WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 11/2003
  Các số báo trước 11/2003
   

 

Nối Kết:

  

 

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 3/2008

Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động

Hoàng Hải Vân

(Phần 4)

Giỗ tổ Hùng Vương tại Suối Tiên (TP.HCM) - Ảnh: Khả Ḥa

(Tiếp theo Thanh Niên thứ sáu 29.2.2008)

"Bộ Việt luật c̣n đó. Bài Việt ca c̣n đó. Truyện trăm trứng c̣n đó... Thế mà cứ nhắm mắt nói càn nước ta thành ra nước văn hiến từ Sỹ Vương. Thật khốn nạn hết chỗ nói !" (Thiền sư Lê Mạnh Thát).

Thiền sư nổi giận

Ngoài việc phát hiện việc Lục độ tập kinh chữ Hán "không chấp hành" nguyên tắc ngữ âm tiếng Trung Quốc như trường hợp cấu trúc "trung tâm", trong khi dịch tập kinh này ra tiếng Việt hiện nay, giáo sư Lê Mạnh Thát c̣n phát hiện các trường hợp Khương Tăng Hội dùng "tá âm" hoặc dùng thuần túy tiếng Việt, chỉ phiên âm ra nó lập tức biến thành những câu tiếng Việt dễ hiểu. Ông lưu ư do Khương Tăng Hội "sinh ra, lớn lên và đào tạo thành tài ở nước ta" cho nên khi phiên dịch và trước tác dứt khoát không thể nào không chịu ảnh hưởng của tiếng Việt trên cả ba mặt ngữ vựng, ngữ pháp và cú pháp, song Khương Tăng Hội lại là người sử dụng tiếng Trung Quốc tới mức "nhuần nhuyễn của một diệu thủ" th́ lẽ ra những ảnh hưởng đó phải bị hạn chế tối đa, thế th́ tại sao Lục độ tập kinh tồn tại nặng nề và sâu đậm đến vậy những "tàn dư" của ngữ vựng, ngữ pháp và cú pháp tiếng Việt ? Chỉ có thể giải thích là tập kinh đó đă được dịch ra chữ Hán bằng một nguyên bản tiếng Việt.

Tôi hỏi giáo sư Lê Mạnh Thát: "Khi đối chiếu cấu trúc "trung tâm" trong Lục độ tập kinh chữ Hán với ngôn ngữ của Trung Quốc, thầy viết rằng, "kiểm soát toàn bộ văn liệu" tiếng Trung Quốc (do người Trung Quốc viết) từ đầu thế kỷ thứ I sau dương lịch trở về sau cho đến thế kỷ thứ III, trong khoảng thời gian 300 năm, cấu trúc "trung tâm" chỉ được dùng đúng 3 lần, trong khi cấu trúc này được dùng phổ biến trong Lục độ tập kinh. Nói như vậy có nghĩa là để đối chiếu chỉ hai chữ "trung tâm", thầy đă phải đọc hết tất cả của Trung Quốc trong 3 thế kỷ?". Ông bảo: "Đúng vậy. Không đọc hết th́ làm sao mà khảo sát, đối chiếu được!".  Liên quan đến tiếng Việt trong Lục độ tập kinh, ông c̣n chỉ ra một nguồn tài liệu quan trọng thứ hai. Đó là sách Thuyết Uyển của Lưu Hướng, tồn tại từ năm 16 trước dương lịch mà "không có nhà nho nào là không biết". Đây là bộ sách duy nhất chép lại nguyên văn một tác phẩm văn học khác với tiếng Trung Quốc, đó là bài Việt ca. Thuyết Uyển không phải là một cuốn sách thường, nó là cuốn sách được viết để "dâng vua", cho nên tài liệu được nó sử dụng phải là những tài liệu được kiểm chứng, trong đó có tài liệu lấy từ "Trung thư", tức là một loại thư viện của hoàng gia. Điểm hết sức thú vị của bài Việt ca chép trong Thuyết Uyển là nó "ghi bằng chữ Hán mà người Hán không đọc được", phải "dịch ra tiếng Sở", tức là kèm theo một bản dịch tiếng Trung Quốc. Dù Lưu Hướng nói rơ đó là bài ca "do người Việt ôm mái chèo mà ca", nhưng hơn hai ngàn năm nay chưa một ai nghiên cứu giải mă bài ca này, ngoài sự cố gắng t́m hiểu của Quách Mạt Nhược (từng là Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc) cho rằng bài ca này là của người Choang vùng Quảng Tây Trung Quốc ngày nay, và một học giả người Nhật cho bài ca đó là của... Chiêm Thành. Giáo sư Lê Mạnh Thát đă dành nhiều thời gian, thông qua nhiều tài liệu để giải mă và bước đầu phục chế diện mạo tiếng Việt của bài Việt ca này (xem Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguồn của dân tộc ta, chương IV, sđd, và Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát, NXB Tổng hợp TPHCM, trang 41-47).

Như đă nói, mỗi lần tràn sang là mỗi lần kẻ xâm lược hủy diệt một cách tàn độc tất cả những ǵ có thể để cho văn hóa được lưu truyền, đặc biệt là việc tận diệt bia đá một cách có hệ thống sau khi "thu gom" hết sách vở, nhưng với những ǵ c̣n lưu lại của bốn ngàn năm văn hiến và những nỗ lực mới nhất của những nhà khoa học đầy tâm huyết và trách nhiệm với tổ tiên như Lê Mạnh Thát, chúng ta có cơ sở để khẳng định chắc chắn là chúng ta đă có chữ viết từ thuở các vua Hùng. Kẻ xâm lược quyết không cho người Việt biết đến "mặt chữ" của tổ tiên, nhưng dấu tích nó vẫn c̣n đó: trong kinh Phật, trong chính sách vở của Trung Quốc và c̣n lẩn khuất ở đâu đó nữa. Cùng với việc khảo sát trong ḷng đất và "dưới nước" như hướng mà giáo sư Hoàng Xuân Hăn đề nghị, hướng nghiên cứu của giáo sư Lê Mạnh Thát rất cần được sự đồng hành, phối hợp của nhiều nhà sử học khác.

Tôi hỏi ông: "Thầy nghĩ ǵ về ư kiến cho rằng có thể t́m vết tích chữ viết thời Hùng Vương trên mặt trống đồng?". Ông nói: "Có giả thiết như vậy, nhưng khảo sát những hoa văn trên trống đồng chúng ta không thấy chúng có liên quan đến chữ viết, v́ chữ viết phải có quy luật về cấu trúc của nó. Suy đoán từ những giả định không có cơ sở sẽ khó có sức thuyết phục". Việc nghiên cứu ngôn ngữ cổ, nhất là ngữ âm cổ rất phức tạp. Chẳng hạn người Trung Quốc cũng như người Việt 2.000 năm trước phát âm như thế nào ngày nay chúng ta không biết được, để nghiên cứu nó giáo sư Lê Mạnh Thát đă phải dùng hệ phát âm tiếng Trung Quốc thời Hán của Karlgren, là công cụ mà các nhà Hán học đều thống nhất, rồi đối chiếu với những tài liệu đánh dấu sự biến đổi ngôn ngữ để truy lùi về thời điểm nghiên cứu, và cũng bằng phương pháp tương tự, ông đối chiếu những mối liên hệ giữa tiếng Trung Quốc, tiếng Việt và các loại ngôn ngữ khác trong vùng (chữ Phạn, Chăm, Khmer, tiếng nói các dân tộc Trung Quốc giáp giới với Việt Nam...) để phác thảo diện mạo tiếng Việt của bài Việt ca, bác bỏ kết luận sai trái của Quách Mạt Nhược và học giả người Nhật nói trên... (bạn đọc muốn t́m hiểu sâu hơn, xin xem các sách đă dẫn).


Thiền sư Lê Mạnh Thát - Ảnh: Ngọc Hải

Tiếp theo và cùng với chữ viết là lịch pháp. Lâu nay chưa ai biết dân tộc ta thời đại Hùng Vương sắp xếp ngày tháng như thế nào. Giáo sư Hoàng Xuân Hăn từng đoán: "Văn hóa Trống đồng của nước Văn Lang chắc đă dùng năm 12 tháng, tháng lần lượt 29-30 ngày cũng không hẳn là vô lư" (Lịch và lịch Việt Nam, Tập san Khoa học xă hội, Paris, 1982, trích từ Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1, NXB Tổng hợp TP.HCM 2006, trang 71). Nay những phát hiện trong Lục độ tập kinh cho phép khẳng định được lời đoán của giáo sư Hoàng Xuân Hăn. Những câu chuyện ghi trong tập kinh này cho thấy, nước ta thời Hùng Vương đă dùng hệ thống lịch chia năm ra 360 ngày, phân bổ thành 4 mùa, mỗi mùa có 3 tháng và đă dùng đơn vị tuần, mỗi tuần 7 ngày. Đối chiếu với những tài liệu cổ Trung Quốc th́ thấy hệ thống lịch nước ta khác với lịch Trung Quốc cùng thời, v́ lịch Trung Quốc thời đó mỗi năm 366 ngày và một đơn vị tuần của họ có tới 10 ngày. Nó cũng không giống Ấn Độ, v́ tuần của Ấn Độ thời đó có 15 ngày. Phát hiện này cho phép kết luận nước ta thời Hùng Vương đă có lịch pháp riêng của một nhà nước độc lập. Giáo sư Lê Mạnh Thát cho rằng, để bảo lưu được một hệ thống lịch pháp như thế, các câu chuyện trong Lục độ tập kinh chắc chắn phải được lưu truyền "vào thời hệ thống lịch đó c̣n hiệu lực", tức là từ năm 43 trở về trước, bởi v́ sau năm đó nhà Hán đă chiếm nước ta, một sự bảo lưu như thế dứt khoát không thể nào xảy ra dưới bộ máy đàn áp của Mă Viện...

Những kết luận của giáo sư Lê Mạnh Thát có thể và cần được các nhà sử học tiếp tục bổ sung, nhưng không có ǵ thái quá khi nói rằng với phát hiện đó trên nền tảng những thành quả quan trọng trong cuộc nghiên cứu lớn về thời Hùng Vương trong thời gian chống Mỹ, chúng ta có thể và phải dựng lại lịch sử thời đại Hùng Vương với những sự thật của nó. Nó một lần nữa chứng minh việc Nhà nước ta lấy ngày giỗ tổ Hùng Vương làm Quốc Giỗ là vô cùng đúng đắn.

Là nhà tu hành nhưng thiền sư Lê Mạnh Thát đă không ḱm nén tức giận khi thấy người ta "thóa mạ làm nhục tổ tiên ḿnh với kiểu ăn nói của Ngô Sỹ Liên: Nước ta hiểu thi, thơ, tập Lễ Nhạc thành ra nước văn hiến, bắt đầu từ Sỹ Vương. Bộ Việt luật c̣n đó. Bài Việt ca c̣n đó. Truyện trăm trứng c̣n đó... Thế mà cứ nhắm mắt nói càn nước ta thành ra nước văn hiến từ Sỹ Vương. Thật khốn nạn hết chỗ nói!". Sự nổi giận của vị thiền sư này rất cần được sự hưởng ứng của tất cả những ai c̣n coi ḿnh là con cháu Lạc Hồng...

(c̣n tiếp)

Nguồn: http://www2.thanhnien.com.vn/Vanhoa/2008/3/3/228408.tno

Phần 5

Quay lại phần đầu

Về đầu trang

Bài trong tháng

"sạch" và "tởm"
Cha tôi- Nhà thơ Trần Dần
Hai vị Thiền sư_Phạm Công Thiện
Lại một vụ nguỵ tạo dữ liệu khoa học
Phân ưu
Thiền sư LMT_tranh luận: Chân lư phải được đặt lên cao nhất
Thiền sư LMT_tranh luận: Hăy trân trọng dù những phát hiện nhỏ nhất
Thiền sư LMT_tranh luận: Kết luận quá vội vàng, thiếu chứng cứ khoa học
Thiền sư LMT_tranh luận: Làm ǵ trước những phát hiện mới về lịch sử?
Thiền sư LMT_tranh luận: Phải đặt trong tổng thể các nguồn tư liệu khác
Thiền sư LMT_tranh luận: Thảo luận xung quanh về những phát hiện lịch sử của Thiền sư LMT
Thiền sư LMT_tranh luận: Về cái gọi là...những phát hiện lịch sử chấn động
Thiền sư Lê Mạnh Thát và  những phát hiện lịch sử chấn động (2)
Thiền sư Lê Mạnh Thát và  những phát hiện lịch sử chấn động (3)
Thiền sư Lê Mạnh Thát và  những phát hiện lịch sử chấn động (4)
Thiền sư Lê Mạnh Thát và  những phát hiện lịch sử chấn động (5)
Thiền sư Lê Mạnh Thát và  những phát hiện lịch sử chấn động (6)
Thư từ chức của HT Thích Như Huệ và Thích Bảo Lạc
Thư từ chức Tổng vụ trưởng Tổng vụ Nghi lễ
Triết lư của doanh nhân Phật tử
Tướng Dương Văn Minh và tôi_Nguyễn Hữu Thái
Tưởng niệm 40 năm vụ thảm sát Mỹ Lai 16/3/1968
Tại sao là chỉ "0.09%"_N.V.Tuấn
Tản mạn nhân xem DVD "Thế giới t́nh yêu"_Hà Giang
Vận động thành lập Cộng đồng Phật giáo tại Mỹ
Đi xem Duyên dáng Việt nam ở London
Điệp viên hoàn hảo (1)
Điệp viên hoàn hảo (2)
Điệp viên hoàn hảo (3)
Đại lễ Phật Đản Liên hiệp quốc 2008_Phỏng vấn TS Lê Mạnh Thát
Đất khổ_Một bản tư liệu quư

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE