Hoàng
Hải Vân
|
 |
|
Thiền
sư Lê Mạnh Thát - Ảnh: Ngọc Hải |
Với những khám phá của ông, chúng ta
có đủ tư liệu để dựng lại lịch sử vẻ vang của dân tộc ta từ hai ngàn
năm trước...
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Là một nhà tu hành xuất gia từ bé,
nhưng Thượng tọa Thích Trí Siêu (tức giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát)
vẫn để tóc. Thú thật là quá ṭ ṃ về chuyện đó, tôi mạnh dạn hỏi ông
v́ sao như vậy. Ông cười phá lên, chỉ vào bức ảnh Đức Bồ đề Đạt Ma:
"Ông ấy có cạo đầu đâu! Tôi c̣n thua ông ấy một bộ râu". Tôi ngộ ra
rất nhiều điều trong tiếng cười của ông.
Tôi đă gặp ông nhiều lần, trước hết là
để viết bài về Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc (VESAK) được tổ chức
tại Việt Nam sắp tới mà ông là Chủ tịch Ủy ban quốc tế (IOC) đồng
thời là Tổng thư kư Ủy ban điều phối quốc gia Đại lễ này. Tôi cũng
đă đọc nhiều sách ông viết. Nhưng với tŕnh độ nông cạn của tôi,
hiểu về con người cùng sở học mênh mông vi diệu của vị cao tăng này
thật không dễ chút nào.
Ông không chỉ là một thiền sư, là nhà
khoa học có nhiều bằng tiến sĩ, thông thạo hơn 15 ngôn ngữ (Anh,
Pháp, Nga, Đức, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, Do Thái, Hy Lạp, Ả Rập, Tây
Tạng, chữ Phạn, chữ Hán cổ...), ông c̣n là một người Việt Nam "nguyên
chất" với tất cả ḷng tự trọng tự hào về dân tộc ḿnh, thể hiện một
cách lạ lùng ngoạn mục ở tất cả các công tŕnh khoa học của ông.
Trước khi nói về VESAK, tôi xin ghi
lại một vài điều tâm đắc sau khi đọc, sau khi nghe ông nói và hỏi
lại thật rơ những khám phá của ông về cội nguồn dân tộc, về nhiều sự
thật của lịch sử nước nhà hàng ngàn năm bị che lấp hoặc bị hiểu sai
lệch.
"Ông Lê Quư Đôn mà cũng
lôi thôi quá !"
Xin chép ở đây hai bài thơ chữ Hán,
theo tôi bài nào cũng hay đến "lạnh cả người":
Nhị bát giai nhân thích tú tŕ
Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly
Khả liên vô hạn thương xuân ư
Tận tại đ́nh châm bất ngữ th́
(Tạm dịch nghĩa:
Người đẹp mười sáu tuổi nhẹ tay thêu
trên gấm
Dưới khóm hoa tử kinh con chim hoàng
ly đang chuyền
Thật đáng thương nỗi ḷng vô hạn đối
với mùa xuân
Ngưng đọng nơi mũi kim, lặng lẽ không
nói)
Đó là bài Xuân nhật tức sự,
được Lê Quư Đôn chép trong Kiến văn tiểu lục và ghi là của thiền sư
Huyền Quang thời nhà Trần (1254-1334). Từ đó nhiều thế hệ học giả đă
dẫn giải, b́nh luận, coi là một kiệt tác thi ca chữ Hán của Việt
Nam. Trên tạp chí Văn học số 1-1984, lần đầu tiên giáo sư Lê Mạnh
Thát đă đưa ra tài liệu chứng minh bài thơ trên không phải của thiền
sư Huyền Quang mà của thiền sư Ảo Đường Trung Nhân (?-1203) thời nhà
Tống bên Trung Quốc.
Một bài khác:
Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ư
Thủy vô lưu ảnh chi tâm
(Tạm dịch nghĩa:
Chim nhạn bay dài qua không trung
Ảnh ch́m dưới ḍng sông lạnh
Nhạn không có ư để lại dấu tích
Sông không có ḷng lưu lại bóng h́nh)
Bài thơ này cũng được Lê Quư Đôn chép
trong Kiến văn tiểu lục, ghi là của Hương Hải thiền sư
thời nhà Lê. Nhưng trong công tŕnh nghiên cứu rất công phu về thiền
sư Hương Hải (Toàn tập Minh Châu Hương Hải), giáo sư Lê Mạnh Thát
cũng đă “trả" bài thơ này lại cho tác giả thật của nó là thiền sư
Thiên Y Nghĩa Hoài bên Trung Quốc thời Tống. Nhưng không chỉ có vậy.
Giáo sư Thát c̣n liệt kê trong số 59 bài thơ được coi là của thiền
sư Hương Hải do học tṛ của thiền sư chép trong Hương Hải thiền
sư ngữ lục, có đến 47 bài không phải của thiền sư. Từ đó, Lê
Quư Đôn đă chép lại 43 bài trong Kiến văn tiểu lục, cả 43
bài đều của các thiền sư Trung Quốc. Ông đă chỉ rơ từng bài, là của
ai, ở trong tài liệu nào, tờ số mấy. "Ông Lê Quư Đôn mà cũng lôi
thôi quá!", ông cười cười nói với tôi. Là ông nói đùa thôi, chứ ông
biết rơ Lê Quư Đôn là người rất cẩn trọng. Ông bảo sở dĩ có sai sót
này là do Lê Quư Đôn chắc chắn không biết, tức không có dịp đọc các
bộ chính sử thiền tông Trung Quốc. "Hơn nữa, Lê Quư Đôn, với tư
cách là một Phật tử, có thể đă quá tin tưởng vào bản in Hương Hải
thiền sư ngữ lục, nghĩ rằng các thơ kệ và ngữ lục trong đó là đúng
của Minh Châu Hương Hải, v́ chúng đă được môn đồ của vị thiền sư này
cho khắc in, nên đă không tiến hành kiểm tra, t́m hiểu và so sánh",
ông viết.
Toàn tập Minh Châu Hương Hải là một
trong rất nhiều công tŕnh sử học của giáo sư Lê Mạnh Thát. Trong
khi sưu tầm, đối chiếu, xác minh và giới thiệu những cống hiến quan
trọng về lịch sử tư tưởng, văn học và Phật giáo Việt Nam của vị
thiền sư lỗi lạc này, ông đồng thời đă cẩn trọng "trả lại cho người
khác" những ǵ không phải của thiền sư, dù đó là những viên ngọc quư
(như bài thơ nói trên). Đối với những nhân vật khác, ông cũng làm
tương tự. Ông bảo những nhầm lẫn trong các công tŕnh sử học kiểu đó
không những không làm vinh dự thêm cho dân tộc mà c̣n rất tai hại,
nó khiến cho người ta nghi ngờ chính những cống hiến quan trọng của
các nhân vật lịch sử nước ta, đặc biệt khi các bậc thức giả nước
ngoài tiếp cận những tài liệu này.
Dẫn ra chi tiết nhỏ trên đây để thấy
sự nghiêm cẩn trong nghiên cứu của giáo sư Lê Mạnh Thát. Nhưng ngoài
sự nghiêm cẩn, ông c̣n có một lợi thế tự nhiên khó có học giả nào có
được. Là một thiền sư, ông đă đọc hết những bộ kinh sách đồ sộ như
Đại tạng kinh và Tục tạng kinh chữ Hán, ông đọc
trước hết là "để thưởng thức". Chính v́ vậy mà chẳng hạn như đối với
trường hợp hai bài thơ nói trên, ông đă biết đến khi đọc bộ sử thiền
tông Trung Quốc (trong Tục tạng kinh), nên khi nghiên cứu về Huyền
Quang và Hương Hải ông đă phát hiện ngay sự nhầm lẫn.
Lịch sử dân
tộc bảo tồn trong kinh Phật
Lục độ tập kinh
là một tập kinh quan trọng trong Đại tạng kinh của Phật
giáo thế giới. Tập kinh này được dịch ra chữ Hán vào thế kỷ thứ 2,
truyền bản của nó đến ngày nay gồm 8 quyển, 91 truyện, tŕnh bày sáu
hạnh vượt bờ của Bồ tát gồm bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
thiền định và trí tuệ. Các vị cao tăng đông tây kim cổ đều biết đến
tập kinh này và từ lâu nó đă được dịch ra tiếng Pháp và tiếng Nhật.
Lần đầu tiên sau gần hai ngàn năm lưu
truyền của Lục Độ tập kinh, giáo sư Lê Mạnh Thát có những
phát hiện cực kỳ quan trọng từ tập kinh này. Ông khẳng định tập kinh
đó là của Việt Nam, nó được dịch ra chữ Hán từ một bản tiếng Việt
chứ không phải từ bản tiếng Phạn; Tăng Khương Hội, người dịch bản
kinh đó, người mà sử sách cổ Trung Quốc coi là "bậc thánh hiền", là
một người Việt Nam (ít nhất là sinh ra, lớn lên, học hành, theo đạo
Phật, hành đạo và trước tác đều tại Việt Nam). Bằng kiến thức uyên
bác về lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ, ông đă truy tận gốc tất cả
những tài liệu cổ xưa nhất có liên quan, tiến hành khảo sát, đối
chiếu, giám định và đưa ra một loạt những kết luận với các chứng cứ
không thể phản bác. Ông bảo tập kinh đó chứa đựng "một lượng bất
b́nh thường" các tư tưởng, quan điểm và đạo lư mang sắc thái chính
trị và lịch sử Việt Nam.
Phát hiện đầu tiên là Lục độ tập
kinh chứa đựng truyền thuyết khởi nguồn của dân tộc, đó là
chuyện một trăm trứng. Điều này hết sức có ư nghĩa, là v́ truyền
thuyết đó được ghi vào sử sách bắt đầu từ bộ Đại Việt sử kư toàn
thư của Ngô Sỹ Liên. Truy lùi lại th́ thấy chuyện này được chép
trong Lĩnh Nam chích quái. Truy nữa th́ "bó tay", không
biết nó xuất phát từ đâu, chỉ thấy nó liên quan tới truyện Liễu Nghi
đời... Đường bên Trung Quốc. Từ trước tới nay mọi bàn căi đều tập
trung vào việc chấp nhận hay không truyền thuyết đó, mà chấp nhận
hay phủ nhận nó không phải là vấn đề của lịch sử. Dân tộc nào cũng
có truyền thuyết khởi nguyên, mà đă là truyền thuyết th́ ít nhiều
đều mang yếu tố hoang đường, nhưng đó là hồn thiêng dân tộc. Với Lục
độ tập kinh, chúng ta đă truy ra thời điểm khởi nguồn của hồn thiêng
dân tộc của ḿnh.
Trong khi phát hiện truyền thuyết trăm
trứng nằm trong Lục Độ tập kinh, giáo sư Lê Mạnh Thát c̣n
khám phá một sự thật lịch sử thú vị liên quan đến An Dương Vương và
Triệu Đà. Từ truyền thuyết trăm trứng nằm trong truyện 23 của
Lục Độ tập kinh, ông đối chiếu với một dị bản bằng tiếng Phạn
và lại phát hiện truyền thuyết An Dương Vương giống như câu chuyện
về trận đánh quyết định trong anh hùng ca Mahàbhàrata giữa hai anh
em Pandu và Duryodhana. Đối chiếu với tất cả những ǵ được ghi trong
Sử Kư của Tư Mă Thiên và các tài liệu cổ sử khác của Trung Quốc, ông
khẳng định truyền thuyết An Dương Vương đánh bại vua Hùng Vương thứ
18 rồi lập nên một triều đại (dưới ng̣i bút của Ngô Sỹ Liên trong
Đại Việt sử kư toàn thư) là không có thật, nó chẳng qua chỉ là một
phiên bản của câu chuyện Mahàbhàrata từ Ấn Độ truyền vào Việt Nam
thời Hùng Vương mà thôi. Ông cũng tiếp tục đối chiếu sử sách và
khẳng định không những không có chuyện Triệu Đà đánh An Dương Vương
(v́ làm ǵ có An Dương Vương mà đánh!) mà nước ta cũng không bao giờ
bị Triệu Đà chiếm. Nước Nam Việt của Triệu Đà chưa bao giờ bao hàm
nước ta trong đó cả. Có nghĩa là, cho đến năm 43 (sau dương lịch),
trước khi cuộc chiến tranh vệ quốc của Hai Bà Trưng thất bại, nước
ta vẫn là một nước độc lập. Đó là triều đại Hùng Vương, là nhà nước
Hùng Vương. Nhà nước đó đă được xây dựng trên một nền văn hiến với
điển chương riêng của nó, có luật pháp, có chữ viết, có lịch số, có
âm nhạc, có văn học... Nhà nước đó, nền văn hiến đó hoàn toàn không
do người Trung Quốc đến "khai hóa" mà có. Nó có đủ bản lĩnh, đủ sức
mạnh để tiếp thu những ǵ là tinh hoa và để tự vệ trước âm mưu nô
dịch của ngoại bang. Nó có đủ sự nổi trội để đóng góp vào nền văn
minh chung của nhân loại mà Lục Độ tập kinh là một trong
những dẫn chứng sống động. Với những khám phá của ông, chúng ta có
đủ tài liệu để dựng lại lịch sử vẻ vang của dân tộc ta từ hai ngàn
năm trước...
(c̣n tiếp)
H.H.V
Phần 2
Về đầu trang
Nguồn:
http://www1.thanhnien.com.vn/Vanhoa/2008/2/27/227642.tno