Hoàng Phủ
Ngọc Tường - 'người ham chơi'
“Người ham chơi”
Hoàng Phủ Ngọc Tường chín năm nay chỉ nằm một chỗ, khi tiếp khách
phải ngồi xe lăn. Đă sáu bảy lần vợ “tha” đi chữa bệnh khắp các thầy
giỏi trong Nam ngoài Bắc, anh vẫn chưa thể đứng lên được...
Nhưng anh vẫn làm
thơ, mỗi cái tết anh vẫn viết năm bảy bút kư cho các báo lớn trong
nước. Nghĩa là anh vẫn đều đặn đến với người đọc. Văn chương anh là
mạch vỉa than đá cung cấp nguồn năng lượng cho bao thế hệ người VN,
nhưng anh lại là người hứng chịu tai ương bệnh tật nằm một chỗ chín
năm nay. Có lần nằm một ḿnh ở lầu hai, vợ và mẹ vợ bận đi chợ đâu
đó, lâu không thấy ai đến chơi, anh điện thoại cho tôi, nói một câu
làm tôi nổi da gà: “Ngô Minh ơi, đến đây nói chuyện tào lao chơi,
ḿnh thèm nghe tiếng người lắm!...”.
1. Hồi nhà thơ
Nguyễn Trọng Tạo c̣n ở Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường chưa bị tai biến,
ba chúng tôi chiều nào cũng ngồi với nhau ở một quán cóc nào đó nhâm
nhi chén rượu Hiếu để sinh hoạt “Chi hội nhà văn Bến Ngự” v́ nhà ba
người đều ở cạnh chợ Bến Ngự. Hồi đó, Hoàng Phủ tự gọi ḿnh là
“người ham chơi”: "Vẽ tôi một nét môi cười/ Một ḍng nước mắt một
đời phù du"... Anh có cả một tập nhàn đàm dày mấy trăm trang có tên
Người ham chơi. Dường như lúc nào anh cũng có mặt bên chiếu rượu với
bạn bè từ rừng tới biển, từ Bắc chí Nam, nói đủ chuyện Đông, Tây,
kim, cổ. Trong cuộc vui, Tường bao giờ cũng nói nhiều hơn uống. Mà
nói rất hay. Nói y chang như văn anh viết trong sách. Có lần tôi đến
nhà gọi anh đi nhậu, mệ (mẹ nhà thơ Mỹ Dạ) bảo: “Ông ấy đi nói rồi!”.
Tường rong chơi
với Hoài Vũ ở Vàm Cỏ Đông; lang thang cùng Trịnh Công Sơn khắp xó
xỉnh Sài G̣n; la cà dọc Quảng Trị, Tây Nguyên với giáo sư Trần Quốc
Vượng, Phùng Quán, Nguyễn Trọng Huấn, Nguyễn Trọng Tạo, Lê Minh Ngọc...
Đọc bút kư, nhàn đàm, thơ của Tường, mới hay anh ngao du khắp thế
giới: Từ Rừng hồi xứ Lạng, đến Đất Mũi, từ Núi bài thơ Hạ Long, Hàng
rào điện tử MacNamara Dốc Miếu, đến Tháp Mười, từ Phố con mèo câu cá
ở Paris, đến Trời Điện Biên mây trắng... .
 |
Cuối tháng
3/1998, Hoàng Phủ, Nguyễn Trọng Tạo cùng tôi được nhà thơ Trần Nhuận
Minh, lúc đó là chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Ninh, mời về Hạ Long dự
“Ngày thơ Quảng Ninh 29/3”. Trong cuộc hội thảo thơ hôm đó, gần cuối
buổi, vị chủ tọa bất ngờ mời anh Tường phát biểu. Tường xoa xoa tay
rồi nói vo v́ không chuẩn bị trước: “Tôi ngồi nghe gần chục cái tham
luận thấy các nhà thơ, nhà lư luận Quảng Ninh nói nhiều đến “các
tính”, các “chức năng” của thơ, tôi thấy sợ quá, không dám bàn ǵ
thêm. Tôi chỉ xin mạo muội nói một ư nhỏ: thơ cũng là sự chơi! Có
chơi mới có thơ hay!".
Rồi Tường dẫn Tản
Đà: Chơi cho biết mặt sơn hà - Cho sơn hà biết đâu là mặt chơi; vừa
đánh giặc xong, Thánh Gióng bay về trời, đó là sự chơi; rồi quan họ
hội Lim, rượu làng Vân, tranh làng Hồ... đều là sự chơi tài tử ở đời...
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương... đều là người chơi nổi tiếng đương thời.
C̣n Nguyễn Công Trứ th́... tay chơi hết nói! Hết “chơi đại thần” th́
“chơi lính trơn”. Chán lính trơn lại chơi lên đại thần. Lênh đênh
một chiếc thuyền nan/ Một cô gái Huế, một quan đại thần...
Trịnh Công Sơn
th́ rong chơi suốt mùa mà để lại cả gia tài ca khúc vô giá. Rồi
Tường kết luận: “Ham chơi không phải lười biếng. Ham chơi là cách
sống đạt đạo của con người đă nh́n thấy từ lâu bản chất phù hư của
thế giới. Văn chương nghệ thuật cũng là cuộc chơi thượng thặng”.
Không ngờ phát biểu của Hoàng Phủ lại được mọi người tán dương, tâm
đắc. Giờ giải lao và suốt buổi “bữa cơm thân mật” hôm đó, nhiều nhà
thơ, nhà phê b́nh đất mỏ đến “xin chữ kư” Hoàng Phủ. Có người c̣n
nhiệt t́nh mời chúng tôi đi thăm Uông Bí, Yên Tử...
Hoàng Phủ Ngọc
Tường coi ḿnh là “người ham chơi”, v́ “Ham chơi là văn hóa gốc của
người Việt” (Hoàng Phủ Ngọc Tường). Nhưng cứ nh́n vào số lượng tác
phẩm đồ sộ và xuất sắc của anh đă xuất bản, ai cũng hiểu rằng anh
chẳng “chơi” chút nào. Sau những chuyến đi như thế, anh ngồi ĺ trên
cái ghế cổ, không có chỗ dựa lưng để viết suốt đêm, không cho phép
ḿnh được nghỉ ngơi, buông bút!
2. Tôi và Nguyễn
Trọng Tạo hay gọi vui “Tường là nhà hiền triết cũ c̣n sót lại”. Anh
có kiến thức uyên bác về nhiều lĩnh vực triết học, văn học, văn hóa,
lịch sử, địa lư... Đó không phải là kiến thức “tầm chương” mà đă
nhập tâm thành máu thịt. Nhờ đó, anh soi sáng dưới nhiều góc độ khác
nhau những vấn đề mà ḿnh quan tâm. Từ đó chiết ra được những ư
nghĩa mới, giá trị h́nh tượng mới thấm đẫm t́nh yêu và trí tuệ,
thành thứ văn chương “tri âm tri kỷ” làm nhiều thế hệ độc giả mê
say. Có một độc giả già ở Hà Nội đă tỉ mẩn cắt từng câu của bút kư
“Ai đă đặt tên cho ḍng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường in trên báo
Văn Nghệ, nối lại thành một bài thơ, ép giấy bóng gửi vào Huế tặng
tác giả. Từ những chuyện nhỏ gặp trong những đợt đi chơi lang thang,
qua ng̣i bút Hoàng Phủ biến thành những vấn đề nhân sinh thấm thía.
Trong bài nhàn
đàm Đất nước, Tường viết về con chim cà ruồng cà tiệc, người Cơ Tu A
Lưới gọi là chim patoong. Tiếng người dân tộc Cơ Tu cà ruồng cà tiệc
nghĩa là đất nước. Tức là con chim đang kêu đất nước! Bởi thế mà ở
Huế, chim patoong bắt đầu kêu khi vua Duy Tân bị người Pháp đưa đi
đày. Người ta nghe tiếng chim kêu thành “Thôi rồi cơ cuộc... Thôi
rồi cơ cuộc”, cho nên, "Hỡi con chim patoong của người lữ hành, sao
ta thấy se ḷng mỗi lần chim cất tiếng gọi"... Bài Con chim bách
thanh lại xoáy mũi dùi vào bọn ăn nói như vẹt. Chim bách thanh hót
được tiếng của muôn loài, nhưng nó không có tiếng hót riêng của ḿnh:
"Hỡi con chim tội nghiệp. Té ra trời sinh ra mi để hót bằng cái lưỡi
của E-dốp!".
Không giống một
số người, nói khác, viết khác, làm khác, nghĩ khác, họ luôn đeo cái
mặt nạ ngăn cách tâm trạng thật của ḿnh với xă hội, Hoàng Phủ Ngọc
Tường khi nói chơi, hay nói bốc đồng trong cuộc rượu, cũng chân thật
đến tận cùng, giống y chang những điều anh viết thành văn trên trang
sách. Nguyễn Trọng Tạo nhiều lần bảo những điều Tường nói trong các
cuộc rượu, nếu ghi âm rồi in ra sẽ là những bài viết vô cùng thâm
thúy, gan ruột. V́ lúc nào anh cũng sống, cũng viết bằng trái tim đỏ
thắm của ḿnh với nhân dân, với Tổ quốc. Đến nay anh đă xuất bản 15
tập truyện kư, nhàn đàm, thơ.
Anh đă được Nhà
nước tặng Huân chương Độc lập, được đề nghị tặng Giải thưởng Nhà
nước đợt này. Hoàng Phủ Ngọc Tường tuổi Bính Tư, năm 2007 này anh
tṛn 71 tuổi, đă vào “tuổi xưa nay hiếm”. Anh đang nhờ vợ, chị Lâm
Thị Mỹ Dạ, tập hợp một tập bản thảo dày có tên Cỏ thơm, gồm 55 bút
kư, 20 bài thơ anh viết từ khi bị bệnh đến nay cùng với gần 100 bài
viết của bạn bè về văn chương và con người Hoàng Phủ Ngọc Tường để
gửi xuất bản. Ham chơi như thế thật đáng ham chơi!
3. Tường không
chỉ có trái tim đỏ thắm trên từng trang viết, mà trong cuộc sống
hằng ngày cũng luôn đau đáu nỗi người. Năm 1979, chiến tranh biên
giới phía Bắc xảy ra, Tường bảo với tôi: “Nhất định sẽ có tổng động
viên”, phải chuẩn bị “lên đường kháng chiến”! Chờ măi không thấy
tổng động viên ǵ cả, anh sốt ruột nói với Mỹ Dạ: “Anh phải lên biên
giới thôi, đất nước nguy nan, dân ḿnh chết như rứa, ḿnh làm sao
đứng nh́n cho được. Nhà ḿnh c̣n tiền không?”. Thời đó sống bằng tem
phiếu, ít gia đ́nh có tiền dự trữ. Mỹ Dạ hiểu tính khí chồng nên chị
lẳng lặng đi bán mấy tấm vải, ứng trước mấy tháng lương để anh lên
biên giới. Chuyến đi ấy Hoàng Phủ Ngọc Tường đă viết được thiên bút
kư nổi tiếng Rừng hồi. Sinh thời nhà văn Nguyễn Tuân đă đề nghị chọn
Rừng hồi vào Tuyển tập bút kư Việt Nam... v́ có Rừng hồi thêm vào
th́ cuốn sách sẽ hoàn chỉnh hơn”.
Hồi bao cấp, UBND
tỉnh B́nh Trị Thiên (cũ) cấp cho vợ chồng Tường - Dạ một miếng đất
200 m2 để làm nhà ở khu quy hoạch Trường An với giá chỉ 200.000 đồng.
Mỹ Dạ cầm tờ quyết định phân đất có dấu đỏ về hớn hở khoe với chồng.
Không ngờ Tường nổi giận: “Khu đất ấy là khu mồ mả người Huế bao đời
nay. Ta tranh người chết mà ở được sao? Thất đức lắm! Thất đức lắm!
Em đi trả ngay cho...”. Thế là Mỹ Dạ lên tỉnh trả lại cái giấy cấp
đất trước sự ngạc nhiên của bao quan chức. Nhiều văn nghệ sĩ ở Huế
thời ấy không trả đất, bây giờ bán lời bạc tỉ! Mỗi lần tôi và Dạ
nhắc lại chuyện “từ chối lộc trời” ấy, Hoàng Phủ lại cười bảo: “Mỗi
người trong đời ḿnh chỉ nằm một chiếc giường, một nấm huyệt, có ai
nằm được một lúc hai chiếc giường, hai nấm huyệt đâu mà tranh cho
lắm. Khối người c̣n không có chỗ trú thân. Hăy dành cho họ...!”.
4. Tường ham đi,
ham chơi, lại hay thương người, nên có rất nhiều giai thoại về
chuyện “ngô nghê” của “ông Tường” (chữ hay dùng của Mỹ Dạ). Nhà thơ
Lâm Thị Mỹ Dạ kể: “Ông Tường là chúa ngờ nghệch. Có ai nghe các em
“cave” kể khổ, có bao nhiêu tiền cho hết”. Lần ấy gần tết, Tường
chưa bị bệnh, vào Sài G̣n để viết báo tết. Trịnh Công Sơn, Nguyễn
Trọng Huấn... kêu đi nhậu chơi. Vào quán mới biết là chỗ có bia ôm.
Suốt buổi Hoàng Phủ chỉ ngồi hỏi chuyện cô gái ngồi cạnh ḿnh: “Em
tên chi?”, “Quê ở mô?”, “Sao phải đi làm nghề ni?”...
Cô gái liền khóc
ràn rụa, than: “Quê em ở Trà Vinh. Bố mẹ em vay tiền bà chủ, không
đủ tiền trả nợ nên em phải đi làm với bà để trừ dần...”. “Thế mẹ em
c̣n nợ bao nhiêu?”. “Dạ, nợ có hai chỉ vàng...”. Thế là Hoàng Phủ
Ngọc Tường không một giây ngần ngại, rút ngay xấp tiền trong ngực áo
nhét vào tay cô gái: “Anh chỉ có ngần này, có thể giúp em thoát khỏi
chốn này!”. Đó là khoản nhuận bút mấy bài viết nhàn đàm trên báo
Thanh Niên, dự kiến mang về Huế cho gia đ́nh ăn tết! Tan cuộc, nghe
Tường kể lại câu chuyện về “em gái thương tâm”, Trịnh Công Sơn ngậm
ngùi: “Chao ôi, ai cũng như Tường cả th́ xứ sở này sẽ thành Niết bàn!”.
Một lần ở Huế,
hồi Tường mới ngao du ba tháng bên châu Âu về, có người bạn gái ở
Đức mua tặng anh một chiếc áo khoác vừa len vừa da màu vàng rất đẹp
để chống lại cái rét dưới độ âm ở trời Âu. Bữa đó cố nghệ sĩ điêu
khắc Đỗ Toàn người Huế, sống ở Đà Nẵng ra, rủ chúng tôi đi nhậu.
Cuối đông, rét tê người mà “các em gái” cứ áo voan, mini váy trông
da thịt tím tái, thật đáng thương. Hoàng Phủ nh́n các em động ḷng
trắc ẩn: “Sao rét ri mà mấy em ăn mặc phong phanh rứa?”. Nói rồi anh
cởi luôn chiếc áo khoác Đức của ḿnh khoác lên vai cô gái trẻ ngồi
cạnh. Khi ra về, cô gái trả lại chiếc áo, nhưng Hoàng Phủ gạt đi:
“Anh tặng em để mặc cho ấm. Nhớ từ nay trở đi đừng có mặc mỏng manh
như rứa nghe...”. Nói xong anh phong phanh áo gió đạp xe về nhà!
Vui nhất là
chuyện Tường tặng đồng hồ. Một lần Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn
Trọng Tạo và tôi được anh em Nghệ An mời ra Vinh chơi. Đêm đó chúng
tôi vui nâng ly tại một nhà hàng ở Vinh. Thấy cô em tiếp viên mặt
mày khôi ngô, sáng sủa, Tường lại nổi “máu thương người”: “Sao bé
không đi học, kiếm nghề chi mà làm, lại đi làm nghề ni?”. “Ôi, anh
ơi, mẹ em mắc nợ, nghèo quá không trả được. Em làm ở đây hai năm rồi
mà vẫn chưa trả hết nợ”. Cô gái đỏ hoe đôi mắt. “Thế mẹ em c̣n nợ
bao nhiêu?”. “Dạ, mấy triệu...”.
Tường gọi cô gái
đến bên, nhẹ nhàng rút chiếc đồng hồ anh đang đeo trên tay, đeo vào
tay cô gái: “Anh tặng em chiếc đồng hồ này, bán đi mà trả nợ rồi đi
kiếm việc làm khác!”. Thấy chiếc đồng hồ thuộc loại Omega rất đắt
tiền, Nguyễn Trọng Tạo liền gặp bà chủ nhà hàng nói với cô gái phải
trả lại ngay cho ông khách có nốt ruồi đen to dưới má cái đồng hồ,
v́ lúc ấy “ông ấy đùa cho vui”. Cô gái tiếp viên bị chủ “nhắc nhở”
liền chạy theo níu Tường lại để trả đồng hồ. Hoàng Phủ ngạc nhiên:
“Em cứ đeo, anh tặng thật mà!”.
Như hiểu ra, Tường với tay xé tờ lịch tường, viết mấy ḍng cam đoan
ḿnh đă tặng đồng hồ cho cô gái rồi kư chữ kư to tướng. Khi về tới
Huế, Lê Diễn, người đă tặng Tường đồng hồ, một bữa ra Huế chơi, thấy
Tường không đeo chiếc đồng hồ ḿnh tặng nữa, hỏi: “Chiếc đồng hồ
Diễn tặng anh mô rồi?”. Tường thản nhiên: “Tặng cho cô gái ở quán
bia ở Vinh rồi!”. Diễn vỗ đùi: “Trời ơi, anh có biết chiếc đồng hồ
giá 3 triệu bạc đó cả miền Trung này chỉ có tôi và anh mới có không?”.
Tường cười hồn nhiên: “Mấy triệu cũng thế, đă thương là cho...”.
Ngô
Minh
http://nguyentrongtao.vnweblogs.com/post/3150/49488/chuyen-lang-van-nghe/hoang-phu-ngoc-tuong-nguoi-ham-choi.html
|
|