|
Cha tôi - Nhà thơ Trần Dần
TP - Cuốn “Thơ”
của Trần Dần mới xuất bản đă gây sự chú ư của dư luận. Chúng tôi
xin trích giới thiệu bài viết của họa sĩ Trần Trọng Vũ, con trai của
nhà thơ, để góp phần cùng bạn đọc giải mă một giai đoạn sáng tác của
ông.
Năm 1993 tôi được đọc lần đầu Paul Auster qua bản
dịch tiếng Pháp L’invention de la solitude. Cuốn tiểu thuyết mang
nhiều tự sự, nhật kư và hồi kư.
Sau khi cha ông mất, nhà văn trở lại căn hộ nơi gia
đ́nh ông đă sống nhiều năm trước, để ngồi lại trong pḥng riêng của
cha, để nhận ra rằng ông đă không biết ǵ nhiều về cha ông, để lục
t́m những đồ vật cũ, gạn hỏi quá khứ, để hiểu hơn về con người này.
Thời ấy, họ sống ngay cạnh nhau, trong cùng một căn
hộ, nhưng mỗi người trong pḥng của ḿnh, nhưng không có những chia
sẻ thân thiết. V́ nỗi cô đơn của mỗi người quá lớn.
Cuộc t́m kiếm quá khứ của nhà văn lại kéo dài
khoảng cách của họ. Những sự kiện đến từ quá khứ mỗi lúc một thêm cụ
thể th́ h́nh ảnh cha ông ngày càng mờ nhạt, đến lúc dường như cha
ông chưa bao giờ tồn tại trong cuộc đời của ông.
* * *
Năm 1997, bố tôi, nhà thơ Trần Dần mất tại Hà Nội.
Phải đợi nhiều thời gian sau tôi mới cảm thấy sẵn sàng mở lại di cảo
của ông. Nhưng không phải với hy vọng được xích lại gần với ông hơn,
không phải để hiểu ông hơn. Cũng không phải v́ sợ mất ông. Tôi đă
không thể xử sự được như trong văn học.
Quan hệ chật hẹp của chúng tôi chưa bao giờ sóng
gió đă cho phép tôi lựa chọn phần riêng tư nhất trong hàng trăm bản
thảo và t́nh phụ tử nhiều ích kỷ dĩ nhiên đă khiến tôi, một cách tầm
thường nhất, chỉ giữ lại những ǵ liên quan đến con người Trần Dần
và nhà thơ Trần Dần.
Tất cả những sổ nhật kư của ông đều c̣n nguyên vẹn,
nối liền những năm những tháng, ṛng ră từ năm 1954 tới 1989. Nếu
như những sổ tay đầu mang đề tựa
Ghi vặt, có thể giúp
tôi đọc lại được nhật kư của một người bố, một người chồng, một
người yêu, thông qua những sự kiện thường nhật th́ từ năm 1973 những
sổ nhật kư đă trở thành những sổ thơ và từ năm 1979 là những sổ bụi
hoặc vở bụi.
Không c̣n những chuyện đời thường, để có thể đem kể
lại cho một ai đó để cung cấp bí mật về các nhân vật có thật hoặc để
làm tổn thương danh dự của một vài người. Không c̣n cách nào khác là
phải đọc cuộc đời của ông bằng văn học.
Nhưng một lần nữa tính ích kỷ của ḷng hiếu lại cho
phép tôi được xếp trả vào di cảo một phần rất lớn của những sổ thơ
và sổ bụi này. Đó là khi nhà thơ viết lại những suy nghĩ chồng chéo
của ông về một cuốn sách, một đoạn trích, một tác giả, một buổi nói
chuyện văn học, một ư kiến Triết học hoặc Phật học, hoặc Kinh dịch,
trong những phép chính tả của riêng ông, đôi khi trong những kư hiệu
thị giác chưa ai có thể giải mă được.
Tôi chỉ có thể lấy ra những câu thơ hoặc bài thơ
nằm rải rác khắp nơi trong ba mươi tư sổ tay- nhật kư văn học của
ông, như những hạt bụi trong muôn vàn cơn mưa bụi.
TÔI và CHO TÔI
Nếu như các nhân vật xưng TÔI của
Nhất định thắng, Cổng tỉnh, Bài thơ
Việt Bắc , Jờ joạcx, Mùa sạch…có thể gợi ư người đọc
liên tưởng tới Trần Dần th́ chữ TÔI của các sổ bụi được khẳng định
là tác giả khi ông gọi chúng là
journal sauvage, là
nhật kư anti - tự sự.
Phản tự sự không có nghĩa không có tự sự, mà trái
lại tự sự là một trong những vị trí trung tâm của nhật kư. Không có
tự sự th́ làm sao phản được tự sự?
Nhưng nhật kư theo kiểu Trần Dần lại vượt khỏi mọi
giới hạn của tự sự, để trở thành VĂN HỌC. Tự sự bị phản bội bởi
chính nhà thơ v́ văn học không bao giờ thuộc sở hữu của một người.
Chữ TÔI của ông, từ sổ thơ đến sổ bụi, không dùng
để làm đối thoại. Những hội thoại văn học được b́nh lại trong nhật
kư thường không có chữ TÔI.
Rất khó t́m thấy ở đây những đại từ nhân xưng mà
người Việt ưa dùng để định vị trí, đẳng cấp của nhau, và để tỏ thái
độ với nhau. Khi thuật lại một cuộc nói chuyện ba người dài suốt cả
một cuốn sổ thơ (1976) ông bắt đầu thế này:
«Một hôm, vô hại, vô thưởng vô phạt, như mọi hôm vô
vị vô mùi:
BÀNG: Có khi cần một travail
symbolique?
ỔI: Không, không, mọi thiết định!
Không?
CÁT: Làm quái ǵ, travail
théorique?
BÀNG: Ừ, làm quái ǵ? …»
(Bàng = Trần Dần. Ổi = Đặng Đ́nh
Hưng. Cát = Đoàn Chúc [chú thích của ttv]).
Không thấy ai xưng danh cả. Và
những trang thoại dài như thế đ̣i được giải mă, chỉ ngay từ những
cái tên người. Nhưng tôi không nghĩ tất cả những độc thoại này đều
chỉ đơn thuần là những ghi chép? Mà là một h́nh thức của văn luận?
Nếu có chữ TÔI trong những tranh
luận này th́ đó là những câu trích thơ của ông, lấy lại từ chính
những trang khác của nhật kư. TÔI của sổ thơ của sổ bụi là chữ dành
riêng cho tự sự, và cho thơ. TÔI không thể đứng chung với một người
nào khác. TÔI để báo trước một cá thể cô độc. Có thể dựng lại chân
dung và cuộc đời của người xưng TÔI, một cách hoàn chỉnh, từ lúc
sinh tới khi chết, thông qua rất nhiều chữ TÔI như thế này:
Tôi chôn rau ở tận trời sao. (Sổ
thơ 1973)
Tôi chẳng phải tù binh quả đất. (Sổ
bụi 1979)
Tôi đă leo nhiều ngơ cụt cổ điển.
(Sổ bụi 1979)
Tôi không bao giờ hú với chó sói,
chỉ một tội này họ chẳng thể tha tôi. (Sổ bụi 1982)
Chết đi, tôi vẫn mất ngủ. (Sổ bụi
1988)
TÔI bao giờ cũng ngạo nghễ, đầy khí
phách, nhưng cũng không ít mâu thuẫn, không ít dằn vặt, không kém
phức tạp. Những cuộc gặp gỡ trong văn chương Việt Nam thường xuyên
chỉ cho tôi làm quen với những cái tôi đạo đức như ngọn cỏ, hoặc dễ
chịu như một vị anh hùng không có thật.
Ít thấy ở đâu có ai dám đặt ḿnh
bên cạnh quả đất, vũ trụ, nhân loại, chân trời, cơi chết, v́ sao
bay, hoặc tồi nhất th́ cũng dám đứng gần chó sói, sâu bọ, nhà tù…
TÔI của sổ bụi không bao giờ c̣n đi cùng một cái tên cụ thể, dù chỉ
là một địa chỉ như Tôi ở phố Sinh Từ của năm 1955.
Cùng với thời gian phố Sinh Từ đă
bước ra khỏi cuộc đời nhà thơ, ra khỏi bản đồ hành chính thành phố
Hà Nội, để ba mươi hai năm sau ông viết: Tôi sống ở hai chân trời…
một trời hoành đạt, một trời sao bay?
Chữ TÔI của sổ bụi thường xuyên
được đặt cùng với những yếu tố tích cực, luôn thay đổi, luôn chuyển
động, không kích thước: chân trời, chân mây, gió, mưa, các v́ sao.
Ông đă đến rất nhiều chân trời để
biết rằng mỗi thay đổi chân trời / một thay đổi nhân sinh, để báo
trước «đám ma tôi» : hôm ấy - lă chă sáu chân trời, lă chă sáu chân
mây .
Và cũng để thú nhận rằng ông mỗi
ngày thay áo mấy chân mây. Và các chân trời cũng đối ngược nhau làm
sao. Nếu có một lúc nào đó ông nói: ở một chân trời tôi mở những
chân mây, nếu có một lúc nào đó ông phàn nàn: những giờ phút vắng
chân mây? bao nhiêu lấp hổng không vừa, th́ cũng nhiều khi chân trời
lại làm ông thất vọng: bốn cẳng chạy tới chân trời? không bơ? không
bơ? vớt về một canh cánh chiêm bao.
…Rồi có một lần, ông nói về hạnh
phúc, nhưng không có chữ TÔI, và bản thân hạnh phúc cũng khó khăn
thế nào : Thôi đi những hạnh phúc - quần đùi may sẵn! giầy dép -
đóng sẵn! Số? Cỡ? Hạnh phúc chẳng mua ở công ti-may mặc-sẵn? những
si lip sách chẳng vừa…cóoc sê jáo khoa ca mà thịt hở… (Sổ thơ kể kệ
1976) Hoặc những phút hiếm hoi như thế này cũng được kể lại theo
cách viết rất riêng của ông:
«Tôi có nghèo đâu, trăng sao lủng
liểng. Mây phơi dằng dặc khắp chân trời. Hương hỏa của tôi, kho nào
chứa xuể? Ê hề vũ trụ sao bay. Tôi di lại cho ai giờ? Tầng tầng mây,
lục địa lục địa của cải» (Sổ
bụi 1979)
Nhưng có khi TÔI trở thành CHO TÔI.
Cặp quan hệ «tôi cho ai» và «ai cho tôi» có mặt trong thơ ông từ
thời Cổng tỉnh, chẳng bao giờ được trả lời. CHO TÔI thực ra là cái
vô lư mà trong đó TÔI không thể hiểu được, là cái không thể mà TÔI
khao khát, là những t́nh thế mà TÔI không thấy lối ra. Nếu như TÔI
có mặt thường trực suốt cuộc đời thơ của ông, th́ CHO TÔI lại chỉ
tập trung ở những thời gian nhất định, có vắng bóng, có hội ngộ:
sao lại cho tôi quê cháo lú. quên
cha quên mẹ. quên ngày hội. quên chạm ngơ. cưới xin. chôn cất. tang
chồng không để. để tang xô.
cho tôi về dưới Tía. cả ngày chong
bóng xế. cho tôi về quá Mễ. tào lao giấc trắng phèo phèo.
sao lại cho tôi nhiều xương sống
thế? trước quyền không biết lom khom?
(Sổ bụi 1979)
Ai xuất tiền mặt cho tôi?
(Sổ bụi 1982)
cho tôi ngồi fố khói? ga khói của
ḷng? bướm khói liệng sân ga?
(Sổ bụi 1989)
Chữ TÔI kiểm điểm bản thân cùng một
thời đại buồn rầu của Cổng tỉnh năm 1960 đến những sổ bụi không c̣n
xếp cùng với thời đại của ông nữa. TÔI những năm tám mươi từ chối
bên ngoài:
Nhân loại - tôi không chơi với các
anh nữa
Ván nào anh cũng ăn jan…
(Sổ bụi 1982)
…
Người đọc cũng có thể hiểu được
rằng con đường từ TÔI đến TÔI đâu phải chỉ khép lại trong cô đơn, mà
là kết quả của rất nhiều năm lao động: Từ tôi tới ḿnh? vạn lí
trường chinh..? mấy ai đi hết lữ tŕnh? nửa đường rơi rụng sinh
linh? (Sổ bụi 1987). Người đọc cũng có thể được lư giải v́ sao chữ
TÔI của thơ mini 1988 vừa khỏe mạnh, vừa đau đớn, lại vừa kiêu hănh,
đến ấm ḷng:
Tôi khóc những chân trời không có
người bay
Lại khóc những người bay không có
chân trời
Có thể đây là một trong những lư do
v́ sao những bài thơ ngắn và cực ngắn, bắt đầu từ các sổ thơ 1973
đôi khi chỉ được đánh số thứ tự, phần nhiều chỉ được gọi là những
bài «thơ lẻ», phải đợi đến năm 1988 những bài thơ ngắn mới được gọi
là «thơ mini».
|

|
|
Thơ và họa của Trần Dần |
THƠ và KHÁCH THƠ
Khi đọc bố tôi viết tác phẩm là bản gốc, đời là bản
sao (Sổ bụi 1988) tôi đă cho rằng hai mươi ba năm sống cạnh ông tôi
mới chỉ học thuộc bản sao của ông. Bản sao này cũng không trọn vẹn.
Tôi không được ở cùng bố tôi tám năm cuối của ông.
Sau khi ông mất, bản sao này dần dần được thay thế bằng một cái ǵ
khác, một cái ǵ mà cho đến tận bây giờ tôi vẫn không dám khẳng định
có phải là THƠ của ông, là di cảo của ông. Tôi vẫn muốn làm sao giữ
lại được bản sao ấy, dù chỉ là bản sao, dù nó không hoàn thiện.
Nhưng nếu cuộc đời ông đă được ông đem tặng cho THƠ?
Nhưng nếu cuộc đời ông chính là một tác phẩm không được viết?
Tuy nhiên tôi không muốn băn khoăn t́m hiểu v́ lư
do ǵ cuộc sống gia đ́nh và những thăng trầm của xă hội không được
tham gia trực tiếp vào nhật kư của ông từ 1973. Ông c̣n có một mối
nợ khác vô cùng riêng tư, mối nợ vẫn đi theo ông từ Bài thơ Việt Bắc,
từ Nhất định thắng, từ Cổng tỉnh:
Tôi như có lời hứa chưa xong. Có lời nguyền chưa
trọn. Có câu thề c̣n trăn trở nơi tim- thơ là tṛ rồ của những kẻ
như tôi. (Sổ thơ 1976)
Thơ là thuốc chữa cho ta, bệnh sống.
Chẳng bệnh ǵ đâu, chỉ mỗi bệnh sống. Không thơ,
lấy j́ chữa chạy júp dùm ta? (Sổ
thơ 1975)
Thơ với tôi như tôn giáo không nhà thờ - không giáo
chủ. Chẳng tăng sư? tôi vẫn chốt ở đền Bay-on chữ. Thơ là mạng sống,
là lư lịch thật đời tôi. (Sổ
bụi 1988)
Mối nợ của ông là THƠ. Mặc dù TÔI của sổ thơ sổ bụi
đă được ông đem tặng hết cho THƠ vẫn có những lúc ngắn ngủi THƠ tách
ra khỏi TÔI cũng giống như tạm xếp lại những t́nh bạn tuy thắm thiết
nhưng lại ít dễ chịu của họ. Những lúc ấy ông hiểu rằng: Thơ v́ thơ,
tuyệt đối. Hễ v́ bất cứ ǵ khác, dù cao quư mấy, thơ sẽ chẳng c̣n là
thơ. V́ vậy, thơ khôn thể v́ chim gái chẳng hạn. Những thơ t́nh, thơ
chính trị, bất ḱ tính từ nào, đều vô nghĩa, với tôi. (Sổ bụi 1988).
Và THƠ không có TÔI lập tức vứt bỏ mọi ràng buộc và giới hạn, của
ngôn từ và kích cỡ, được nhà thơ chiêm ngưỡng từ xa, vô cùng say sưa:
Thơ là cái thăm thẳm.
(Sổ bụi 1988)
Có một vùng thơ tên gọi không lời.
(Sổ bụi 1988)
Vùng mù…vùng tổ của vùng thơ.
(Sổ bụi 1984)
Tuy nhiên, việc phi thường chờ người phi thường, có
nhà thơ mới có thơ (Sổ bụi 1984), nhà thơ được ông gọi là người thơ,
thi sĩ… và khách thơ. KHÁCH THƠ mang nhiều trùng lập với con người
Trần Dần, cả hai cùng bị lạc tới quả đất, và ông quan sát KHÁCH THƠ
với nhiều thương xót.
Bản thân ông là người chôn rau ở tận trời sao, bản
thân ông c̣n xa lạ quá quả đất, để có thể cảm thông với vị khách lạc,
để nói nhưng không rơ với ai:
Khách thơ chẳng thích ǵ quả đất. Anh lạc hành tinh
rồi! Tội nghiệp! (Sổ thơ 1975)
Trong cùng một sổ thơ, ông gặp những con đường cũng
biết ước mơ, gặp một sân ga im lặng trắng, gặp những v́ sao biết là
áy náy hộ v́ ai, gặp khách thơ nhưng không bao giờ, và bao giờ,
khách thơ có chỗ, ở trong huyên náo địa dư-người.
Ông trách: Trăng Á mặt trời Âu đều chẳng chiếu. Vào
chỗ nào là chỗ khách thơ đau. Trong những sổ thơ và sổ bụi sau này
không thấy KHÁCH THƠ quay trở lại quả đất nữa. KHÁCH THƠ giống như
một cuộc viếng thăm không lời, đến từ một vùng thơ không lời, và vội
vàng khép lại…
Đến thời gian làm thơ mini 1988 nhà thơ của ông có
lúc không c̣n mang bóng dáng của người khách thơ im lặng và thi sĩ
đầy khát vọng, mà gai góc khó chịu: Mỗi nhà thơ mang một địa ngục.
không ai người chung sống nổi với nhà thơ. Nhưng nhiều khi nhà thơ
ấy lại đời thường biết bao, và ngay cái đời thường lại nghịch lư đến
tầm thường. Tôi không thể mỉm cười được trước những bông hoa không
được rắc nước hoa, bởi bài thơ chính là quan niệm của ông về THƠ và
NHÀ THƠ:
người thơ
không rắc nước hoa
lên những bông hoa ḿnh trồng.
…
Sổ bụi CUỐI
Tôi đă không tự hỏi, khi lục t́m di cảo, đâu là
những ḍng viết cuối của bố tôi? Tôi đă bắt đầu bằng những tác phẩm
nằm, là những trường ca, những tập thơ đă hoàn chỉnh, những tiểu
thuyết, tranh vẽ và thơ vẽ không có lời mà ông gọi là Thơ cơ bản,
rồi những tập thơ có lời mà ông lại gọi là Thơ không lời.
Bốn năm sau khi ông mất, tôi mới đọc những sổ thơ
và sổ bụi. Tôi nghĩ đă thu xếp cho ḿnh đủ b́nh tĩnh để đọc nhật kư
của người khác. Tôi đă đọc ba mươi tư sổ tay, không theo tŕnh tự,
không hiểu hết, không nhớ hết, và không biết tôi đă đọc những ḍng
viết cuối của ông từ lúc nào.
…
Năm 1989 bắt đầu, và thật kỳ lạ, đây là trang sổ
bụi duy nhất có ghi ngày tháng, nằm lẫn vào trong những trang cuối
của sổ bụi 1988:
“Ngày 23 tháng 1 năm 89, tức ngày mùng 10 Chạp Th́n.
Dương đă 89. Âm vẫn chửa sang trang Kỷ Tị. Thời
gian châu Á vẫn tiêu sâm…
Tôi chẳng muốn mang sang ǵ cả. Nỗi
buồn ga cuối c̣n nguyên”.
Sổ 1988 hết trang, ông sang sổ mới.
Đây mới là cuốn nhật kư cuối cùng của ông, sổ bụi 1989. Ông bắt đầu
như thế này:
Canh bạc giao thừa - thua cũng
được?
đời
đau - thi
cách rơ ràng…
Rồi có những bài thơ mini:
Tia mắt chiêm bao ngạt ngào quanh
thế. Người về bang cũ có buồn không?
Cố nhân bang mới buồn như khói? Tấm
ḷng ga cuối lặng như đêm.
ngă ba đen? ngă ba đen?
sự vật không đèn?
ai khóc?
ngă ba tim?
Và rất nhiều chữ CUỐI, chưa bao giờ
cùng tụ tập lại như thế này:
- hoa soi? hoa sói. hoa ṣi. hoa
khói? ga cuối của ḷng.
tim cuối? hai bàn chân cuối?
“Đây rồi phố cuối – khóc đi
thôi”
- tuổi cuối?
hai bàn chân cuối vẫn ra đi
- xá ǵ khi khói - cuối đă bay đi?
mây cuối của ḷng?
con mắt cuối vẫn chong chong?
- tuổi cuối?
ga cuối của ḷng
nghe hát thương hoa…
…
Ở một trang khác, là chính ông đứng
chống gậy ngoài phố. Ngoài ngă ba phố hay ngă ba tim? Đây chính là
h́nh ảnh ông mà ai đă biết ông đều nhận ra. Đây cũng chính là một
ông già tập tễnh trong mắt người đời, trong con mắt trẻ con, bị trẻ
con trêu. Không thể đọc một cách b́nh thản được:
“ngă ba tim. từ ngă ba tuổi. từ đèn
ngă ba? - ông già hoè? ông koè? tôi iêu ông già hoè?
không iêu ông già koè? - tôi iêu
ông jà koè! tôi iêu ông jà hoè!”
Nhưng rồi những day dứt của ông lại
nhanh chóng nhường chỗ cho một mùa thu rất xanh và một cơn mưa mà
ông đă gặp từ hồi Nhất định thắng, từ hồi Cổng tỉnh:
“cho tôi ngồi fố khói? ga khói của
ḷng? bướm khói liệng sân ga? tầu khói. chung nhau màu tuổi khói?
đâu dè mắt khói chiêm bao. mây bay? chung đôi ngồi kể khói? mưa rất
xưa mà thu rất xanh. mắt khói thế này. mắt khói để cho ai?”
Tôi không cho rằng một mùa thu rất xanh có thể đóng
lại toàn bộ những sáng tác của ông. Tôi vẫn biết không bao giờ ông
bằng ḷng với những ǵ ông đă làm.
Không hiếm khi ông đă tự trách ḿnh: tuổi 60 rồi?
không viết nổi một câu thơ? Anh 60 rồi chẳng có quê? Cho dù đối với
ông ghi trở nên một h́nh phạt (1958) ông vẫn tiếp tục viết những bức
thư không gửi cho những sổ tay, những đau ḷng sổ bụi. Phải lâu lắm
tôi mới t́m lại được trong sổ bụi 1988, khi ông nói về thơ mini,
những ḍng chữ sau: tôi thích viết cái chưa biết, mặc các ông viết
cái đă biết. 90 có hoàn thành không? có thành công không để mà đốt
đi? Tôi đă đốt tôi đi không phải chỉ đôi lần…cái chưa biết- cái khó
- thậm chí cái bất khả thu hút và đắm đuối tôi.
Dấu vết nhỏ bé này đă cho phép tôi đặt câu hỏi có
phải ông đă tự chuẩn bị cho ḿnh ngày đóng cửa bốn mươi sáu năm ghi
nhật kư từ một năm trước?
Có phải những năm sau 89, ông đă không c̣n muốn
nhẩy qua bóng của ḿnh? Có phải ông đă có linh cảm không lành về cái
mới, về bệnh tật sẽ cướp đi trí nhớ và sự minh mẫn của ông năm năm
cuối đời?
Có phải ông đă huỷ toàn bộ phần sau của sổ bụi để
tay không mà đi sang BÊN KIA. Như ông vẫn nói: Tôi chẳng muốn mang
sang ǵ cả. Nỗi buồn ga cuối c̣n nguyên.
Paris, tháng 4 năm 2003
Trần Trọng Vũ
Nguồn: http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=112924&ChannelID=7 |