|
Phương pháp chuẩn để kiểm định
3-MCPD trong nước tương và các sản phẩm nước tương khi nhập khẩu vào
Niu di-lân (New Zeland)
Nguyễn Đ́nh Nguyên
Tháng qua, thị
trường sản xuất và tiêu dùng nước tương ở Việt nam “nóng” lên v́
t́nh trạng dư lượng 3-MCPD vượt quá ngưỡng an toàn cho phép theo quy
định về tiêu chuẩn an toàn của Bộ Y tế. Nhiều nhà sản xuất phàn nàn
là có thể kỹ thuật kiểm định khác nhau ở các pḥng thí nghiệm khác
nhau làm cho sản phẩm của họ có thể bị “kết tội” oan, trong khi đó
giới chuyên môn hữu trách th́ lại “hoang mang” trước những mẫu kiểm
nghiệm cho thấy 3-MCPD vượt quá ngưỡng đến cả ngh́n lần nên cũng
“không dám” báo cáo! Bài viết dưới đây nhằm cung cấp một vài thông
tin cơ bản các bước lấy mẫu để kiểm nghiệm và tiêu chuẩn huỷ bỏ mẫu
không đạt yêu cầu nhập khẩu được áp dụng ở Niu di-lân.
Dựa trên các báo
cáo khoa học về nguy cơ của 3-MCPD lên sức khoẻ, và dựa trên các
khảo sát sản phẩm nước tương lưu hành trên thị trường Anh quốc cho
thấy dư lượng 3-MCPD vượt quá ngưỡng an toàn, ngày 17/07/2001 tại
một cuộc họp của Uỷ ban Chuyên viên liên đới giữa Tổ chức Lương Nông
và Tổ chức Y tế thế giới (FAO/WHO) đă xác định nồng độ tạm thời tối
đa cho phép thu nạp ở người là 0.002 mg/kg thể trọng.
Tại Niu di-lân,
vào 1/08/2001, một tiêu chuẩn an toàn khẩn cấp được đề xuất cho hàm
lượng tối đa cho phép 3-MCPD trong sản phẩm nước tương là 1.0mg/kg,
riêng đối với 1, 3- DCP th́ không được hiện diện trong thực phẩm cho
đến khi có đầy đủ dữ liệu. Cho đến đầu năm 2002, sau khi đă có kết
quả nghiên cứu khảo sát thị trường tiêu thụ, Cục Thực phẩm New-Zeland
đă thiết lập lại tiêu chuẩn mới: chỉ cho phép 3-MCPD ở mức
0.02mg/kg nước tương và 0.005mg/kg cho 1,3-DCP, đồng thời cũng xác
định rơ vai tṛ trách nhiệm của cơ quan chủ quyền, đó là Cục An toàn
Thực phẩm và Bộ Nông-Lâm nghiệp (đơn vị nhập khẩu thực phẩm) cung
với một số đơn vị liên đới như Vụ Kiểm duyệt Trung ương Auckland, Bộ
Sức khoẻ Cộng đồng, Cục An ninh Sinh học Niu di-lân.
Niu di-lân cũng
xác định các phẩm nhập khẩu là nước tương, các sản phẩm gia vị chế
biến từ đậu nành hay các gia vị là sốt khác mà không phân loại được
là những đối tượng để lấy mẫu kiểm nghiệm. Tuy nhiên vấn đề kiểm
duyệt một loại hàng nhập khẩu ở Niu di-lân có thể thông qua hai
phương thức: giấp phép được nhập nhiều lần (Multiple Release
Permits, MRP) và Kiểm duyệt mẫu khi hàng đến cảng.
Với h́nh thức
giấy phép nhập nhiều lần chỉ cấp cho một số nhà nhập khẩu đă xác
định về tiêu chuẩn kỹ thuật cao và có kinh nghiệm quản lư hệ thống
nhập khẩu cho chất lượng. H́nh thức này thường chỉ áp dụng đối với
những nhà nhập khẩu, môi giới và nhà sản xuất và phân phối được xác
định là có uy tín trong một thời gian. Những đơn vị này được phép
nhập hàng miễn qua thủ tục kiểm duyệt đối với các thực phẩm đă kê
khai chi tiết để cắt giảm chi phí thời gian và lệ phí kiểm duyệt.
Tuy nhiên khi có yêu cầu kiểm duyệt hay hàng hoá nằm trong danh sách
kiểm duyệt bất thường của Cục An toàn thực phẩm, đều phải qua chế độ
lấy mẫu kiểm duyệt.
Đối với chế độ
kiểm duyệt sản phẩm nước tương th́ tiêu chuẩn hoá chất, lấy mẫu và
đánh giá được tiến hành như sau:
Tiêu chuẩn về
hoá chất
Không được vượt
quá ngưỡng cho phép:
Đối với
3-chloro-1, 2-propanediol (3-MCPD) là 0.2 mg/kg tính dựa trên 40%
trọng lượng khô (40% dry matter content).
Đối với 1,
3-dichloro-2-propanol (1, 3-DCP) là 0.005 mg/kg tính dựa trên 40%
trọng lượng khô (40% dry matter content).
Lấy mẫu
Nguyên tắc lấy
mẫu cho mỗi sản phẩm đối với một mặt hàng nước tương nhập khẩu được
dựa trên cách phân loại “sản phẩm đặc hiệu” (specific product). Một
sản phẩm đặc hiệu được xác định là lô hàng có cùng cỡ đóng gói (như
chai, lọ), đóng thùng, số lượng, nhăn hiệu và sản xuất cùng một nơi.
Đối với loại sản phẩm đặc hiệu th́ số lượng mẫu chọn để kiểm nghiệm
sẽ giảm đi theo nguyên tắc “switching rule” (đổi cỡ mẫu) tiến hành
theo tŕnh tự ba bước như sau:
-
Đầu tiên tiến hành lấy mẫu ở
mức độ nghiêm ngặt (100% toàn bộ mẫu phải được lấy ra kiểm nghiệm);
nếu có 5 mẫu thử liền đáp ứng tiêu chuẩn, khi đó chuyển sang:
-
Lấy mẫu ở mức độ trung b́nh (lấy
ngẫu nhiên 20% lượng mẫu hay 1 trong 5 để thử nghiệm), và nếu có 20
mẫu liên tục đáp ứng tiêu chuẩn (hay 100 mẫu hàng được nhập khẩu
trong ngày đầu tiên) khi đó chuyển sang bước:
-
Lấy thêm mẫu chọn ở mức độ thấp
(chỉ chọn 10% mấu để xét nghiệm).
Tuy nhiên số
lượng mẫu được lấy phải quay lại bước khởi đầu (lấy mẫu nghiêm ngặt,
tức là thử toàn bộ) một khi một trong các bước trên đây chỉ cần một
mẫu không đạt tiêu chuẩn.
Ngoại lệ được áp
dụng trong một số trường hợp đặc biệt, đối với một loại sản phẩm đặc
hiệu tái nhập (tức là cùng một loại hàng hoá có cùng mẫu mă) đă đáp
ứng được tiêu chuẩn kiểm duyệt theo luật “đổi mẫu” trên đây, th́ nhà
nhập khẩu được phép xin giảm cách chọn mẫu, và phải được Cục An toàn
Thực phẩm chấp nhận, khi đó số lượng mẫu chỉ cần lấy là 1/20.
Chọn mẫu kiểm
nghiệm
Một đơn vị mẫu
được xác định áp dụng cho một loại hàng hoá cùng nhăn hiệu cùng kích
cỡ đóng gói và cùng một đơn vị sản xuất.
Lấy thí dụ cụ
thể: nước tương “hiệu con gà” (nhăn phải hoàn toàn giống nhau) chai
250ml do hăng FoodCom sản xuất đóng thùng 24 chai. Như vậy tất cả
các lô hàng này được xác định là một đơn vị đối tượng lấy mẫu.
Tuy nhiên, nếu
cùng một loại sản phẩm như vậy mà mă số lô khác nhau th́ nguyên tắc
được áp dụng như sau
|
Số lượng
mă lô trong một đơn vị hàng đặc hiệu |
Số lượng
mẫu lấy cho một đơn vị hàng |
Hàng bị
loại khi có mẫu xét nghiệm không đạt tiêu chuẩn |
|
1 |
1 |
n = 1 |
|
2 -8 |
2 |
n = 1 |
|
9 -15 |
3 |
n = 1 |
|
16 – 25 |
5 |
n = 1 |
|
> 26 |
8 |
n = 1 |
Nh́n vào bảng
trên cho thấy, chỉ cần một chai trong lô lấy mẫu không đạt tiêu
chuẩn th́ toàn bộ lô hàng bị loại.
Mẫu lấy phải đáp
ứng tiêu chuẩn: chai phải c̣n đóng niêm, không có dấu mở và thể tích
không được dưới 175ml
Nơi xét nghiệm:
Pḥng kiểm nghiệm được Cục An toàn thực Phẩm Niu di-lân cấp giấy
phép hoạt động; tuy nhiên pḥng thí nghiệm này phải đạt chuẩn kỹ
thuật và được cấp chứng nhận của Cơ quan Kiểm nhận Quốc tế Niu
di-lân (International Accreditation New Zealand, IANZ)
Phương pháp
đo lường
Phương pháp đo
lường 3-MCPD ỏ tất cả các pḥng xét nghiệm được cấp giấy phép hoạt
động đều kiểm nghiệm theo một phương pháp thống nhất: đó là phương
pháp Sắc kư đồ Khí sử dụng Phổ kế Sắc kư trọng lượng (Gas
Chromatography with Mass Spectrometry) được mô tả chi tiết trong
nghiên cứu của Brereton và cộng sự in trên tập san AOAC
International (The Scientific Association
Dedicated to Analytical Excellence) (Brereton P,
Kelly J,
Crews C,
Honour S,
Wood R,
Davies A.
Determination of 3-chloro-1,2-propanediol in foods and food
ingredients by gas chromatography with mass spectrometric detection:
collaborative study.
J
AOAC
International, 2001;84(2):455-65).
Đo lường 1,3-DCP
được thống nhất theo kỹ thuật như trên được mô tả chi tiết bởi Crew
và cộng sự (C. Crews, G. Le Brun, P.A. Brereton. Determination of
1,3-dichloropropanol in soy sauces by automated headspace gas
chromatography-mass spectrometr, in Food Additives and Contaminants,
published by Taylor & Francis, Volume 19 Number 4, 1 April 2002 ,
343-349). Tuy nhiên có một ghi chú nhỏ là bước kỹ thuật có khâu
“cryofocusing appears” được cho là không nhất thiết (theo nghiên cứu
"Determination of 1, 3-dichloropropanol in soy and related sauces
by using gas chromatography/mass spectrometry", của các tác giả P.
J. Nyman, G. W. Diachenko, G. A. Perfetti, Food Additives and
Contaminants, published by Taylor & Francis, Volume 20 Number 10,
October 2003)
Tŕnh tự kiểm
nghiệm
Tất cả các lô
hàng phải được xét nghiệm 3-MCPD
Nếu lô hàng có
3-MCPD vượt mức 0.2mg/kg tính trên 40% trọng lượng chất khô th́ lô
hàng bị loại mà không cần phải kiểm nghiệm 1,3-DCP.
Nếu lô hàng có
3-MCPD nằm ở mức 0,2mg/kg và 0,005mg/kg tính trên 40% trọng lượng
chất khô th́ tiến hành xét nghiệm 1,3-DCP.
Nếu lô hàng kiểm
nghiệm có 3-MCPD ở mức thấp hơn 0,005mg/kg tính trên 40% trọng lượng
chất khô th́ lô này coi là đạt tiêu chuẩn và không cần phải định
lượng 1,3-DCP nữa.
Tiêu chuẩn để
coi là hàng không đảm bảo yêu cầu
Mẫu kiểm nghiệm
được coi là bị huỷ bỏ nếu dư lượng 3-MCPD vượt mức 0,2mg/kg tính
trên 40% trọng lượng chất khô (không cần xét nghiệm 1,3-DCP)
Mẫu kiểm nghiệm
cũng bị huỷ bỏ nếu 3-MCPD đạt yêu cầu nhưng 1,3-DCP vượt quá ngưỡng
0,005mg/g tính trên 40% trọng lượng chất khô.
Khi mẫu kiểm
nghiệm bị huỷ bỏ th́ lô hàng có mẫu đó cũng coi là không đạt tiêu
chuẩn mà không cần phải lấy mẫu trở lại.
Với những lô
hàng đă kiểm nghiệm mà không đạt yêu cầu nhập khẩu th́ cần lấy mẫu
để kiểm nghiệm chi tiết báo cáo cho cơ quan Thanh tra thực phẩm.
Trên đây là
những nét cơ bản của quy tŕnh kiểm nghiệm 3-MCPD trong sản phẩm
nước tương ở Niu di-lân, do
Cục An toàn Thực Phẩm của Niu di-lân công bố,
xin giới thiệu để độc giả trong nước có được khái niệm về quy tŕnh
kiểm nghiệm ỏ một nước đă phát triển.
03-06-2007 |