|
Thiền sư Lê
Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động
Hoàng Hải Vân
(Phần 3)
|

|
|
Thiền sư
Lê Mạnh Thát - ảnh:Ngọc Hải |
(Tiếp theo
Thanh Niên thứ năm 28.2.2008)
Lê Thánh Tôn nói: Một tấc đất
của tổ tiên cũng không để mất! Kèm theo câu nói đó là việc dựng lại
Ngọc phả Hùng Vương...
Tiếp tục hành tŕnh về thời đại Hùng Vương
Cho đến nay, với nhiều nỗ lực nghiên
cứu, các nhà sử học nước ta đă phát hiện rất nhiều tài liệu quan
trọng về nền văn minh của nước ta thời đại Hùng Vương, đặc biệt là
đă thu thập, giám định, phân tích một khối lượng đồ sộ các di chỉ
khảo cổ học từ văn hóa Phùng Nguyên, văn hóa Đồng Đậu, văn hóa G̣
Mun đến văn hóa Đông Sơn. Những nỗ lực đó cho phép phác thảo bước
đầu diện mạo của thời đại khởi nguồn của dân tộc, đủ để bác bỏ những
mưu đồ phủ nhận hoặc hạ thấp công lao dựng nước của tổ tiên. Ghi nhớ
lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Các vua Hùng có công dựng
nước...", Nhà nước ta đă chính thức quyết định lấy ngày Giỗ tổ Hùng
Vương làm Quốc Giỗ.
"Sau ngày độc lập, cụ Hồ Chí Minh rất
chính xác khi lấy tên Hùng Vương đặt cho con đường chính giữa thủ
đô, ngang qua Hội trường Ba Đ́nh, đó là điều hết sức có ư nghĩa",
giáo sư Lê Mạnh Thát nói với chúng tôi. Ông lưu ư rằng, không phải
ngẫu nhiên mà trong khi Ngọc phả nhà Lư mất, Ngọc phả nhà Trần mất,
Ngọc phả nhà Lê cũng mất th́ Ngọc phả Hùng Vương lại được lưu giữ,
hiện c̣n 3 truyền bản, 2 truyền bản có từ thời Tiền Lê (Lê Đại Hành)
và 1 có từ thời Lê Thánh Tôn. "Lê Đại Hành dựng lại Ngọc phả Hùng
Vương giữa lúc chuẩn bị đánh Tống. Đánh Tống là cuộc kháng chiến
chống một cường quốc chứ không phải chống đội quân lèo tèo như Nam
Hán. Lê Thánh Tôn nói: Một tấc đất của tổ tiên cũng không để mất!
Kèm theo câu nói đó là việc dựng lại Ngọc phả Hùng Vương". Ông nói
tiếp: "Giữa lúc người Mỹ tuyên bố đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá
th́ Việt Nam lại có một cuộc khảo sát lớn nhất về thời đại Hùng
Vương do chính Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ đạo. Giữa cuộc kháng
chiến chống Mỹ, chúng ta đă thực hiện 4 tập sách về thời đại Hùng
Vương. Đó là một cuộc nghiên cứu nghiêm túc nhất từ trước tới nay.
Lần đầu tiên chúng ta có một cuộc nghiên cứu khoa học về thời đại
Hùng Vương với quy mô lớn, do Nhà nước chủ trương, chứ không phải là
nghiên cứu lẻ tẻ. Chúng ta thu được những thành quả quan trọng về
khảo cổ học và tập hợp được một số tài liệu chữ Hán giai đoạn đầu.
Điều đó rất có ư nghĩa và cần được tiến hành tiếp tục".
Tuy nhiên, rất nhiều vấn đề quan trọng
về lịch sử của thời đại này vẫn đang bị bỏ ngỏ hoặc bế tắc, trong đó
có vấn đề chữ viết, luật pháp cùng những vấn đề căn bản khác của một
nhà nước mà chắc chắn là nó phải có trong thời đại Hùng Vương. Bởi
vậy, những khám phá của giáo sư Lê Mạnh Thát có ư nghĩa vô cùng.
Sau khi đưa ra các minh chứng để đề
nghị loại bỏ hai triều đại An Dương Vương và Triệu Đà ra khỏi lịch
sử và xác định thời đại Hùng Vương tồn tại cho đến năm 43, giáo sư
Lê Mạnh Thát tiếp tục phát hiện thêm những tài liệu quan trọng có
thể khai thông những bế tắc từ bấy lâu nay.
Việc tồn tại của Việt luật (mà Mă Viện
"điều tấu"), theo giáo sư Lê Mạnh Thát, cho phép chúng ta giả thiết
rằng tiếng nước ta vào thời điểm đó (thời Hai Bà Trưng) đă phát
triển đến một mức độ chính xác nhất định và có một hệ thống chữ viết
đủ rơ ràng để ghi chép các quy định của luật pháp.
Vấn đề là Việt luật hiện nay không c̣n,
điều đó không có ǵ là lạ, v́ chính Hán luật cũng không c̣n. Chúng
ta cũng chưa t́m được chữ viết trong các di chỉ khảo cổ học. Điều đó
cũng không có ǵ lạ và chưa t́m được không có nghĩa là nó không có,
bởi ngay đến chữ viết thời Lư - Trần mà vẫn không t́m được trên các
di chỉ khảo cổ học khai quật tại Hà Nội, trừ bia Lư Thường Kiệt và
vài tấm bia ít ỏi khác t́m được ở rất xa ngoài Thăng Long. "Lịch sử
Lư - Trần rực rỡ như vậy mà không c̣n một tấm bia nào ở thủ đô hết,
chúng (nhà Minh) nhất định không để lại một vết tích nào của lịch sử.
Đến nỗi, ông Hoàng Xuân Hăn phải đề nghị một hướng mới là t́m nó
dưới nước, tức là khảo sát dưới hồ Tây", thiền sư Lê Mạnh Thát bức
xúc. Nói thế để thấy kẻ thù thâm độc như thế nào trong mưu đồ triệt
hạ văn hóa của dân tộc ta, triệt hạ tận gốc để dân ta không biết gốc
tích của ḿnh.
Truy lại chữ viết của tổ tiên v́ vậy
mà trở nên thiên nan vạn nan. Nhưng không phải không có cách. Giáo
sư Lê Mạnh Thát nói đầu thế kỷ trước, người Pháp đă khai quật một
ngôi mộ cổ ở Bắc Ninh, phát hiện một thứ chữ viết trên gốm, "giống
chữ Hán nhưng người Hán không đọc được", nghĩa là một thứ chữ viết
theo kiểu Hán nhưng không phải chữ Hán, đó rất có thể là chữ Việt.
Theo ông, chúng ta hiện có hai nguồn
tư liệu cơ bản: Nguồn thứ nhất là Lục độ tập kinh cùng các dịch
phẩm khác của Khương Tăng Hội là Cựu tập thí dụ kinh, An ban thủ ư
kinh chú giải và Tạp thí dụ kinh do một tác giả vô danh thực hiện.
Ông đă khảo cứu một cách công phu tường tận ngữ âm tiếng Việt c̣n
lưu giữ trong những tập kinh này. Chẳng hạn, để diễn tả ư niệm "trong
ḷng", Lục độ tập kinh có hai dạng cấu trúc. Dạng thứ nhất tập trung
ở quyển 7 có 7 trường hợp dùng "tâm trung" (cấu trúc ngữ âm tiếng
Trung Quốc), dạng thứ hai có 8 trường hợp rải đều trên 6 quyển dùng
từ "trung tâm" (cấu trúc ngữ âm tiếng Việt). Khảo sát tiếp Kinh Thi
do Khổng Tử san định, trong 305 bài th́ có 15 bài dùng "trung tâm".
Sau Kinh Thi là Lễ kư do ảnh hưởng của Kinh Thi có 4 lần sử dụng "trung
tâm". Và trong 300 năm đầu sau dương lịch, dạng "trung tâm" hầu như
không được các học giả Trung Quốc dùng tới, nếu có vài trường hợp
th́ đều là ở dạng trích từ Kinh Thi hoặc nhái theo Kinh Thi mà thôi.
Thế mà Lục độ tập kinh, với 91 truyện, có 8 lần sử dụng cấu trúc đó,
tỷ lệ gần 1/10, cao hơn nhiều so với Kinh Thi (15/305). Trong 7 lần
sử dụng dạng "tâm trung", có khả năng ban đầu cũng dùng dạng "trung
tâm", sau bị điều chỉnh lại, là do nó chỉ tập trung trong quyển 7,
là quyển chủ yếu tŕnh bày về thiền, chắc chắn do nhu cầu t́m hiểu
về thiền nên nó được lưu hành rộng răi qua nhiều tay người đọc Trung
Quốc và quá tŕnh đó đă được nhuận sắc cho đến khi được khắc bản vào
năm 927, trong khi cấu trúc dạng "trung tâm" tiếp tục tồn tại trong
các quyển kia của Lục độ kinh. Trong Lục độ kinh c̣n có một số cấu
trúc ngữ âm tương tự, ví dụ như cấu trúc "thần thọ" có nghĩa là "thần
cây" chứ không phải "cây thần" như tiếng Trung Quốc...
(c̣n tiếp)
Phần 4
Nguồn:
http://www2.thanhnien.com.vn/Vanhoa/2008/2/29/227923.tno
Quay
lại phần đầu
Về đầu trang |