Đêm qua, có ít nhất hai tờ báo,
trong đó có tờ Tuổi Trẻ, phải lột
những bài viết về vụ Trung Quốc hợp
thức hóa việc thôn tính Hoàng Sa.
Sáng, có nhà báo trẻ ví sự kiện này
với vụ bé Bảo Trân bị cô giáo lấy
băng keo dán miệng. Khóc. Vẫn biết
là người Trung Quốc sẽ “chơi” như
vậy mà không ḱm được nhục. Mấy
tháng trước, Đại sứ cũng đă bị dựng
dậy lúc nửa đêm để nghe Bộ Ngoại
giao họ “mắng” khi báo chí ta, nói
với nhân dân ta, rằng ở Mỹ, ở Châu
Âu, người ta phát hiện ra những chất
có hại cho sức khỏe trong thực phẩm
và đồ chơi Trung Quốc.
Trong entry “Có Lẽ Cụ Chủ Tịch Không
Biết” tôi đă phân tích tính “lợi bất
cập hại” khi “nhà nước hóa tiếng nói
của nhân dân”. Họ biết là hàng tuần
chúng ta có giao ban, có định hướng,
có xử lư báo chí.
Mấy ngày nay tôi có trao đổi email
với một người bạn Trung Quốc, một nữ
nhà báo. Cô ấy học với tôi ở
Maryland. Hồi đó, biết tôi đă từng
là một sỹ quan quân đội, cô ấy hỏi:
“San, anh đă từng giết thằng Mỹ nào
chưa?” Tôi nói, không phải đùa:
“Sorry Jin, khi tôi đi lính, không
c̣n Mỹ, chỉ c̣n Trung Quốc”.
Tôi xung phong vào bộ đội sau ngày
17-2- 1979, khi “Tiếng súng đă vang
trên bầu trời Biên giới”. Năm ấy tôi
17 tuổi và đang học lớp 10. Tôi nhớ
như in máu đă chảy trong tôi như thế
nào và ngay giờ đây máu vẫn chảy như
thế mỗi khi nghe “Tiếng súng …”. Tôi
biết, tôi sẽ trở lại quân ngũ nếu
chiến tranh lại xảy ra như 29 năm
trước. Tôi cũng không thể ngăn cản
con trai tôi, nếu khi cháu lớn,
người Trung Quốc lại xâm chiếm đất
nước tôi.
Nhưng, tôi đă biết Chiến Tranh sau
những năm tháng ở Biên giới phía Bắc,
những năm tháng ở Campuchia.
Ông Nguyễn Trung, nguyên đại sứ Việt
Nam tại Thái Lan kể, có một nhà lănh
đạo ta khi tiếp kiến Quốc Vương Thái
nói rằng: “Chúng tôi tự hào v́ đă
đánh thắng ba đế quốc to”. Đức Vua
điềm đạm nói: “Chúng tôi th́ lại tự
hào v́ không phải đánh nhau với đế
quốc to nào cả”. Chắc nhiều bạn
nghiên cứu lịch sử Thái cận đại và
hiện đại sẽ thấy họ đă khôn ngoan
như thế nào để tránh chiến tranh
trong những t́nh huống tưởng như
không thể nào tránh được. “Suy
cho cùng trong mỗi cuộc chiến tranh,
bên nào thắng th́ nhân dân cũng bại”,
thơ Nguyễn Duy.
Tôi vừa đọc xong cuốn sách mới nhất
của Đề đốc Hải Quân Việt Nam Cộng
Ḥa Hồ Văn Kỳ Thoại. Ông Thoại là
cháu nội của nhà văn Hồ Biểu Chánh,
là vị tướng đă ra lệnh nổ súng trong
cuộc “tử chiến” Hoàng Sa hồi năm
1974. “Lịch sử sẽ đánh giá quyết
định đó”. Năm 2005, khi ở Mỹ, tôi đă
giúp một quan chức cao cấp của Bộ
Ngoại giao lập danh sách những liệt
sỹ Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa hy
sinh trong trận chiến này. Tôi không
biết Bộ Ngoại giao đă làm ǵ với
danh sách mà tôi đă từng cung cấp,
nhưng ngay từ khi ấy, tôi đă đề nghị
quan chức này, hăy thuyết phục để
Nhà nước khắc bia lưu danh những
người anh hùng đó.
Theo những ǵ mà những người lính
Hải quân Sài G̣n kể th́ khi đó họ đă
phải chiến đấu hết sức đơn độc.
Trung Quốc đă lựa chọn một thời điểm
mà người Mỹ không thể can thiệp, cho
dù Hạm Đội 7 vẫn ở ngoài Biển Đông.
Tôi không bao giờ xét lại quyết định
của ḿnh năm tôi 17 tuổi. Năm đó,
tại Sài G̣n này, có những người lính
đang bị hắt hủi, đang bị coi là
“Ngụy” vẫn sẵn sàng, nếu được chính
quyền chấp nhận, sẽ ṭng quân. Nhưng
những ǵ dẫn đến “cuộc chiến tranh
17-2” th́, cho tới ngày nay, tôi vẫn
tiếc.
Sau khi Jimy Carter trở thành Tổng
thống, người Mỹ đă định “b́nh thường
hóa” quan hệ với Việt Nam. Năm 1977,
Việt Nam khó có thể lấy được chiếc
ghế mà Sài G̣n đă ngồi ở Liên Hợp
Quốc nếu như không có sự ủng hộ của
người Mỹ. Khi ấy, ASEAN cũng đă ch́a
bàn tay ra nhưng chúng ta đă thật
kiêu ngạo để không nắm lấy. Nếu khi
đó, chúng ta đă là thành viên ASEAN,
đă có quan hệ ngoại giao với Mỹ,
chắc chắn, chúng ta sẽ xử lư xung
đột ở Campuchia theo cách khác và
người Trung Quốc không thể nào dám
để cho cuộc chiến Biên giới xảy ra.
Cũng có những sự lật lọng cay đắng
khiến cho các nhà lănh đạo lúc đó
không thể không “cảnh giác cao độ”
với Bắc Kinh. Ngay trong ngày
1-5-1975, Khmer Đỏ, kẻ mà 14 ngày
trước đó, nếu không có sự giúp đỡ
của Việt Nam sẽ không thể nào nắm
quyền ở Phnompenh, đă giết những
người dân Việt Nam sống ở vùng Tây
Nam Biên giới. Cuộc chiến tranh Tây
Nam sau đó do chế độ Pol Pot, với sự
cố vấn của người Trung Quốc tiến
hành, đă làm cho mối quan hệ Việt
–Trung trở nên nghiêm trọng.
Cùng lúc ấy, bên trong, chính sách
“cải tạo tư sản” đă đưa hàng trăm
ngh́n người Hoa ra khỏi thành phố.
Tiếp đó là “nạn kiều”. Cựu Thủ tướng
Vơ Văn Kiệt kể, năm 1978 ông ra
Quảng Ninh và thấy nhiều vùng ở đây
vắng ngắt. Hàng vạn người Hoa đă
sinh sống nhiều đời ở Việt Nam, chỉ
biết tiếng Việt Nam, đă phải ngơ
ngác, ngậm ngùi “trở về” Trung Quốc.
Năm 1977, người Mỹ chủ động đàm phán
với Việt Nam nhưng chỉ v́ khoản “bồi
thường chiến tranh” mà chính quyền
đă bỏ lỡ mất cơ hội. Sang năm 1978,
Trung Quốc phát tín hiệu rồi “hù” Mỹ:
“Việt Nam là Cuba ở phương Đông”.
Người Mỹ bỏ cuộc ở Việt Nam, bắt tay
với người Trung Quốc.
Đúng lúc ấy, 3-11-1978, Việt Nam lựa
chọn đường lối ngoại giao “nhất biên
đảo”, kư Hiệp định, dựa hẳn vào Liên
Xô. Ngày 7-1-1979, Việt Nam đưa quân
vào Campuchia. Cuộc chiến tranh mà
giờ đây Thế giới biết là đă cứu được
biết bao người dân Campuchia, khi đó
bị coi là “xâm lược”. Ngày
28-1-1979, Đặng Tiểu B́nh đến
Washington gặp Jimy Carter, thuyết
phục Carter nh́n nhận sự “bất an”
của Thế giới khi Việt Nam bắt tay
với Liên Xô. Trong chuyến đi đó,
người Mỹ đă đọc được thông điệp về
một cuộc chiến mà Đặng sẽ gây ra cho
người Việt.
Người Mỹ đă để cho Đặng “dạy cho
Việt Nam một bài học” và thật đắng
cay, khi chiến tranh Biên giới nổ ra,
“đồng minh duy nhất” của chúng ta là
Liên Xô đă “án binh bất động”, cho
dù, ở Biên giới Trung Quốc khi ấy,
Liên Xô có tới 54 sư đoàn.
Tôi sẽ viết về cuộc chiến tranh này
trong một entry khác. Nhưng tôi muốn
nói với các bạn rằng, số phận đă bắt
tôi phải chứng kiến thêm một điều
cay đắng nữa. Năm 1984, khi đă tốt
nghiệp sỹ quan và một chương tŕnh
đào tạo chuyên gia quân sự, tôi được
điều tới Campuchia. Nơi mà hàng chục
ngh́n đồng đội tôi đă chết. Nơi mà
bạn tôi, đại úy Long, chỉ trong một
năm phải đánh tới 68 trận, và trong
những ngày anh mất tích, mẹ anh phải
chạy đôn chạy đáo ḍ hỏi tin con th́
được trả lời rằng, ngày ấy, tháng ấy,
trên chiến trường ấy, có 3 đại úy
tên Long chết!
Thế rồi năm 1991, khi đă là nhà báo,
tôi được cử trở lại Phnompenh để đưa
tin về cuộc trở về của Quốc vương
Sihanuk. Khi c̣n là một chuyên gia
quân sự, tôi biết, ông Hunsen đă
nhiều lần nói với đại sứ Việt Nam
Ngô Điền: “Đây là người thầy vĩ đại
của tôi”. Trong những ngày của tháng
11 năm 1991, tôi chứng kiến ông Ngô
Điền gần như đă bị Hunsen “trục xuất”
khỏi Phnompenh, trước khi Hunsen lên
đường sang Bắc Kinh ruớc Sihanuk.
Sau bao nhiêu năm làm đại sứ, làm
người thầy dạy từng chút cho Hunsen,
ông Ngô Điền phải “về” không có một
quan chức Campuchia nào đưa tiễn.
Nhân viên sứ quán và những người
Khmer Crom nấu ăn cho sứ quán, sáng
hôm ấy, đă phải vận sarông ra đưa
tiễn ông để tôi chụp mấy tấm h́nh.
Không nên trách Hunsen, ông ấy phải
v́ quyền lợi của người dân ông ấy.
Chỉ thấy xót xa, khi chúng ta th́ đổ
máu c̣n người Trung Quốc th́ luôn có
mặt đúng lúc. Họ đă hậu thuẫn cho
chế độ Pol Pot, rồi hôm ấy, cả
Hunsen và Sihanuk, nạn nhân của Pol
Pot, lại từ nhà họ trở về giữa tiếng
reo ḥ của “nhân dân”.
Cũng năm đó, Liên Xô sụp đổ, Trung
Quốc th́ vẫn được coi là kẻ thù.
Chúng ta lần đầu tiên có được độc
lập thực sự khi không nằm ở trong
một “phe” nào cả. Tại thời điểm ấy,
nếu lựa chọn thứ tự ưu tiên đúng,
“b́nh thường hóa” quan hệ với Mỹ
trước, “tư thế” trong đàm phán giữa
chúng ta và Trung Quốc sẽ khác.
Cho dù có bị đô hộ hàng ngh́n năm
rồi th́ chúng ta vẫn phải “quét sạch
bóng quân xâm lược”. Nhưng, tránh
khỏi phải bị xâm lăng vẫn là điều
tốt nhất. Lịch sử ông cha ta đă làm
điều đó. Nhưng cũng phải thấy, ông
cha ta ngày xưa đối xử với người
Trung Quốc không khó như bây giờ.
Tôi vừa đọc một cuốn sách do nhà
xuất bản của Đại học Tứ Xuyên xuất
bản. Họ chửi rất thậm tệ chúng ta.
Báo chí họ, trừ tờ Nhân Dân, vẫn
chửi Việt Nam ngay cả khi các nhà
lănh đạo Việt Nam đang ở “thăm Trung
Quốc”. Nhưng khi dân ta, báo chí ta
lên tiếng họ lại nhắc nhở dựa trên
“t́nh anh em, đồng chí”. Im!
Huy Đức