|
Nhu Cầu Chấn Hưng Phật Giáo
Quán
Như Pham Văn Minh
Chưa bao giờ lời kêu gọi của Thái Hư
Đại Sư từ thế kỷ trước về “Cách mạng Giáo Lư, cách mạng Giáo chế và
Cách mạng Giáo sản” vang vọng thống thiết, phản ánh nhu cầu đổi mới
cấp thiết hiện nay của Phật Giáo Việt Nam. Cũng chưa bao giờ hành
trạng của Cư sĩ Minh Tâm Lê Đ́nh Thám của thập niên 30’ lại hiện ra
chói lọi trong năo trạng của những người con Phật Việt Nam một cách
thiết tha và dục giả như t́nh h́nh hiện nay.
Mười Bốn Lư Do Tại Sao Phật
Giáo cần đổi mới
1-
Tăng ni và cư sĩ trong ngoài
nước đă và đang nhiệt liệt ủng hộ nhu cầu đổi mới. Trong cuộc hội
thảo lịch sử Phật Giáo Trong Thời Đại Mới: Cơ Hội và Thách
Thức năm 2005 tại Việt Nam, đă có rất nhiều tham luận hô hào cần
phải canh tân đổi mới phương thức hành đạo và truyền đạo của Phật
Giáo Việt Nam mà điển h́nh là Ḥa Thượng Thích Hiển Pháp, trong nước,
nhấn mạnh đến việc phác thảo một kế hoạch toàn diện nhằm chấn hưng
Phật Giáo trên nền tảng dân tộc. Sa Môn Măn Giác, ngoài nước nên có
một cái nh́n toàn cầu sâu sắc, đă
nh́n Phật Giáo trong viễn cảnh của “một liều thuốc giải cho căn bệnh
thời đại”.
Cư sĩ Minh Mẫn trong nước kết luận
khẩn thiết trong một bài viết của ḿnh rằng: “Phật Giáo Việt Nam
phải can đảm đổi mới và đổi mới một cách toàn diện”. Cư sĩ Hồng
Quang ở quốc ngoại th́ ‘ước mơ’ thay đổi Hiến chương, hiện đại hóa
cơ cấu của giáo hội và Phật Giáo Việt Nam phải triễn khai mạnh mẽ
nội dung Nhập Thế của ḿnh. Phần dẫn nhập của tác phẩm “Phật Giáo
Trong Thế Kỷ Mới, Tại Sao Phải Chấn Hưng” đă mô tả ước vọng đổi
mới Phật Giáo Việt Nam như một cuộc thay da đổi thịt triệt
để, một lần hóa thân toàn diện”.
2-
Đạo Phật không bao giờ chấp
nhận ḷng tin mù quáng và giáo điều cứng nhắc. Nguyên tắc khế lư-
khế cơ biến đạo Phật trở thành một ḍng sông tâm linh uyển chuyển.
Đạo Phật truyền bá đến đâu thu nhận và hội nhập văn hóa bản địa đến
đó để làm giàu thêm cho kho tàng triết lư và đời sống tâm linh của
người hành tŕ. Từ ngữ Buddhism là do các nhà nghiên cứu Phật Giáo
phương Tây đặt tên, bởi không như các tôn giáo độc thần khác, đạo
Phật không có ‘ism’, không có giáo điều ‘muôn đời’. Nhờ thế mà trong
lịch sử phát triển, đạo Phật có nhiều tông phái, muôn màu muôn vẽ,
bách hoa tề khai, đồng quy nhi thù đồ, tương kính,
tương nhượng. Nguyên tắc vô thường phản ảnh cho tinh hoa của triết
lư dịch biến Đông Phương. Nếu không luôn luôn đổi mới th́ đâu c̣n vô
thường, nếu mất đi nguyên tắc vô thường, th́
đạo Phật đâu c̣n là đạo Phật!
3-
Phật Giáo trong quá tŕnh tiếp
cận, an vị rồi xiễn dương trên đất nưóc Việt nam cùng với dân tộc
Việt Nam, đă liên tục theo thời đại và ḷng dân mà đổi mới để dần
dần biến thành một
đạo Phật Việt Nam độc đáo, vẫn giữ cốt tuỷ tinh hoa -khế lư- nhưng
đồng thời tạo nên những nét đặc thù-khế cơ- không giống với bất cứ
đạo Phật ở nước nào khác. Đạo Phật trong lịch sử trưyền bá ở Việt
Nam cũng đă nhiều lần đổi mới, thoát xác, thích ứng với từng thời
đại.
4-
Trong lịch sử hiện đại, chúng
ta đă chứng kiến nổ lực đổi mới của các vị tôn túc từ Nam ra Bắc
trong thập niên 30. Không có nổ lực đổi mới để đào tạo tăng tài,
thường gọi là “Bảy Ông Trí”, th́ Phật giáo Việt Nam đă không tồn tại
được trước cuộc xâm lăng văn hóa của chính quyền thực dân bảo hộ và
lực lượng tay sai bản điạ, và nhất là đă không có cuộc vận động
chống chánh quyền độc tôn vào năm 1963 tại miến Nam, nhằm tranh đấu
cho công bằng xă hội và b́nh đẵng tôn giáo, cũng như nếu không có
phong trào Tranh Đấu Miền Trung, chống chiến tranh để nỗ lực
mang lại Hoà B́nh Dân Tộc, Độc Lập Quốc Gia và Công Bằng Xă Hội, th́
Phật Giáo Việt Nam cũng đă héo tàn trong mấy hội nghiên cứu ‘Phật
Học’.. Sa Môn Măn Giác đă bảy tỏ trong bài tham luận cho Hội thảo
PGTTĐM rằng những nổ lực đổi mới “là sợi chỉ trong suốt quá tŕnh
hiện đại hóa. Đó là quyết tâm tạo cơ duyên để phục vụ dân tộc trong
ánh sáng đạo pháp và phục vụ đạo pháp trong điều kiện khế hợp của
dân tộc”. Những thánh tử đạo, những Phật Tử hy sinh trong các
cuộc tranh đấu trong các năm 1963-1966 là những người đă ‘thương
nước, thương đạo’. Sa Môn Thích Măn Giác c̣n nói rơ hơn: “Nếu
không có các vận động đổi mới trên, Phật Giáo đă biến thành hội
tương tế của những ông thầy cúng chỉ biết lo ma chay cầu đảo”.
Phật giáo có phần tín ngưỡng, tôn giáo nhưng cũng có phần trí tuệ.
Phải lấy đoạn kinh Kalama làm nguyên tắc để phát triển phần trí tuệ
hầu khỏi bị phần tín ngưỡng, trong đó c̣n quá nhiều mê tín, khuynh
đảo. C̣n nếu cứ theo nguyên tắc ‘không biết mà tin’ mù quáng trong
tín lư của các tôn giáo Tây phương th́ đạo Phật có khác ǵ mấy tôn
giáo độc thần ấy. Gương truyền bá chánh pháp của Phật giáo Tây Tạng
có thể cho chúng ta một bài học: hiện nay đồ đệ Đức Đạt Lai Lạt Ma
không c̣n nhắc đến những chuyện huyền bí về việc đầu thai của các
Lạt Ma nữa, mà nhấn mạnh đến niềm an lạc mà Phật Giáo có thể đem lại
cho người hành tŕ ở đời này.
5-
Trong thời kỳ quá độ của những
năm vừa thống nhất đất nước xong và đang thực hiện Xă hội chủ nghĩa,
Phật Giáo Việt Nam bị biến thành một hội Phật Học bên lề xă hội như
dưới thời Bảo Đại và Ngô Đ́nh Diệm, và chánh quyền đặt Phật Giáo như
một hội đoàn quần chúng dưới sự giám sát của Mặt Trận Tổ Quốc. Có
quá nhiều sai lầm và bất cập, tuy nhiên việc thành lập GHPGVN vào
năm 1981 từ Nam chí Bắc là một nổ lực đáng ca ngợi trong tinh thần
ḥa giải dân tộc và thống nhất tổ chức. Tuy nhiên, kể từ khi quốc
sách Đổi Mới đi vào hiện thực cuộc sống, và nhất là từ khi Việt Nam
hội nhập vào cộng đồng nhân loại, chính chánh quyền cũng đă thấy
những bất cập và đă liên tục đổi mới để hiện đại hóa đất nước, th́
không có lư do ǵ GHPGVN lại cưỡng lại nổ lực và xu thế đổi mới đó
để kềm
giữ Phật giáo trong t́nh trạng của một hội tương tế mà phần lớn
“Phật Sự” chỉ lo ma chay, cầu an và cúng kiến để cầu ‘hồng ân’ của
Chư Phật!
6-
Nếu chánh quyền xem Phật Giáo
là người đồng hành trong vai tṛ quan trọng trong việc dựng nước và
giữ nước như đă được chứng minh trong lịch sử, nhất là lịch sử chống
thực dân và đế quốc, th́ Phật giáo phải được đặt ở một vị trí và
phải có một trách nhiệm tương xứng, không phải chỉ ‘được’ dùng như
một công cụ trong giai đoạn quá độ. Muốn thế, chính giáo hội cũng
phải tỏ ra xứng đáng đóng vai ‘đồng hành’, mà trước hết là thành
phần lănh đạo giáo hội Việt Nam phải tỏ ra xứng đáng vai đồng hành,
chứ không phải chỉ là những người cầu an, vâng vâng dạ dạ, làm cây
kiểng trang trí. Cũng vậy, muốn
đóng vai tṛ đối lập, Giáo Hội PGVNTN cũng phải tỏ ra xứng đáng là
thành phần đối lập, không phải hành động chỉ v́ động cơ bất măn cá
nhân, hành tung vô đạo, sử dụng ố ngữ và làm công cụ cho các thế lực
thần quyền và thế quyền ngoại bang đánh phá tổ quốc để đạt mục đích
của riêng phe nhóm ḿnh.
7-
Theo thống kê dân số, hiện nay
trong nước có hai phần ba dân số là thanh niên thiếu nữ thuộc thế hệ
7X, 8X và 9X, sinh sau khi chiến tranh chấm dứt. Thế hệ nầy có hơn
15 năm sống trong nền kinh tế thị trường, tiếp xúc với tri thức tiến
bộ của nhân loại và cởi lên làn sóng internet để tiếp nhận thông tin
toàn cầu trong không gian cyberspace. Thử hỏi có bao nhiêu phần trăm
thanh niên thiếu nữ này chấp nhận triết lư và hành động ma chay cầu
đảo của các thầy cúng? Nếu không hiện đại hóa, các thanh niên thiếu
nữ trong các gia đ́nh Phật giáo hoặc sẽ điền “KHÔNG”
vào mục lư lịch tôn giáo, hoặc sống cuồng loạn như thể không có ngày
mai, hoặc tệ hơn nữa sa vào âm mưu đổi đạo tập thể của Vatican tại
các nước ở thềm lục địa Hoa-Ấn Trường hợp Tin Lành Dega ở cao nguyên
và Đồng Tháp là thí dụ điển h́nh cho mục tiêu cải đạo nầy. Nếu không
đổi mới canh tân Giáo hội th́ người dân và chính Phật tử nhẹ dạ hay
thiếu sức mạnh tâm linh sẽ dễ bị lường gạt bởi các tay đại bịp như
Vô Thượng Sư, các ‘thầy nhân điện’ hay thầy nước lă mà khước từ Giáo
hội, thậm chí từ bỏ luôn cả Phật giáo. Các giáo hội Phật Giáo Việt
Nam ở các nước ngoài cũng có thể bị một số nguy cơ tương tự v́ không
đủ mặt bằng trí tuệ để đi vào ḍng chính của tri thức bản điạ và v́
áp lực kinh tế để nuôi sống Chùa. Các thế hệ di dân thứ hai và kế
tiếp, suy nghĩ và hành xử như người Tây Phương, “ruột trắng vỏ vàng”,
sẽ không tiêu hóa nổi những h́nh thức mê tín dị đoan tương tự như
trong các tôn giáo độc thần Ky Tô, đă bị thế kỷ Khai Sáng xem như
tín ngưỡng c̣n rơi rớt ở thời Trung Cổ đen tối.
8-
Số tín đồ và linh mục/ mục sư
các tôn giáo truyền thống Ky Tô ở các nước Tây Phương càng ngày càng
giảm sút, số lượng giáo dân đi lễ càng ngày càng thưa thớt; giáo
đường phải đem bán và biến thành các cơ sở thương mại. Một số lớn
vẫn tin vào Chúa nhưng chỉ thờ Chúa ở trong ḷng. Họ phủ nhận một
giáo quyền bảo thủ thiếu đạo đức xă hội và bác bỏ thần học lỗi thời
do giáo hội rao giảng, nhất là khi thần học này biến thành những đạo
đức xă hội như cấm ngừa thai, cầm phá thai, cấm trợ tử…Đạo quân ‘bất
khả tri’ (Agnostic) ở Tây Phương càng ngày càng đông đảo, tương phản
với thiểu số cuồng tín (fundamentalists). Sinh hoạt tôn giáo như là
sinh hoạt văn hoá,
Đạo Phật là một đạo phát triển nhanh
nhất ở MỸ, ÚC và ÂU CHÂU. Nhiều Phật tử hay lấy sự kiện này để tự
hào về tôn giáo ḿnh nhưng không chịu t́m hiểu nguyên nhân. Đối với
các nước trọng tinh thần duy lư từ thế kỷ khai sáng, hai yếu tố
quyến rũ nhất đối với người Tây phương là Thuyết Duyên Khởi, rất gần
gũi với tinh thần khoa học và duy lư và đức tính khoan dung và độ
lượng khi so sánh với tôn giáo khác. Dù mục tiêu của khoa học và
tôn giáo khác nhau, nhưng liệu Phật Giáo có nên tiếp tục duy tŕ các
ḷng tin phản khoa học không? Đức Đạt Lai Lạt Ma tuyên bố sẵn sàng
xét lại giáo pháp nào đi ngược lại với khoa học. Có lẽ đây là lư do
các lạt ma Tây Tạng không c̣n hăng hái bàn đến các sự kiện đầu thai
‘huyền bí ly kỳ’ của các Lạt Ma nữa. Thầy Nhất Hạnh gần đây đă giải
thích những h́nh thức cúng kiến tổ tiên và luân hồi trong ánh sáng
mới, vừa hợp lư và hợp t́nh và dĩ nhiên là phải khế hợp với triết lư
vô ngă của Phật Giáo. Rao giảng một thuyết hữu ngă là tà pháp, không
phải là chánh pháp. Linh hồn là ư niệm nhị nguyên của các tôn giáo
hữu thần, không phải ư niệm của Phật giáo.
9-
Thái độ khoan dung của Phật
Giáo là yếu tố thứ hai thu hút trí thức Tây Phương mạnh nhất. Đạo
Phật là đạo ḥa b́nh. Người Tây Phương đă ngán ngẫm những cuộc
chiến tranh tôn giáo ở Rwanda, ở vùng Balkan, ở Bắc Ái Nhĩ Lan, ở
Trung Đông. Trong suốt lịch sử truyền bá, đạo Phật chưa bao giờ dính
vào một cuộc chiến tranh phát khởi v́ lư do tôn giáo. Trong ṿng vài
mươi năm qua, có ít nhất là hai Phật tử được giải Nobel Hoà B́nh,
Đức Đạt Lai Lạt Ma và lănh tụ dân chủ Miến Điện, Ang Sung Su Kyi và
hai người khác được đề nghị ra tranh giải, Nhất Hạnh và Sulak
Sivaraksa. Sa Môn Măn Giác đă gọi yếu tố này là ‘phương thuốc của
thời đại’. Trong khi đó th́ thật là ngán ngẫm khi nghe một vị sư lớn
tiếng ủng hộ chánh sách chiến tranh của TT Bush vào năm 2003 và một
vị sư khác tuyên bố ‘diệt những người ác không tạo nghiệp’. Nói như
vậy không phải hiện nay không có nhiều vị sa môn cổ vơ cho chiến
tranh chống Tamil Tigers ở Skri Lanka, có thể làm tan vỡ h́nh ảnh
Ḥa B́nh của Phật Giáo.
10-
Sau thế kỷ Khai Sáng, nhân loại
đă tạo ra một số giá trị nhân bản như băi bỏ chế độ nô lệ, mọi người
b́nh đẵng trước pháp luật, tôn trọng nữ quyền, tôn trọng quyền của
những người thiểu số, quyền được thoả măn những nhu cầu căn bản như
ăn mặc, nhà ở, giáo dục. Trong giáo đoàn đầu tiên của Đức Phật có sự
hiện diện của phụ nữ, người cùng đinh Untouchables, những người phạm
pháp. Đồ tể một phút buông dao thành Phật thể hiện sự b́nh
đẵng tuyệt đối của đạo Phật. Ai cũng có Phật Tính. Tuy đây chỉ là
giá trị xă hội, nhưng nếu giáo pháp nào đi ngược với giáo pháp b́nh
đẵng của Đức Phật, cần phải được xét lại (như Bát Kỉnh Pháp xem Ni
nhẹ hơn Tăng).
11-
Hiện nay những người truyền bá
chánh pháp ở Âu Châu phần lớn là cư sĩ hay tu sĩ đă hoàn tục. Nhiều
cư sĩ đệ tử của Đức Phật đă ‘giác ngô’ như Duy Ma Cật ‘giác ngộ’ sớm
hơn cả một số tăng già. Không có ǵ chứng tỏ là những vị khoác tăng
bào sẽ giác ngộ trước cư sĩ. Trong thời chấn hưng vào các năm 30,
nhiều cư sĩ đă đứng trên bục giảng đào tạo tăng tài. Giáo hội cần
định chế hoá mối liên hệ giữa tăng và ni, giữa tăng già và cư sĩ để
tránh t́nh trạng “cái ghế một chân”.
12-
Hiện nay người ta đua nhau nói
về thời đại toàn cầu hóa và hội nhập, mặc dù rất ít người hiểu rằng
đây là thời kỳ mà Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng là
thời kỳ có nhiều cạm bẩy nhất. V́ không có tài liệu nghiên cứu,
nhiều người đă ‘hồ hỡi’ khi Việt Nam được nhận làm hội viên WTO
nhưng không thấy rằng toàn cầu hóa cũng có nghĩa là thời ‘tư bản hóa’
và nguy hại hơn hết, thời kỳ Ky Tô Hoá. Để có khả năng cung cấp một
giá trị tâm linh để chống đối cơn băo tiêu thụ của kinh tế thị
trường, trong đó mọi giá trị nhân sinh hay tôn giáo đều bị thay thế
bởi nguyên lư ‘tham lam là động cơ của phát triễn’, ‘ai cũng hành
động v́ tư lợi’, Phật Giáo không thể nào ù ĺ, vùi đầu trong cát như
những con đà điểu. Không có cái nh́n trung đạo về kinh tế, Phật giáo
dần dần chỉ c̣n là tôn giáo h́nh thức như các tôn giáo độc thần Tây
Phương hiện nay trong ḷng xă hội Tây Phương. Không nhấn mạnh đến
yếu tố từ bi, trí tuệ hay ‘nhập thế’, trước hay sau ǵ Phật Giáo
cũng biến thành một loại tín ngưỡng của người chết (ma chay, cầu đảo)
không c̣n là một triết lư sống sinh động nữa.
13-
Phật giáo phải biết ḿnh đứng
chỗ nào trước những tiến bộ khoa học di truyền hay điện tử. Phật tử
nên biết phải phản ứng thế nào trước khoa học tạo sinh trung tính
(Cloning), về trợ tử để giúp những người bị bệnh trầm kha chết có
phẩm cách? Tăng già có nhận vào hàng ngũ của ḿnh những người đồng
tính luyến ái, một vấn đề hiện đang chia rẽ các tôn giáo độc thần
Tây Phương? Tăng già nghĩ ǵ về t́nh dục và nên có thái độ trung đạo
nào đối các tăng ni chưa đủ nghiệp lực nên đă phạm giới? Để trả lời
những vấn nạn xă hội của
thời đại chúng ta, những vấn nạn mà người dân và chính những Phật tử
bị bế tắc và cần đến lời khuyên dạy của chư Tăng Ni, Giáo hội phải
vận dụng đến lời dạy của Đức Phật như thế nào, phải huy động nguồn
vốn tri thức của Cư sĩ chuyên ngành như thế nào?
14-
Cuối cùng phải có cái nh́n vô
tướng và tránh bệnh h́nh thức. Hiện nay ảnh hưởng phong trào ‘xưng
danh’ ở trong nước, nhiều tăng ni dùng các danh hiệu như
“Thượng
Toạ, (Đại Đức) Tiến Sĩ. XYZ”. Đó là chưa kể các chức vụ dài ḍng
kệch cỡm. Sa Môn XYZ, Tỳ Kheo XZY nghe khiêm cung và nhẹ nhàng hơn.
Đi theo vết chân Phật, hành trang thế gian và ngă chấp của tăng ni
và cư sĩ càng ít càng tốt. Nói như Khổng Tử, ‘ta đi t́m lễ nhạc, mà
chỉ thấy toàn chiêng trống!’. Lễ nhạc nhằm di dưỡng tinh thần.
Chuông trống là dụng cụ kiếm ăn của đoàn sơn đông măi vơ.
Nói tóm lại,
sự chọn lựa đă rơ ràng. Thời đại đổi mới, tổ quốc đổi mới, xă hội
đổi mới, Phật tử đổi mới, do đó Phật giáo Việt Nam cũng phải đổi mới
hay sẽ bị đào thải. Đổi mới mà đúng hướng và bền vững th́ gọi là
tiến bộ, th́ gọi là chấn hưng. Chỉ cần hàng giáo phẩm các giáo hội
có ư chí đạo đức (moral will) và sức mạnh trí tuệ trên một nền tảng
tâm linh mà thôi.
V́ tâm thành và trăn trở
trong t́nh trạng khẩn cấp hiện nay, nếu chỗ nào chúng tôi không giữ
được ái ngữ, chúng tôi xin thành tâm sám hối.
|
|