- Nếu nước ta thời Hùng Vương vẫn là
một nước độc lập kéo dài cho đến năm 43, nghĩa là giai đoạn “Bắc
thuộc lần thứ nhất” không tồn tại? - Tôi hỏi giáo sư Lê Mạnh Thát.
- Đúng vậy. Phải loại phần đó ra khỏi
lịch sử. Chúng ta có đủ chứng cứ để làm như vậy.
- Nhưng sử sách vẫn c̣n ghi: năm 214
trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng đem quân đánh lấy đất Bách Việt,
sau đó chia làm ba quận: Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận mà Tượng
Quận là nước ta?
- Nam Hải, Quế Lâm ngày nay nằm trong
hai tỉnh Quảng Đông và Quư Châu Trung Quốc th́ đă rơ rồi, nhưng
Tượng Quận th́ không phải. Một số tài liệu Trung Quốc có chép một
cách lầm lạc rằng nó là Nhật Nam (nước ta) sau này, nhưng đối chiếu
với những tài liệu tin cậy cũng của chính Trung Quốc, từ rất sớm
người ta đă biết Tượng Quận nằm giữa hai quận Uất Lâm và Tường Kha
của Trung Quốc chứ không phải nước ta.
- Sử Trung Quốc cũng ghi rơ, năm 111
trước công nguyên, Hán Vũ đế đă chiếm nước Nam Việt của Triệu Đà và
đặt 9 quận: Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu
Chân, Nhật Nam, Châu Nhai và Đàm Nhĩ thuộc Hán. Nếu cho đến năm 43
nước ta vẫn độc lập th́ giải thích làm sao việc nước ta gồm ba quận
Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam nằm trong đất nhà Hán trước đó?
- Đối chiếu với chính sử Trung Quốc ta
đă thấy Triệu Đà chưa bao giờ chiếm Tây Âu lạc cả và Hán Vũ đế cũng
chỉ chiếm Nam Việt của Triệu Đà. Rơ ràng là họ đă gom Giao Chỉ, Cửu
Chân và Nhật Nam vào đất Hán một cách vô căn cứ. Việc này không có
ǵ lạ, sử Trung Quốc c̣n chép rằng năm 202 (trước CN) Hán Cao tổ Lưu
Bang, ông cố của Hán Vũ đế lấy các đất Tượng Quận, Quế Lâm, Nam Hải
của Triệu Đà phong cho Ngô Nhuế, nhưng ba nơi đó là của Triệu Đà. "Đà
chưa hàng, xa đoạt khống, lấy phong cho Nhuế vậy". Đất chưa lấy được
mà "đoạt khống" làm đất của ḿnh, chuyện đó là b́nh thường, không
chỉ Lưu Bang mà trở thành thói quen cho các triều đại về sau này nữa...
Bởi vậy việc "đoạt khống" ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam của
ta không có ǵ lạ. Việc "đoạt khống" này có ba chứng cứ: Thứ nhất,
Tiền Hán thơ ghi rơ rằng Thứ sử Giao Chỉ "đóng ở Thương Ngô", nghĩa
là quân Hán chưa bao giờ đặt chân tới Giao Chỉ. Thứ hai, sử liệu
Trung Quốc cũng cho thấy, việc đưa những người phạm tội đi đày thời
đó chỉ đưa tới Hợp Phố chứ không hề thấy đưa đi xa hơn, tuy chưa
phải là chứng cứ quyết định, nhưng cũng biểu thị rằng biên cương cực
nam của nhà Hán chưa qua khỏi Hợp Phố, là vùng giáp giới với nước ta.
Chứng cứ thứ ba là việc sử liệu Trung Quốc ghi "Phiên Ngung là một
đô hội", đây là chi tiết khá khác thường, bởi Tiền Hán thơ đưa ra
con số thống kê nhân khẩu cho thấy quận Nam Hải có 6 huyện chỉ vỏn
vẹn có 94.253 dân, b́nh quân mỗi huyện, trong đó có Phiên Ngung, có
trên dưới 15 ngàn dân, trong khi số dân Giao Chỉ 10 huyện số dân lên
tới 764.237 người, b́nh quân mỗi huyện trên 75 ngàn dân, gần bằng số
dân của cả Nam Hải. Đó là chưa kể Cửu Chân và Nhật Nam, dân số cộng
lại cũng có trên 200.000 người. Thế mà lại nói "Phiên Ngung là một
đô hội". Điều không hợp lư này chỉ có thể được giải thích là 3 quận
Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam trong thực tế không thuộc đất Hán. Có
thể hỏi tại sao ba quận này không phải của nhà Hán mà nhà Hán lại có
số liệu về "hộ khẩu", câu trả lời cũng thật đơn giản: Đọc trong Tiền
Hán thơ, ta có thể bắt gặp một loạt tên các quốc gia độc lập ở Trung
Á, chưa bao giờ "thuộc Hán", nhưng vẫn có số liệu hộ khẩu như thường.
Cho nên, nhà Hán có số liệu về hộ khẩu không nhất thiết nó thuộc nhà
Hán.
Dù là Âu Lạc, Tây Âu, Tây Âu Lạc, Tây
Vu, Việt Thường Thị hay Giao Chỉ - Cửu Chân - Nhật Nam, cũng đều là
những tên gọi khác nhau của nước ta. Cần biết, các triều đại phong
kiến Trung Quốc không bao giờ muốn nước ta độc lập cả, ngay cả khi
nước ta có quốc hiệu đàng hoàng như Vạn Xuân (Lư Nam Đế), Đại Cồ
Việt (Đinh Tiên Hoàng) hay Đại Việt (Lư-Trần), sử sách Trung Quốc
vẫn tiếp tục dùng những cái tên Giao Chỉ, An Nam để gọi một
cách tùy tiện. Việc "đoạt khống" đất đai, theo giáo sư Lê Mạnh Thát,
là "nhằm thỏa măn năo trạng và ao ước bành trướng" của họ.
Trao đổi với chúng tôi, giáo sư Lê
Mạnh Thát cho rằng chỉ riêng văn minh trống đồng thôi mà chúng ta đă
có chứng cứ rành rành. Với một nền khoa học kỹ thuật phát triển rất
cao thời đó như vậy, một nền kỹ thuật không ai có thể chối căi, th́
không có lư ǵ mà chúng ta lại không có một nền văn hóa - giáo dục
tương ứng.
Nền văn hóa đó vẫn được bảo tồn. Trung
Quốc có Thi Thơ Lễ Nhạc. "Nếu nói Thi chúng ta có cùng chùm
truyện trong Lục độ tập kinh, Cựu tạp thí dụ kinh và bài Việt ca.
Nếu nói Thơ chúng ta có truyền thuyết trăm trứng. Nếu nói Lễ chúng
ta có bộ Việt luật. Nếu nói Nhạc ta không chỉ có bài Việt ca mà c̣n
có trống đồng...". Nói thêm về văn học, ông cho rằng "nền văn
học thành văn của dân tộc ta không phải bắt đầu từ Trần Nhân Tông và
Nguyễn Trăi, hay Khuông Việt và Từ Đạo Hạnh... mà nó đă bắt đầu từ
thời Hùng Vương mà bằng chứng c̣n lại là bài Việt ca, cụm chuyện
thần thoại và cổ tích đầu tiên t́m thấy trong Lục độ tập kinh.
Phân tích trong Lục độ tập kinh, giáo sư Lê Mạnh Thát chỉ
ra 5 truyện trong tập kinh này tương đương với 5 truyện cổ tích do
Nguyễn Đổng Chi tập hợp trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, như
vậy "chúng ta không c̣n bàn căi một cách tùy tiện không có cơ sở về
nền văn học "dân gian" chung chung phi thời gian, phi lịch sử".
Như vậy là từ thời Hùng Vương chúng ta
đă có một nền văn hóa riêng, tạo nên bản lĩnh dân tộc. Đó là nền
tảng cho những cuộc đấu tranh trường kỳ, khốc liệt bảo vệ đất nước,
bảo vệ ṇi giống. Dân tộc ta không những không bị đồng hóa, mà nền
văn hóa của dân tộc ta c̣n được du nhập vào văn hóa Trung Quốc mà
Lục độ tập kinh - không chỉ là kinh Phật mà c̣n là tác phẩm
của "bậc thánh hiền" như chính người Trung Quốc gọi - là một trong
những ví dụ.
Nhưng không chỉ có vậy. Theo giáo sư
Lê Mạnh Thát, từ sau khi Mă Viện đánh bại Hai Bà Trưng cho đến khi
Chu Phù, Sỹ Nhiếp cai trị nước ta, lịch sử cũng có nhiều vấn đề cần
đặt lại. Và trong thời gian này xuất hiện một nhân vật lớn là Mâu Tử,
một người Việt Nam, với tác phẩm nổi tiếng Lư hoặc Luận
được lưu truyền trong nền văn hóa điển chương Trung Quốc, một bằng
chứng hùng hồn về sự nổi trội của văn hóa Việt Nam...
(c̣n tiếp)