đề
nghị rằng nếu Bob Anson chưa chết, cần phải trả lại tự do ngay cho
anh ta, không cần hỏi lại ông giải thích rằng người Mỹ này đă cứu
nhiều mạng sống của trẻ em Việt Nam ở Takeo.
Ông Phạm Xuân Ẩn làm điều này là rất mạo hiểm v́ nếu chẳng may bà Ba
hoặc bất kỳ thành viên nào trong tổ t́nh báo khi đang vận chuyển báo
cáo của ông mà bị bắt, th́ vỏ bọc của ông bị lộ tẩy ngay tức khắc.
Chỉ có Phạm Xuân Ẩn mới dám đưa ra đề nghị về Anson như vậy. Điều đó
chứng tỏ những đánh giá cá nhân của ông với tư cách một sĩ quan t́nh
báo được đánh giá rất cao. Trong thời gian cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, cấp trên trực tiếp của ông là Tư Cang
thông báo với Phạm Xuân Ẩn rằng ông đă được tặng thưởng Huân chương
đặc biệt v́ những đóng góp của ông dẫn đến chiến thắng Ấp Bắc năm
1963, cũng như v́ những báo cáo của ông được cấp trên đánh giá cao.
Ông Tư Cang được cử vào Sài G̣n để làm việc với Phạm Xuân Ẩn nhằm
xác định những con đường thâm nhập vào thành phố. Chính ông Tư Cang
là người đă viết báo cáo thành tích của ông Ẩn để ông được trao tặng
Huân chương nói trên. Phạm Xuân Ẩn nói với tôi: "Ông biết không, đó
là lần đầu tiên tôi được nghe về những nhận xét của họ đối với những
báo cáo t́nh báo của tôi. Khi ông Tư Cang cho biết tôi đă được tặng
Huân chương về vụ Ấp Bắc, tôi đă biết rằng tôi chẳng bao giờ có thể
được đeo tấm Huân chương ấy cho đến khi chiến tranh kết thúc. Nhưng
giờ đây tôi quyết định đeo tấm Huân chương đó.
Ngày hôm sau, Phạm Xuân Ẩn đi chợ chim, thú cùng với con chó Đức của
ông luôn ở bên. Ông nổi tiếng khắp Sài G̣n là người nuôi chim cảnh
và huấn luyện chó giỏi. Những con chim, thú cũng tạo cho ông một vỏ
bọc t́nh báo tuyệt vời.
Phạm Xuân Ẩn c̣n huấn luyện được cả con chó cứ chạy đến tè vào những
gốc cây mà ông sử dụng làm hộp thư chết cho những lần trao đổi tin
tức t́nh báo. Ông có thể bất ngờ vắng mặt vài ngày vẫn không gây
nghi ngờ. Mỗi lần thấy ông vắng mặt, mọi người lại cho rằng ông đang
đi chợ chim, thú hoặc lại đang bận đi huấn luyện chó hay t́m mua bán
chó.
Chợ chim, thú lúc nào cũng đông nghẹt người. Tại đây người ta bán đủ
loại chim thú từ khỉ, vẹt, thỏ, chó, mèo, cá cảnh, và đủ loại chim.
Phạm Xuân Ẩn xem kỹ những con chim cu gáy châu Phi, bồ câu Pháp, cú
vọ vẹt chiền chiện, gà lôi đỏ, yến.
Biết bà Nguyễn Thị Ba sắp đến để liên lạc, Phạm Xuân Ẩn nấn ná chờ
tại quầy bán dơi. Vài phút sau, bà Ba tới và ông Phạm Xuân Ẩn bắt
chuyện. Hai người trao đổi về kinh nghiệm sử dụng tiết con dơi hoà
với rượu gạo để làm thuốc cổ truyền chữa trị bệnh lao. Phạm Xuân Ẩn
hướng dẫn tỉ mỉ cho người quen của ḿnh cách cắt tiết con dơi như
thế nào, pha chế thuốc ra sao. Trong lúc tṛ chuyện, thỉnh thoảng
ông lại mời bà một chút đồ ăn. Có lẽ, bà Ba mang về để ăn sau, v́
không thể nào ăn hết được tất cả những chiếc nem cuốn gói trong
những tờ giấy trắng này. Bà Ba cám ơn ông Ẩn rồi trao lại cho ông
một cái ǵ đó để toại ḷng nhau. Sau đó, họ chia tay mỗi người đi
một ngả. Phạm Xuân Ẩn trở về Văn pḥng Tạp chí Time c̣n bà Nguyễn
Thị Ba đi về hướng Củ Chi ngoại ô Sài G̣n. Tại đây, một mạng lưới hỗ
trợ tinh vi đang chờ bà Ba chuyển giao những gói nem cuốn. Trong gói
đó có cả những chỉ thị của ông Phạm Xuân Ẩn về thời gian, địa điểm
cho những cuộc gặp gỡ tiếp theo. Bà Nguyễn Thị Ba kể với tôi: "Mỗi
tháng, chúng tôi đặt thời gian cho một cuộc gặp chính và hai cuộc
gặp phụ. Mỗi cuộc cách nhau mười ngày. Mọi chuyện đều được đặt trước
vào các ngày chẵn 10, 20, 30 hằng tháng.
Nhưng các ngày luôn thay đổi nên không có một khuôn mẫu nào. Trong
trường hợp có việc rất khẩn cấp v́ đă biết nơi các con ông Phạm Xuân
Ẩn đang học nên tôi chỉ cần đến trước cổng trường chờ cho đến khi
ông Ẩn chở các con tới trường. Chỉ cần để cho ông Ẩn nh́n thấy tôi
là đủ, không cần nói với nhau câu ǵ. Như thế cũng đủ để ông ấy hiểu
có yêu cầu cấp bách về tin tức và tự ông sẽ lên hệ với căn cứ".
Bà Nguyễn Thị Ba thường chỉ mang gói thư của ông Phạm Xuân Ẩn đến
Hóc Môn nằm giữa chặng đường đến Củ Chi. Tại đây, bà chuyển tiếp gói
thư đó cho một người liên lạc khác. Bản thân bà rất ít khi đi Củ
Chi. Ngoài ra, giữa ông Phạm Xuân Ẩn và bà Nguyễn Thị Ba không hề có
kiểu liên lạc ǵ khác: không điện thoại, không điện đài vô tuyến
sóng ngắn, không thư tín. Ngày đó bà Ba chưa biết chữ. Bà cũng chẳng
cần biết ông Phạm Xuân Ẩn sống ở đâu. Đây thực sự là một cặp t́nh
báo viên thuộc loại cổ điển nhất và cũng là hiệu quả nhất trong lịch
sử.
Chuyến đi đến Củ Chi, cách Sài G̣n khoảng ba mươi kilômét về phía
tây bắc là chuyến đi nguy hiểm, v́ khu vực này có rất nhiều lính Mỹ
với những trạm kiểm soát dầy đặc. Dưới ḷng đất Củ Chi là một mạng
lưới địa đạo nhằng nhịt giống như mạng nhện. Vùng này là một dải đất
trải dài từ Sài G̣n đến biên giới Campuchia. Hệ thống địa đạo lúc
đầu được đào làm nơi ẩn náu của các du kích Việt Minh trong các trận
đánh chống Pháp. Từ giữa những năm 1960, Củ Chi đă trở thành một nơi
tự ôm vào ḿnh đủ thứ từ khu dân cư đến kho băi, nhà máy đạn dược,
bệnh viện, tổng hành dinh của t́nh báo quân sự. T́nh báo Mỹ biết rơ
tại đây có những đường địa đạo đang tồn tại nên Củ Chi là một trong
những nơi phải hứng chịu nhiều nhất những trận bom, hoá chất làm
rụng lá cây của Mỹ. Củ Chi cũng là một trong những quận bị tàn phá
nhiều nhất trong chiến tranh. Bà Hà Thị Kiện (tức Tám Kiện), một nữ
giao liên khác kể: "Chẳng c̣n ǵ ở đấy cả. Khu vực này đă bị rải
chất độc nhiều lần nên trông như một vùng đất chết. Trên thực tế,
toàn bộ dân Củ Chi từ lâu đă bị gom vào cái gọi là ấp chiến lược
ngoại trừ những làng ở rừng Hố Ḅ vốn từng được biết đến như là
những làng giải phóng và dưới sự kiểm soát của Việt Cộng. Phạm Xuân
Ẩn ít khi đến các địa đạo v́ sau năm 1969, Mỹ đă tăng cường rất
nhiều nỗ lực nhằm xác định căn cứ của Việt Cộng ở Củ Chi. Nếu Phạm
Xuân Ẩn đi tới đó sẽ rất nguy hiểm cho ông, biết đâu ông có thể bị
bắt hoặc bị giết trong một trận tấn công của Mỹ.
Tại căn cứ ở Củ Chi, người ta chỉ cần một ít dung dịch i-ốt đổ lên
tờ giấy gói là có thể đọc được những báo cáo t́nh báo của Phạm Xuân
Ẩn. Bên dưới những lớp cuốn của chiếc nem chua là những cuộn phim và
các thông tin chi tiết về thời gian, địa điểm, ngày tháng cho những
những cuộc gặp gỡ tiếp theo. Phạm Xuân Ẩn luôn luôn là người chủ
động đưa ra những chi tiết này. Những phần quan trọng nhất trong báo
cáo t́nh báo của Phạm Xuân Ẩn thường được gửi qua đường vô tuyến
điện đến tổng hành dinh Trung ương Cục miền Nam sau khi đă được mă
hoá. Những cuộn phim và bản tóm tắt nội dung bản báo cáo của Phạm
Xuân Ẩn sẽ được một đơn vị Việt Cộng có vũ trang chuyển đến Cục t́nh
báo vùng, cuối cùng là được chuyển ra Hà Nội.
Phạm Xuân Ẩn nói với tôi: "Nhiều người đă phải hy sinh để bảo vệ
những báo cáo của tôi đấy. Họ là những người rất dũng cảm, thế mà
tôi không hề biết ǵ về điều này, chỉ đến khi hết chiến tranh mới
được biết".
Sau khi gửi cáo báo cáo đi, Phạm Xuân Ẩn không biết phải làm ǵ nữa
ngoài chờ đợi tin tức về số phận của Bob Anson.
Sau nhiều tuần bị bắt giữ, một hôm vào lúc nửa đêm, Bob Anson được
một trong những sĩ quan thẩm vấn đánh thức dậy, thông báo rằng việc
anh là phóng viên của Tạp chí Time đang được xác minh, có thể có kết
quả trong vài ngày tới nhưng anh sẽ sớm được trả lại tự do. Người sĩ
quan thẩm vấn này muốn biết tại sao Anson không nói cho họ biết mọi
điều trong các cuộc thẩm vấn. Nghe người sĩ quan thẩm vấn nói vậy,
Anson nghĩ thầm ḿnh chẳng giấu giếm điều ǵ.
Nhưng trước khi anh nói điều đó ra th́ người sĩ quan thẩm vấn hỏi
tiếp tại sao anh không nói điều ǵ về Takeo. Người sĩ quan nói: "Ở
Việt Nam chúng tôi có truyền thống rằng người nào chỉ cần cứu mạng
sống của một trong số con em chúng tôi thôi th́ đă được chúng tôi
ghi nợ bằng máu. Mặt trận xin cám ơn anh. Anh được tự do… Từ nay anh
là người của phía chúng tôi. Một người chiến sĩ cách mạng".
Bob Anson hết sức vui mừng, nhưng anh cũng bối rối. Anh đă không
nghĩ đến việc phải tiết lộ chuyện xảy ra ở Takeo, đơn giản chỉ là v́
kể về chuyện đó chẳng liên quan ǵ đến lời khai của anh. Thậm chí,
anh đă gạt tất cả mọi chuyện sang một bên để chỉ nghĩ đến việc về
với Diane và các con anh. Chín ngày sau, Anson được rời nơi tạm giam.
Những người bạn chiến sĩ cách mạng của anh tặng cho anh món quà là
một đôi dép Bác Hồ. Đế dép làm bằng mảnh lốp xe tải các quai dép làm
bằng săm ôtô. Một chiến sĩ nói: "Chúng tôi toàn dùng đồ tốt nhất đấy.
Săm, lốp do Mỹ sản xuất nhé. Dầy bốn lớp!".
Mười bảy năm sau Bob Anson trở lại Việt Nam v́ lư do cá nhân. Nửa
đêm Anson đến thăm nhà Phạm Xuân Ẩn. Ông ra chào khách trong một bộ
quân phục với hàm Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, trên ngực đeo
Huân chương. "Lúc nào anh cũng mặc thế này à?", Anson hỏi. "Phải.
Lúc nào cũng thế này", ông Ẩn đáp và mỉm cười. Sau này, Phạm Xuân Ẩn
nói với tôi rằng Anson hôm đó bị khoảng chục nhân viên an ninh đi
theo. "Anson không hề biết ông ấy bị bám đuôi. Nhưng hôm sau, tôi
được các nhân viên an ninh đến thăm. Tôi đă kể cho họ nghe câu
chuyện ở Takeo, sau đó họ ra về".
Khi gặp lại Anson, câu đầu tiên Phạm Xuân Ẩn hỏi là: "Thế nào, các
cháu Christian và Sam có khoẻ không? và Diane có khoẻ không?". Anson
nghĩ "mười bảy năm đă trôi qua, thế mà ông Ẩn vẫn chưa quên một chi
tiết nào. Mười bảy năm đă trôi qua, vậy mà ông vẫn c̣n biết cách làm
vui ḷng tôi. Kỹ năng này chắc đă khiến ông rất giỏi trong nghề của
ḿnh". Sau một tiếng rưỡi đồng hồ tṛ chuyện một cách thân thiện,
cuối cùng Anson hỏi bằng cách nào những người đă bắt giữ anh trước
đây có thể biết được câu chuyện ở Takeo? Lần đầu tiên ông Ẩn thừa
nhận với Anson rằng chính ông đă báo cho Mặt trận về việc người bạn
của ông bị bắt giam và ông đă kể cho họ nghe những chi tiết về hành
động anh hùng ở Takeo của người bạn ấy. Tuy nhiên, đêm hôm đó ông Ẩn
chỉ nói cho Anson một phần của sự thật. Khi ấy ông đă bảo với Anson
rằng một người của Mặt trận đến nhà ông ở Sài G̣n để xác minh lời
khai của Anson về thời gian anh làm việc cho Tạp chí Time.
Trong cuốn Tin chiến trường của ḿnh, Anson kể lại đoạn đối thoại
giữa anh và ông Ẩn về chuyện này như sau: " Nhưng tại sao? Tôi và
ông, chúng ta là những người ở khác bên cơ mà. Ông Ẩn nh́n vào tôi
có vẻ suy nghĩ lắm, dường như ông rất thất vọng rằng sau tất cả
những lời giảng giải của ông, tôi vẫn không nắm được bài học cơ bản
nhất của ông rồi nói "Không. Chúng ta là bạn của nhau".
C̣n một trang cuối cùng của câu chuyện này. Đó là khi ấy vào thời
điểm năm 1988 ông Ẩn chưa sẵn sàng để chia sẻ với Anson toàn bộ sự
thật. V́ vẫn c̣n quá nguy hiểm đối với ông nếu tiết lộ phương thức
hoạt động của một điệp viên. Mười tám năm sau, ông Ẩn đă kể cho tôi
nghe trên thực tế điều ǵ đă diễn ra. Đó là trên thực tế, đă chẳng
có người nào của Mặt trận đến nhà riêng của ông. V́ như vậy, có thể
khiến ông bị lộ. Ngoài ra, gần như chẳng có ai trong Mặt trận biết
nhiệm vụ bí mật của ông, và nếu biết th́ Mặt trận cũng không sẵn
sàng đặt ông vào rủi ro để cứu một người Mỹ.
Bob Anson được thả là do một báo cáo bí mật của ông Phạm Xuân Ẩn nói
về Takeo mà chính báo cáo này đă được bà Nguyễn Thị Ba và một nữ
giao liên khác chuyển đến Củ Chi. Rất đơn giản. Anson thoát chết c̣n
do may mắn v́ trước đó ông Phạm Xuân Ẩn đă có cuộc hẹn gặp bí mật
với bà Ba; v́ anh đă kết bạn với ông Ẩn; v́ chính anh đă từng dũng
cảm cứu những đứa trẻ Việt Nam ở Takeo; và c̣n v́ mạng lưới t́nh báo
H.63 của ông Ẩn làm việc rất hiệu quả. Ông Ẩn nói với tôi: "Anson
không bắt buộc phải cố gắng giúp đỡ những đứa trẻ Việt Nam đó, thế
mà anh ấy vẫn cố làm. Sau đó, anh ấy c̣n liên hệ với những đứa trẻ
này để đảm bảo chắc chắn rằng chúng được an toàn và được chăm sóc
tốt. Anh ấy là một người tốt và cũng là một người may mắn nữa".
Nguồn: Vnthuquan-thuvienonline
Người đăng: ms
Thời gian: 17/10/2007 11:13:59 CH |
|