|

|
|
Giỗ tổ
Hùng Vương tại Suối Tiên (TP.HCM)
- Ảnh: Khả Ḥa |
(Tiếp theo
Thanh Niên
thứ sáu 29.2.2008)
"Bộ Việt luật c̣n đó.
Bài Việt ca c̣n đó. Truyện trăm trứng c̣n đó... Thế mà cứ nhắm mắt
nói càn nước ta thành ra nước văn hiến từ Sỹ Vương. Thật khốn nạn
hết chỗ nói !" (Thiền sư Lê Mạnh Thát).
Thiền sư nổi giận
Ngoài việc phát hiện việc Lục độ tập
kinh chữ Hán "không chấp hành" nguyên tắc ngữ âm tiếng Trung Quốc
như trường hợp cấu trúc "trung tâm", trong khi dịch tập kinh này ra
tiếng Việt hiện nay, giáo sư Lê Mạnh Thát c̣n phát hiện các trường
hợp Khương Tăng Hội dùng "tá âm" hoặc dùng thuần túy tiếng Việt, chỉ
phiên âm ra nó lập tức biến thành những câu tiếng Việt dễ hiểu. Ông
lưu ư do Khương Tăng Hội "sinh ra, lớn lên và đào tạo thành tài ở
nước ta" cho nên khi phiên dịch và trước tác dứt khoát không thể nào
không chịu ảnh hưởng của tiếng Việt trên cả ba mặt ngữ vựng, ngữ
pháp và cú pháp, song Khương Tăng Hội lại là người sử dụng tiếng
Trung Quốc tới mức "nhuần nhuyễn của một diệu thủ" th́ lẽ ra những
ảnh hưởng đó phải bị hạn chế tối đa, thế th́ tại sao Lục độ tập kinh
tồn tại nặng nề và sâu đậm đến vậy những "tàn dư" của ngữ vựng, ngữ
pháp và cú pháp tiếng Việt ? Chỉ có thể giải thích là tập kinh đó đă
được dịch ra chữ Hán bằng một nguyên bản tiếng Việt.
Tôi hỏi giáo sư Lê Mạnh Thát: "Khi đối
chiếu cấu trúc "trung tâm" trong Lục độ tập kinh chữ Hán với ngôn
ngữ của Trung Quốc, thầy viết rằng, "kiểm soát toàn bộ văn liệu"
tiếng Trung Quốc (do người Trung Quốc viết) từ đầu thế kỷ thứ I sau
dương lịch trở về sau cho đến thế kỷ thứ III, trong khoảng thời gian
300 năm, cấu trúc "trung tâm" chỉ được dùng đúng 3 lần, trong khi
cấu trúc này được dùng phổ biến trong Lục độ tập kinh. Nói như vậy
có nghĩa là để đối chiếu chỉ hai chữ "trung tâm", thầy đă phải đọc
hết tất cả của Trung Quốc trong 3 thế kỷ?". Ông bảo: "Đúng vậy.
Không đọc hết th́ làm sao mà khảo sát, đối chiếu được!". Liên quan
đến tiếng Việt trong Lục độ tập kinh, ông c̣n chỉ ra một nguồn tài
liệu quan trọng thứ hai. Đó là sách Thuyết Uyển của Lưu Hướng, tồn
tại từ năm 16 trước dương lịch mà "không có nhà nho nào là không
biết". Đây là bộ sách duy nhất chép lại nguyên văn một tác phẩm văn
học khác với tiếng Trung Quốc, đó là bài Việt ca. Thuyết Uyển không
phải là một cuốn sách thường, nó là cuốn sách được viết để "dâng
vua", cho nên tài liệu được nó sử dụng phải là những tài liệu được
kiểm chứng, trong đó có tài liệu lấy từ "Trung thư", tức là một loại
thư viện của hoàng gia. Điểm hết sức thú vị của bài Việt ca chép
trong Thuyết Uyển là nó "ghi bằng chữ Hán mà người Hán không đọc
được", phải "dịch ra tiếng Sở", tức là kèm theo một bản dịch tiếng
Trung Quốc. Dù Lưu Hướng nói rơ đó là bài ca "do người Việt ôm mái
chèo mà ca", nhưng hơn hai ngàn năm nay chưa một ai nghiên cứu giải
mă bài ca này, ngoài sự cố gắng t́m hiểu của Quách Mạt Nhược (từng
là Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc) cho rằng bài ca này là
của người Choang vùng Quảng Tây Trung Quốc ngày nay, và một học giả
người Nhật cho bài ca đó là của... Chiêm Thành. Giáo sư Lê Mạnh Thát
đă dành nhiều thời gian, thông qua nhiều tài liệu để giải mă và bước
đầu phục chế diện mạo tiếng Việt của bài Việt ca này (xem Lục độ tập
kinh và lịch sử khởi nguồn của dân tộc ta, chương IV, sđd, và Lịch
sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát, NXB Tổng hợp TPHCM, trang
41-47).
Như đă nói, mỗi lần tràn sang là mỗi
lần kẻ xâm lược hủy diệt một cách tàn độc tất cả những ǵ có thể để
cho văn hóa được lưu truyền, đặc biệt là việc tận diệt bia đá một
cách có hệ thống sau khi "thu gom" hết sách vở, nhưng với những ǵ
c̣n lưu lại của bốn ngàn năm văn hiến và những nỗ lực mới nhất của
những nhà khoa học đầy tâm huyết và trách nhiệm với tổ tiên như Lê
Mạnh Thát, chúng ta có cơ sở để khẳng định chắc chắn là chúng ta đă
có chữ viết từ thuở các vua Hùng. Kẻ xâm lược quyết không cho người
Việt biết đến "mặt chữ" của tổ tiên, nhưng dấu tích nó vẫn c̣n đó:
trong kinh Phật, trong chính sách vở của Trung Quốc và c̣n lẩn khuất
ở đâu đó nữa. Cùng với việc khảo sát trong ḷng đất và "dưới nước"
như hướng mà giáo sư Hoàng Xuân Hăn đề nghị, hướng nghiên cứu của
giáo sư Lê Mạnh Thát rất cần được sự đồng hành, phối hợp của nhiều
nhà sử học khác.
Tôi hỏi ông: "Thầy nghĩ ǵ về ư kiến
cho rằng có thể t́m vết tích chữ viết thời Hùng Vương trên mặt trống
đồng?". Ông nói: "Có giả thiết như vậy, nhưng khảo sát những hoa văn
trên trống đồng chúng ta không thấy chúng có liên quan đến chữ viết,
v́ chữ viết phải có quy luật về cấu trúc của nó. Suy đoán từ những
giả định không có cơ sở sẽ khó có sức thuyết phục". Việc nghiên cứu
ngôn ngữ cổ, nhất là ngữ âm cổ rất phức tạp. Chẳng hạn người Trung
Quốc cũng như người Việt 2.000 năm trước phát âm như thế nào ngày
nay chúng ta không biết được, để nghiên cứu nó giáo sư Lê Mạnh Thát
đă phải dùng hệ phát âm tiếng Trung Quốc thời Hán của Karlgren, là
công cụ mà các nhà Hán học đều thống nhất, rồi đối chiếu với những
tài liệu đánh dấu sự biến đổi ngôn ngữ để truy lùi về thời điểm
nghiên cứu, và cũng bằng phương pháp tương tự, ông đối chiếu những
mối liên hệ giữa tiếng Trung Quốc, tiếng Việt và các loại ngôn ngữ
khác trong vùng (chữ Phạn, Chăm, Khmer, tiếng nói các dân tộc Trung
Quốc giáp giới với Việt Nam...) để phác thảo diện mạo tiếng Việt của
bài Việt ca, bác bỏ kết luận sai trái của Quách Mạt Nhược và học giả
người Nhật nói trên... (bạn đọc muốn t́m hiểu sâu hơn, xin xem các
sách đă dẫn).
|

Thiền sư Lê Mạnh Thát - Ảnh:
Ngọc Hải |
Tiếp theo và cùng với chữ viết là lịch
pháp. Lâu nay chưa ai biết dân tộc ta thời đại Hùng Vương sắp xếp
ngày tháng như thế nào. Giáo sư Hoàng Xuân Hăn từng đoán: "Văn hóa
Trống đồng của nước Văn Lang chắc đă dùng năm 12 tháng, tháng lần
lượt 29-30 ngày cũng không hẳn là vô lư" (Lịch và lịch Việt Nam, Tập
san Khoa học xă hội, Paris, 1982, trích từ Lê Mạnh Thát, Lịch sử
Phật giáo Việt Nam tập 1, NXB Tổng hợp TP.HCM 2006, trang 71). Nay
những phát hiện trong Lục độ tập kinh cho phép khẳng định được lời
đoán của giáo sư Hoàng Xuân Hăn. Những câu chuyện ghi trong tập kinh
này cho thấy, nước ta thời Hùng Vương đă dùng hệ thống lịch chia năm
ra 360 ngày, phân bổ thành 4 mùa, mỗi mùa có 3 tháng và đă dùng đơn
vị tuần, mỗi tuần 7 ngày. Đối chiếu với những tài liệu cổ Trung Quốc
th́ thấy hệ thống lịch nước ta khác với lịch Trung Quốc cùng thời,
v́ lịch Trung Quốc thời đó mỗi năm 366 ngày và một đơn vị tuần của
họ có tới 10 ngày. Nó cũng không giống Ấn Độ, v́ tuần của Ấn Độ thời
đó có 15 ngày. Phát hiện này cho phép kết luận nước ta thời Hùng
Vương đă có lịch pháp riêng của một nhà nước độc lập. Giáo sư Lê
Mạnh Thát cho rằng, để bảo lưu được một hệ thống lịch pháp như thế,
các câu chuyện trong Lục độ tập kinh chắc chắn phải được lưu truyền
"vào thời hệ thống lịch đó c̣n hiệu lực", tức là từ năm 43 trở về
trước, bởi v́ sau năm đó nhà Hán đă chiếm nước ta, một sự bảo lưu
như thế dứt khoát không thể nào xảy ra dưới bộ máy đàn áp của Mă
Viện...
Những kết luận của giáo sư Lê Mạnh
Thát có thể và cần được các nhà sử học tiếp tục bổ sung, nhưng không
có ǵ thái quá khi nói rằng với phát hiện đó trên nền tảng những
thành quả quan trọng trong cuộc nghiên cứu lớn về thời Hùng Vương
trong thời gian chống Mỹ, chúng ta có thể và phải dựng lại lịch sử
thời đại Hùng Vương với những sự thật của nó. Nó một lần nữa chứng
minh việc Nhà nước ta lấy ngày giỗ tổ Hùng Vương làm Quốc Giỗ là vô
cùng đúng đắn.
Là nhà tu hành nhưng thiền sư Lê Mạnh
Thát đă không ḱm nén tức giận khi thấy người ta "thóa mạ làm nhục
tổ tiên ḿnh với kiểu ăn nói của Ngô Sỹ Liên: Nước ta hiểu thi, thơ,
tập Lễ Nhạc thành ra nước văn hiến, bắt đầu từ Sỹ Vương. Bộ Việt
luật c̣n đó. Bài Việt ca c̣n đó. Truyện trăm trứng c̣n đó... Thế mà
cứ nhắm mắt nói càn nước ta thành ra nước văn hiến từ Sỹ Vương. Thật
khốn nạn hết chỗ nói!". Sự nổi giận của vị thiền sư này rất cần được
sự hưởng ứng của tất cả những ai c̣n coi ḿnh là con cháu Lạc Hồng...
(c̣n tiếp)
Nguồn:
http://www2.thanhnien.com.vn/Vanhoa/2008/3/3/228408.tno
Phần
5
Quay
lại phần đầu
Về đầu trang