|
Một nét Tết xưa ai c̣n nhớ?
Có
những phong tục tưởng như rườm rà, nhưng rồi khi lớn lên tôi mới
hiểu, mỗi phong tục là một thông điệp của quá khứ gửi đến hiện tại
và tương lai, của tổ tiên gửi đến con cháu, những giá trị đạo nghĩa
làm người, tạo nên nếp nhà, gia phong, cũng là góp phần tạo nên ḍng
chảy văn hoá làng Việt xưa và nay.
Tôi chưa đón Tết ở nhiều vùng quê nên không biết có những nơi nào
phong tục giống làng quê của ḿnh. Ở quê tôi, ngày 30 Tết, bất luận
bận bịu thế nào mọi gia đ́nh vẫn dành thời gian để đi đón "những
người khuất núi" về cùng hưởng Tết. Đó là phong tục đẹp, luôn nhớ về
cội nguồn, về tổ tiên, và với tôi thật linh thiêng.
Làng tôi là một làng cổ. Bằng chứng được ghi trong những cuốn gia
phả của các ḍng họ trong làng và có cuốn c̣n lưu giữ tại thư viên
Hán Nôm Quốc gia. Làng được h́nh thành cách nay khoảng 500 năm (chưa
kể cái làng quê cũ ở Thọ Xuân, của Đức vua Lê Lợi, rồi từ đó mấy
thanh niên trai tráng là Hà Thiệu, Hà Thọ dám rời bỏ để đi lập làng
mới).
Người có công làm rạng danh làng cũng đă 300 - 400 trăm năm rồi. Đó
là cụ Nguyễn Hiệu, người đỗ tiến sĩ dưới triều Lê có tên ghi trong
Quốc Tử Giám. Cụ làm quan đến chức tể tướng. Con của cụ là Nguyễn
Hoàn cũng theo bước cha, đỗ tiến sĩ, là thầy dạy học của chúa Trịnh
Sâm sau cũng được phong tể tướng dưới triều Lê - Trịnh.
|
|
|
Nét văn hóa xưa. Ảnh: Tư liệu |
Và
bằng chứng c̣n được lưu truyền ở ngôn ngữ cổ. Cùng là xứ Thanh, cùng
là vùng Triệu Sơn nhưng chỉ có làng tôi và một vài làng có thứ ngôn
ngữ đặc trưng. Tôi đă đi khắp trong
Nam, ngoài Bắc, nhưng ở đâu họ cũng nhận ra cái gốc "ăn rau má..."
của ḿnh. Không kể dấu hỏi, dấu ngă cứ gọi là "vô tổ chức", c̣n có
những ngôn ngữ đặc trưng khác, rất "hoài cổ" mà chỉ có làng tôi là
"ǵn giữ". Này nhé, khi hầu hết ở các vùng quê khác người ta nói là
"Nước" và "Lửa" th́ ở quê tôi vẫn gọi là "Nác" và "Lả". Tôi đă được
đọc bài viết của cố Giáo sư Trần Quốc Vượng khi ông phân tích về
nguồn gốc của giống chim có tên là chim Lạc, thật thú vị lại bắt
nguồn từ chữ "Nác" mà ra.
Giáo sư cho biết từ "Nác" là từ rất cổ, ngày nay chỉ c̣n lại ở một
số vùng quê. Chim Lạc (loài chim có trên trống đồng) thực chất là
thứ chim ăn trên ruộng "Nác" rất gần gũi với người nông dân. Đó là
con c̣. Từ "Nác" do người xưa không phân biệt được giữa "N" và "L"
nên "chim ăn trên ruộng Nác" mà thành chim Lạc ngày nay chúng ta
nói.
Thực hư thế nào tôi cũng không rơ nhưng từ "Nác" quê tôi bây giờ vẫn
dùng. Có những từ khác nữa chắc nhiều người khi nghe đều không hiểu.
Đó là những từ như: "trốc" (đầu), "trốc cún" (đầu gối), cấu (gạo),
lọ (lúa)... th́ phải phiên âm người nơi khác nghe mới biết.
Lúc c̣n nhỏ, cứ vào sáng 30 Tết, bố tôi thường gọi tôi dậy. Hai bố
con vác trên vai chiếc cuốc, cầm một bó hương để đi đón "ông bà, ông
vải" về ăn Tết. Trong tâm thức mọi người ai cũng nghĩ rằng nếu con
cháu không có lời mời th́ các cụ sẽ không về.
Nơi yên nghỉ của người khuất núi hoá ra lại trở thành nơi gặp gỡ của
những người “trần thế” làng trên xóm dưới, mà do nhiều lẽ trong cuộc
sống không phải lúc nào người ta cũng dễ gặp nhau. Những người quen
không chỉ ở trong làng, mà có khi c̣n ở cả những làng khác. Xưa, khi
chôn cất những người nằm xuống người ta phải t́m thế đất để an táng.
Chính v́ vậy các ngôi mộ thường không tập trung vào một nơi. Các cụ
thường chọn nơi nào có thế "sông trước, núi sau" để "táng".
|
 |
|
Tảo mộ. Ảnh minh họa: Nguyen |
Tôi đă đi thăm đền thờ Trần Hưng Đạo cùng với một "thầy địa lư" trẻ.
Anh nói rằng thế đất ở đây rất tuyệt. Đằng trước là hợp lưu của lục
đầu giang, đó là nơi "tụ Thuỷ" độc nhất vô nhị. Đằng sau là những
ngọn núi của dăy Côn Sơn điệp trùng, nơi tựa lưng rất vững chải,
chưa có thế đất nào đẹp bằng nơi đây. Phải chăng, cũng chính v́ lẽ
đó mà ông cha ta xưa đă tụ họp về đây mở "Hội nghị Diên Hồng".
Bố
tôi cũng là người am hiểu về “phong thuỷ”. Cứ mỗi lần đi cùng bố,
tôi lại được bố chỉ bảo cho từng thế đất ở quê. Chỗ nào là thế đất
đẹp, v́ sao lại đẹp… Sau này tôi mới ngộ ra một điều, cứ những nơi
có nguồn nước thuận tiện cho việc sinh hoạt, là nơi đấy làng xóm mọc
lên. Cho nên nhiều ngôi làng thường ở bên những ḍng sông. Và làng
tôi cũng vậy, khi có "sông nhà Lê" là có làng.
Lại nói về “sông nhà Lê”. Đó là mạng lưới sông ng̣i có từ thời Đức
vua Lê Hoàn (tiền Lê) cho đào. Khắp khu vực từ nam Bắc bộ đến miền
Trung, hệ thống sông ng̣i được nối với nhau đi lại rất thuận tiện.
Nó tạo thành mạng lưới giao thông quan trọng, đồng thời cũng là
nguồn cung cấp nước cho sự sống.
Nơi nào có ḍng sông chảy qua đất đai trở nên trù phú, cư dân đông
đúc. Có sông có núi tạo nên sơn thuỷ hữu t́nh. Những ngôi làng bên
sông bao giờ cũng bốn mùa mát mẻ. Cây cối xanh tươi lại là cỗ máy
"điều hoà" cho ngôi làng, và người ta vẫn tin rằng, ở những nơi có
thế phong thuỷ tốt, th́ “vận” con cháu, ḍng họ sẽ “phát”. Người đă
khuất được mát mẻ th́ người sống cũng hoà thuận, yên vui. V́ vậy khi
bà tôi mất, bà được an táng ở chân núi Tía, bên dưới là ḍng “sông
nhà Lê” chảy qua, cách làng một thôi đường.
Thủ tục "đón” các cụ về cũng thật đơn giản, chủ yếu là cái t́nh của
con cháu. Thường hàng năm đây mới là dịp con cháu đến chăm sóc mộ
phần. Ở những nơi khác, tảo mộ là dịp tết Thanh minh "Thanh minh
trong tiết tháng ba/ Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh" (Kiều). Nhưng
quê tôi lại tảo mộ vào dịp Tết. Nhà nào cũng sửa sang mộ phần cho
người đă khuất. Sửa sang xong lại đắp một vuông đất mới để sau đó
thắp nén nhang và có lời mời người đă khuất về hưởng tết cùng con
cháu.
|
 |
|
Ngày hội trên quê hương. Ảnh minh họa: Theo diễn đàn Xom
Nhiep anh |
Có
lần tôi hỏi bố về lời khấn người đă khuất. Bố tôi nói cốt ở tấm ḷng
của ḿnh, không cần cầu kỳ. Ngày xưa các cụ thường khấn bằng ngôn
ngữ cổ (chữ nôm hay chữ Hán ǵ đấy). Bây giờ chỉ cần nói theo ngôn
ngữ phổ thông, giống như cúng bái ông bà tổ tiên.
Tôi thường lăng xăng chạy quanh hái những bông hoa dại tím ngắt
quanh đấy cắm lên cho ngôi mộ “mặc áo mới” để đón xuân. Có lần bố
tôi c̣n qua ngôi trường làng xin những cành đào đỏ thắm để cắm lên
mộ, trước đó, bố thường sai tôi đem đốt một đoạn gốc đào cho cháy
đen. Bố bảo như vậy mới để được lâu.
Khi đă "đón" hết những người "muôn năm cũ", cũng là lúc bắt đầu cỗ
bàn. Đặc biệt người quê tôi không quên lấy một ít vôi bột rắc thành
những cánh cung trước ngơ. Bố tôi nói làm như vậy để trừ tà ma. Sau
này tôi mới hiểu, vôi bột cũng là thứ tẩy trùng, làm vệ sinh môi
trường rất tốt.
Những ngày tết chúng tôi thường dậy sớm để làm cỗ, thành kính dâng
lên ông bà, tiên tổ những ǵ tinh tuư nhất của làng quê ḿnh. Ngoài
mâm cỗ ra, c̣n có các loại bánh. Tôi vẫn c̣n nhớ hương vị của bánh
chè lam ngày ấy. Thứ bánh làm bằng gạo nếp với mật, và một chút gừng.
Gạo nếp phải giă mỏi tay, đến nỗi mấy ngày tết tay thằng bé là tôi
c̣n đau…
Sau những ngày tết, là lễ đưa tiễn. Mẹ tôi bảo cốt nhất là ở sự
thành tâm, con cháu có ǵ th́ cứ gửi. Nào là gạo, bánh, nào là những
thứ quà tết, sản vật có ǵ đều đem ra, "trần sao âm vậy", mẹ tôi bảo
thế. Mẹ cũng không quên gửi các cụ ít tiền để "qua sông, qua đ̣", và
"chi tiêu" những ngày tiếp theo...
Ôi
nét Tết xưa ai c̣n nhớ? Có những phong tục tưởng như rườm rà, nhưng
rồi đến khi lớn lên tôi mới hiểu, mỗi phong tục là một thông điệp
của quá khứ gửi đến hiện tại và tương lai, của tổ tiên gửi đến con
cháu, những giá trị đạo nghĩa làm người, tạo nên nếp nhà, gia phong,
cũng là góp phần tạo nên ḍng chảy văn hoá làng Việt xưa và nay.
Đặng Tiến
Nguồn:
http://vietnamnet.vn/thuhanoi/2008/01/766614/ |