|
Giải Nobel Y học
và lợi ích cho người bệnh
Nguyễn Văn Tuấn
Theo thông lệ hàng năm, ngày 8 tháng 10 vừa qua, Hàn lâm viện Thụy
Điển vừa công bố tên các nhà khoa học được trao giải Nobel về sinh
lí học hay y học (physiology or medicine). Năm nay, qua b́nh chọn
một thời gian, 3 nhà khoa học được trao giải thưởng cao quí (1,54
triệu USD) này: giáo sư Mario R. Capecchi, 70 tuổi (Viện nghiên cứu
y khoa Howard Hughes, Đại học Utah, Mĩ); giáo sư Martin J. Evans, 66
tuổi (Đại học Cardiff, Anh); và giáo sư Oliver Smithies, 82 tuổi (Đại
học North Carolina, Mĩ). Ba nhà khoa học cùng nghiên cứu về di
truyền và công nghệ sinh học, là những người tiên phong trong việc
phát triển một mô h́nh khoa học có tên khá “dân giả” là “nốc ao”
(“knock-out”, nhưng thuật ngữ khoa học là “gene targeting” hay
“homologous recombination” – tái hợp tương đồng) để thẩm định ảnh
hưởng của gien trên chuột. Trong bài này, tôi sẽ bàn ngắn gọn về ư
nghĩa của công tŕnh “nốc ao” của ba nhà khoa học này.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có viết một câu nhạc rất thơ mà cũng thấm đẩm
triết lí nhà Phật, “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về
làm cát bụi”, như để nhắc nhở sự mong manh, tính phi vĩnh cửu của
một đời người. Nhưng lời nhạc và ư nghĩa của nó c̣n gián tiếp (hay
chủ ư?) ví von một chân lí khoa học về sự cấu trúc cơ bản của cơ thể
con người. Quả thật, theo thuyết sinh học phân tử (molecular
biology), mỗi chúng ta được h́nh thành bắt đầu từ chỉ một tế bào. Tế
bào này cứ phân chia liên tục và sản sinh ra nhiều tế bào mới để cấu
tạo thành một con người “trưởng thành”. Do đó, cơ thể con người được
cấu tạo bằng nhiều tế bào. Vài ước tính mang tính lí thuyết cho thấy
con số tế bào trong con người dao động từ 60.000 tỉ đến 100.000 tỉ!
Xin nhắc lại vài thông tin căn bản: trung tâm của mỗi tế bào là nhân
(nucleus). Nhân hàm chứa những chất liệu di truyền mà ta thường gọi
là DNA (viết tắc từ chữ deoxyribonucleic acid). Mỗi nhân thường có
hàng triệu DNA. Mỗi DNA gồm có bốn mẫu tự (c̣n gọi là nucleotide): A
(adenine), C (cytosine), G (guanine), và T (thymine). Một mảng DNA
tạo thành một gien. Và nhiều gien tạo thành một bộ di truyền hay
nhiễm sắc thể (chromosome). Cơ thể Con người có 23 đôi nhiễm sắc thể.
Có thể nói một cách ví von bằng cách dùng quyển sách như là một ví
dụ để minh họa cho mối liên hệ giữa gien, nhiễm sắc thể, và bases.
Trong sách có 23 chương (chromosome); mỗi chương có nhiều câu chuyện
(gien); mỗi câu chuyện có nhiều đoạn văn (exons); mỗi đoạn văn có
nhiều chữ (codons); và mỗi chữ được viết bằng 4 mẫu tự (bases).
Gien có chức năng gửi các tín hiệu hóa học đi đến tất cả các nơi
trong cơ thể. Những tín hiệu này có chứa đầy đủ các thông tin, các
“chỉ thị” cụ thể cho các cơ quan trong cơ thể con người phải vận
hành ra sao. Nếu những gien trong cơ thể hoạt động “b́nh thường”, và
sản phẩm hay tín hiệu của gien được chuyển giao một cách thích hợp
th́ cơ thể con người không có vấn đề; nhưng nếu trong quá tŕnh vận
hành của gien có sự cố th́ hậu quả là cơ thể sẽ mất thăng bằng và
dẫn đến bệnh tật cho con người.
Do đó, có thể nói rằng phần lớn những khác biệt về đặc tính của con
người, kể cả thế chất và tâm thần, đều do tác động của hai yếu tố:
di truyền và môi trường. Thật ra, nói chính xác hơn là những khác
biệt giữa các cá nhân trong một quần thể là hệ quả của sự tương tác
giữa di truyền và môi trường. Chẳng hạn như nhiều nghiên cứu trong
thời gian ba thập niên qua cho thấy các yếu tố di truyền có thể giải
thích khoảng 70% những khác biệt về mật độ xương, 40-60% những khác
biệt về tỉ trọng cơ thể (body mass index), 65-85% những khác biệt về
chiều cao cơ thể, 30-40% những khác biệt về nguy cơ mắc bệnh đái
tháo đường giữa các cá nhân trong quần thể. Nhưng các yếu tố di
truyền không thể giải thích tất cả những khác biệt, v́ c̣n các yếu
tố môi trường cũng đóng vai tṛ không kém phần quan trọng.
Con người có bao nhiêu gien? Trước kia, khi công tŕnh giải mă gen
chưa hoàn tất, các nhà khoa học ước đoán rằng cơ thể con người có
khoảng 100.000 gien. Đến năm 2001, khi kết quả giải mă đầu tiên được
công bố, con số này giảm xuống c̣n 30.000 đến 40.000 gien. Nhưng
nay, sau khi công tŕnh giải mă gien hoàn tất, các nhà khoa học ước
tính rằng cơ thể con người hàm chứa chỉ khoảng 20.000 đến 25.000
gien. Như vậy số lượng gien trong con người có thể c̣n thấp hơn số
gien trong cơ thể chuột (khoảng 30.000 gien)!
Ngoài chức năng quyết định đặc tính của cơ thể con người, gien c̣n
có chức năng … gây bệnh. Một khi gien đột biến (tức là một mảng DNA
đột nhiên bị thay đổi, như từ TGCCA thành TCCCA chẳng hạn) có thể
gây ra rối loạn tế bào, bệnh tật, thậm chí tử vong. Chỉ một thay đổi
rất nhỏ như thế có thể làm cho chúng ta phải suốt đời đau khổ v́
gien! Một số bệnh chỉ do một gien gây nên như bệnh sơ nang (cystic
fibrosis), bệnh Huntington, bệnh thiếu hồng huyết cầu hình lưỡi
liềm (sickle cell disease), v.v… thường chỉ v́ đột biến của một mẫu
tự DNA trong gien. Các bệnh này thường được gọi là bệnh đơn gien
(monogenic diseases). Nhưng phần lớn các bệnh kinh niên mà chúng ta
thường mắc phải như đái đường, cao huyết áp, béo ph́, loăng xương,
tai biến, v.v… là những bệnh do nhiều gien và môi trường gây nên,
nên hay gọi là các bệnh đa gien (multifactorial diseases). Cho đến
nay, y học vẫn chưa t́n ra tất cả các gien liên quan đến các bệnh đa
gien này.
Mô h́nh nốc-ao gien
Do đó, vấn đề đặt ra là làm sao biết được gien nào có ảnh hưởng đến
đặc tính hay bệnh nào ở con người. Đây là vấn đề không đơn giản chút
nào, v́ t́m gien có liên quan đến một bệnh nào đó trong số 25.000
gien cũng chẳng khác nào “ṃ kim đáy biển”. Một trong những vấn đề
đặt ra cho y học thế kỉ 21 là phát triển phương pháp để truy t́m
những gien có ảnh hưởng đến bệnh tật, và qua đó hi vọng sẽ t́m hiểu
cơ chế ảnh hưởng của gien để phát triển phương pháp điều trị bệnh.
Công tŕnh nghiên cứu, hay nói đúng hơn là mô h́nh, của giáo sư
Mario R. Capecchi và đồng nghiệp của ông (giáo sư Martin J. Evans và
giáo sư Oliver Smithies) thể hiện một sự đột phá trong nghiên cứu di
truyền.
Về mặt ư tưởng, mô h́nh của họ rất đơn giản, và có thể minh họa bằng
một ví von như sau: để biết xăng dầu có ảnh hưởng đến sự vận hành
của một cỗ máy, người ta có thể lấy xăng dầu ra khỏi cỗ máy và thay
thế bằng nước, và quan sát sự vận hành của cỗ máy sau đó ra sao.
Tương tự, nếu nhà nghiên cứu có lí do để cho rằng gien A có ảnh
hưởng đến bệnh ung thư, họ có thể rút gien A khỏi cơ thể và thay thế
vào đó bằng một gien khác (hay một mảng DNA khác) và xem quá tŕnh
phát sinh ung thư ra sao. Đây là công nghệ có tên là “knock-out” (c̣n
gọi là “gene targeting” hay “homologous recombination”). Nói cách
khác, công nghệ nốc-ao có mục đích là “quật ngả” gien hiện hành và
thay thế nó bằng một gien mới để đánh giá xem gien bị quật ngả có
thật sự ảnh hưởng đến bệnh tật.
Vào thập niên 1980s, có thể nói đó là một ư tưởng táo bạo. Ư tưởng
trên được giáo sư Capecchi mô tả trong một đề cương nộp cho Viện Y
tế Mĩ để xin tài trợ vào năm 1980. Các chuyên gia b́nh duyệt bác bỏ
đề cương của ông, v́ họ cho rằng dự án nghiên cứu đó bất khả thi!
Bốn năm sau (1984), với một số kết quả sơ khởi, giáo sư Capecchi lại
nộp đề cương đó xin tài trợ, và lần này ông được tài trợ. Lần này,
các chuyên gia b́nh duyệt phê trong đề cương rằng họ rất vui mừng
khi thấy ông đă không nghe lời họ mà vẫn kiên tŕ theo đuổi ư tưởng
đó!
Nhưng v́ lí do y đức mô h́nh đó không thể thực hiện trên con người.
Không ủy ban y đức nào cho phép nhà nghiên cứu thay thế gien của một
con người cả. Đến đây th́ chuột cung cấp cho các nhà nghiên cứu một
giải pháp khả dĩ. Chuột được xem là một con người thu nhỏ, v́ loài
vật này có những cơ phận rất giống với con người, và quan trọng hơn
nữa, khoảng 95% các mảng DNA trong chuột cũng t́m thấy trong con
người. Chính v́ thế, nghiên cứu trên chuột là một mô h́nh nghiên cứu
cực ḱ có ích để có thể ứng dụng trên con người.
Về mặt kĩ thuật, mô h́nh của giáo sư Capecchi và đồng nghiệp của ông
được thực hiện qua 6 bước như sau:
Bước 1, lấy tế bào từ túi phôi (blastocyst) của chuột và trồng thành
một gịng phôi tế bào mầm;
Bước 2, chuẩn bị một mảng DNA (nhân tạo) mà nhà nghiên cứu muốn đánh
giá tác động của gien;
Bước 3, đưa mảng DNA nhân tạo vào gịng tế bào mầm bằng phương pháp
transfection (tức làm cho tế bào bị “nhiễm”);
Bước 4, tế bào mầm được cấy vào chuột sẽ “sinh sôi nẩy nở” (theo cấp
số nhân) trở thành nhiều tế bào khác;
Bước 5, tiêm các tế bào mầm mới sản sinh vào túi phôi của chuột;
Bước 6, một thế hệ chuột mới ra đời với cấu trúc DNA mới của gen, và
cho phép các nhà nghiên cứu ảnh hưởng của việc “nốc ao” gien nguyên
thủy.
Ngày nay, mô h́nh gồm sáu bước trên của giáo sư Capecchi và đồng
nghiệp được xem là mô h́nh kinh điển trong nghiên cứu ảnh hưởng của
gien. Mô h́nh này đă mở ra một định hướng nghiên cứu mới: định hướng
nốc-ao. Kể từ khi mô h́nh này ra đời, đă có hơn 40.000 công tŕnh
nghiên cứu gien sử dụng mô h́nh nốc-ao để nghiên cứu cơ chế và ảnh
hưởng của gien đến bệnh và các đặc tính sinh học của con người. Có
thể nói không ngoa rằng mô h́nh (tuy đơn giản so với tŕnh độ kĩ
thuật hôm nay) của họ đă làm một cuộc cách mạng trong di truyền học
và góp phần cho ra đời nền công nghệ sinh học ngày nay.
Lợi ích của mô h́nh nốc-ao
gien?
Nghiên cứu di truyền có 3 mục tiêu chính: tiên đoán bệnh, t́m hiểu
cơ chế của bệnh, và phát triển thuốc để điều trị. Khi một gien có
liên quan đến một bệnh được phát hiện, các nhà khoa học có thể tiên
đoán khả năng mà một cá nhân sẽ mắc bệnh ngay từ lúc mới lọt ḷng mẹ
(v́ gien không thay đổi theo thời gian!), và do đó, y tế có thể t́m
biện pháp pḥng ngừa hay điều trị trước khi cá nhân mắc bệnh. Mục
đích thứ hai của gien là qua nghiên cứu cơ chế hoạt động của gien,
các nhà khoa học có thể biết cơ chế và quá tŕnh phát triển của bệnh
như thế nào. Lợi ích sau cùng là khi đă biết được cơ chế và quá
tŕnh phát triển, các nhà khoa học có thể bào chế thuốc hay phát
triển một thuật điều trị để ngăn ngừa bệnh cho một cộng đồng.
Cần nhắc lại rằng trong giai đoạn đầu của nền y học thế giới, kể cả
cho đến những thập niên đầu thế kỉ 20, việc chữa trị bệnh hầu như
chỉ tập trung vào chữa trị ở cấp “vĩ mô”, tức là các phương thức trị
bệnh chủ yếu dựa trên cơ chế bệnh sinh và bệnh nguyên. Trừ nhóm bệnh
nhiễm khuẩn là điều trị tương đối có kết quả, c̣n lại hầu như chỉ
giải quyết được tức thời giảm triệu chứng, hoặc kéo dài sự chịu đựng
của cơ thể mà không thể tiệt căn. Ngay cả những bệnh truyền nhiễm
th́ chữa khỏi, nhưng những biến chứng hay di chứng của bệnh để lại
lại là một chuyện nan giải cho cả bệnh nhân và thầy thuốc, điển h́nh
như biến chứng thần kinh, hoặc các biến chứng tim của bệnh thấp
khớp. Các thuật điều trị nếu có thể hoặc bảo tồn hoặc thay thế nhưng
hầu như không thể nào gọi là chữa khỏi được. V́ thế, không ai ngạc
nhiên khi thấy hầu hết các thuật chữa trị hiện nay chỉ đem lại hiệu
quả cho khoảng 60 phần trăm bệnh nhân, và trong nhiều trường hợp
bệnh nhân lại chịu phản ứng phụ có hại cho sức khoẻ. Trong nhiều
thập niên gần đây, nghiên cứu y khoa đă bắt đầu chuyển sang một
phương hướng mới: đi t́m thuật chữa trị mới sao cho có thể ứng dụng
cho từng cá nhân bệnh nhân. Đó cũng là nhờ tiến bộ của ngành sinh
học phân tử, nghiên cứu về tế bào và cấu trúc di truyền của tế bào.
Do đó, có thể nói một cách vắn tắt rằng đa số các bệnh tật, dù là
thể xác hay tinh thần, đều gần như có thể bắt nguồn từ những trục
trặc của tế bào, hoặc gien. Nhưng hầu như tất cả các thuật chữa trị
bệnh tật hiện nay lại có tính cách gián tiếp, và ước chừng. Giải
phẫu, hay dùng dược phẩm đều chỉ là những phương pháp trợ tiếp, cầm
chừng, và chỉ tấn công bề ngoài của căn bệnh, chứ chưa tiến sâu vào
cơ chế hoạt động của tế bào. Ngoài ra, tất cả các thuật chữa trị này
đều dựa vào số đông chứ không dựa vào cá nhân. Chẳng hạn như thuốc
alendronate, thử nghiệm cho thấy có hiệu quả cho số đông của một
nhóm bệnh nhân, và kết quả này được khái quát hóa cho hàng loạt bệnh
nhân khác.
V́ tế bào là đơn vị cơ bản nhất của con người, và mỗi con người là
một cá thể độc đáo (trên phương diện sinh học, không ai giống ai),
nên việc chữa trị bệnh tật bằng cách thay thế các tế bào hay gien bị
hỏng bằng các tế bào hay gien lành mạnh là một phương pháp đang được
giới khoa học chú ư nhiều nhất hiện nay. Ngoài ra, việc thay thế
những gien bị đột biến tai hại bằng những gien tốt cũng là một
phương hướng chữa trị đang được ứng dụng cho một số bệnh. Chữa trị
bằng tế bào hay bằng gien, nếu không là một hi vọng sau cùng, th́
cũng là một phát triển quan trọng nhất trong hành tŕnh chinh phục
bệnh tật của con người.
Mô h́nh nốc-ao có thể đóng góp vào việc hoàn thành mục tiêu số 2 của
nghiên cứu về gien, tức t́m hiểu cơ chế của bệnh. Nhưng cho đến nay,
sau hơn 2 thập niên kể từ mô h́nh nốc-ao gien ra đời, y học vẫn chưa
áp dụng thành tựu của mô h́nh này trên con người. Chúng ta vẫn chưa
biết gien nào thật sự có ảnh hưởng đến bệnh nào. Ngay cả một số ít
gien được công nhận là có liên quan đến bệnh, chúng ta vẫn không
biết tại sao và cơ chế vận hành của gien ra sao. Do đó, cho đến nay,
chúng ta vẫn chưa thể điều trị bệnh bằng gien như từng hi vọng. Ngay
cả ở một vài trường hợp cá biệt mà bệnh nhân được điều trị bằng cách
thay đổi các mảng DNA cũng không (hay chưa) thành công.
Thật ra, mô h́nh nghiên cứu gien mà các nhà khoa học theo đuổi có
vấn đề. Như đề cập phần đầu của bài viết, phần lớn bệnh là do nhiều
gien và các gien này tương tác với các yếu tố môi trường gây nên. Do
đó, tập trung nghiên cứu chỉ một gien như mô h́nh nốc-ao gien không
thể nào thành công trong lâm sàng được, và chắc cũng rất ít khả năng
dẫn đến một thuật điều trị bằng cách thay đổi một gien (bởi v́ bệnh
do nhiều gien và nhiều yếu tố môi trường). Đó chính là lí do tại sao
cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết ǵ cụ thể về gien và bệnh, chúng
ta vẫn chưa thể sử dụng gien để tiên đoán nguy cơ mắc bệnh trong
thực tế lâm sàng, dù hàng tỉ USD đă đầu tư cho các nghiên cứu này.
Trong vài năm gần đây, giới y khoa đă bắt đầu nghi ngờ giá trị thực
tế của giải thưởng Nobel. Vài năm trước đây, giải thưởng được trao
cho các nhà khoa học nghiên cứu về ... mùi vị. Trước đó, giải thưởng
được trao cho các nhà khoa học với những công tŕnh chẳng liên quan
ǵ đến y khoa. Năm 1949 giải Nobel được trao cho một bác sĩ giải
phẫu (Moniz) v́ phẫu thuật thùy năo, hay lobotomy (hay c̣n gọi là
leucotomy) trong việc chữa trị chứng lọan thần kinh (psychotic).
Trước khi phẫu thuật được ứng dụng, bệnh nhân phải chịu nhiều cực
h́nh như bị “nhốt” trong một lồng sắt (straitjackets), tắm bằng nước
lạnh, rồi mới đến giải phẫu và giật điện. Ngày nay phẫu thuật thùy
năo được xem là một phẫu thuật vi phạm y đức. Do đó, không ít nhà
nghiên cứu chẳng để ư đến ai được hay không được giải thưởng này, v́
họ cho rằng giải thưởng này càng ngày càng đi xa tôn chỉ của ông
Alfred Nobel. Thật vậy, giải thưởng Nobel được thiết lập theo di
chúc của ông Alfred Nobel, trong đó ông viết rằng giải thưởng nên
trao cho “những ai đă đem lại lợi ích lớn nhất cho con người.”
Tuy không ai nghi ngờ rằng mô h́nh của ba nhà khoa học vừa đề cập
thể hiện một bước đột phá trong nghiên cứu di truyền, nhưng ứng dụng
của mô h́nh này trong y học lâm sàng và điều trị bệnh nhân vẫn c̣n
là câu hỏi lớn. Nói cách khác, mô h́nh này chưa đem lại lợi ích thực
tế ǵ cho bệnh nhân (chứ chưa nói đến “lợi ích lớn nhất”). Và, trong
tương lai, chưa chắc mô h́nh này có thể ứng dụng rộng răi ở con
người. Do đó, theo người viết bài này, giải thưởng năm nay có thể
nói là không phù hợp với nguyện vọng và tinh thần trong di chúc của
ông Nobel. |
|