|
7
luận điểm về kẻ sĩ trong học thuyết Khổng tử
Hoàng Văn Lân
Toàn bộ sự nghiệp
của Khổng tử (551-479 TCN) bao gồm chủ yếu ở hai phương diện sau đây:
Một là, xây dựng nên học thuyết mang tên ông. Hai là,
đào tạo nên những con người đảm đương việc truyền bá và thực hiện
học thuyết đó.
Việc xây dựng học thuyết đă được Khổng tử thực hiện suốt cả cuộc đời.
Hơn thế nữa, việc xây dựng học thuyết đó c̣n được Khổng tử thực hiện
đồng thời với việc đào tạo ra những con người mà Luận ngữ gọi
là kẻ sĩ, suốt đời gắn bó với học thuyết.
Để thực hiện sự nghiệp trên đây của ḿnh, trước hết Khổng tử đă phải
làm hai việc lớn đối với lịch sử văn minh phương Đông.
Thứ nhất, đưa việc đào tạo con người thoát ra khỏi sự toả
chiết của đẳng cấp quư tộc thị tộc để đi thẳng xuống quảng đại dân
chúng, điều mà sách xưa gọi là "trúc bạch hạ thứ dân - tre lụa dùng
để ghi văn tự - đi xuống thứ dân".
Thứ hai, xác lập sự tương đồng về nhân cách của con người,
xác định rằng chỉ cần là con người, là đồng loại, th́ có sự tương
đồng về nhân cách người.
Rồi xuất phát từ hai việc đó, Khổng tử đă sáng lập ra "tư học" [đối
lập với cái gọi là "học tại quan phủ" của quư tộc thị tộc từ thời
Tây Chu (1111-770 TCN)] để dạy mọi hạng người, không phân biệt xuất
thân của họ, lễ nhập học chỉ là một bó nem (Thuật nhi,
VII/7).
Ông dạy cho họ về những phẩm chất chỉ con người mới có nên
con người cần phải giữ lấy, về nhân cách con người, về giá trị làm
người, về cách làm người, và cuối cùng là biết tu thân để tạo ra cảm
hứng trách nhiệm của con người, khiến cho con người có mục đích sống
rơ ràng và biết sống hữu ích cho cuộc đời. Bên cạnh đó, ông c̣n dạy
cho họ "lục nghệ" để họ có thể tham gia vào việc trị nước dù là lĩnh
trách nhiệm lớn hay nhỏ. Ông cho rằng, muốn gánh vác việc đời th́
phải học và điều đáng lưu tâm thời nay là, ông chủ trương phải
học trước đă rồi mới làm chính sự được. Nếu dùng kẻ vô học cai
trị dân th́ theo Khổng tử, thế là "làm hại con người ta" (Tiên
tiến, XI/24).
Suốt đời ḿnh, Khổng tử đă đào tạo ra một lớp người đặc biệt trong
xă hội, dù tham gia chính sự hay không, đều được gọi chung là kẻ sĩ.
Thuở sinh thời Khổng tử, số lượng đó mới chỉ có khoảng ba ngàn người.
Khổng tử tạ thế năm 479 TCN nhưng học thuyết của ông vẫn được các
thế hệ học tṛ liên tục thừa truyền cho nhau đời này sang đời khác,
với quy mô ngày càng lớn, vượt qua các ngôn ngữ và các biên giới
quốc gia cổ đại. Nhờ thế, kẻ sĩ theo học thuyết Khổng tử vẫn cứ nối
tiếp nhau gánh vác việc đời, việc xây dựng xă hội, xây dựng đất nước
suốt thời văn minh nông nghiệp ở các quốc gia Đông Á (Trung Quốc,
Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam) cho đến khi các quốc gia này tiếp
xúc với làn sóng văn minh công nghiệp từ phương Tây ập tới.
Điều quan trọng đối với thế hệ chúng ta ngày nay là, lớp người gọi
là kẻ sĩ đó hiện nay không c̣n nữa, nhưng họ đă để lại những đặc
trưng, những dấu ấn không thể phai mờ, tạo nên tính cách và tâm thức
thăm thẳm của con người Việt Nam có học, của trí thức Việt Nam đích
thực.
Trước khi xét tới vấn đề đó, cần t́m hiểu đến nơi đến chốn xem sách
Luận ngữ đă xác định những ǵ về kẻ sĩ.
I. Luận điểm một: Bản chất xă hội của kẻ sĩ
Khổng tử yêu cầu kẻ sĩ sống phải có trách nhiệm với xă hội, với cuộc
đời, với đồng loại, với con người.
Dù xă hội này, cuộc đời này có thế nào đi chăng nữa th́ kẻ sĩ vẫn
phải tận lực nhập thế, nỗ lực dấn thân vào cuộc đời chứ không thể
lấy lư do "tránh đời ô trọc" để lẩn tránh trách nhiệm kẻ sĩ. Đoạn
đối thoại của 4 người (giữa Trường Thư và Kiệt Nịch đang cày ruộng
gieo hạt với Tử Lộ và giữa Tử Lộ với Khổng tử) được Luận ngữ
ghi lại ở chương 6 thiên Vi tử (XVIII/6) và Sử kư của Tư Mă Thiên
(145-85? TCN) ghi lại ở chương "Khổng tử thế gia", đă thể hiện quan
điểm nhân đạo sau đây trong học thuyết Khổng tử: con người không thể
tồn tại ngoài thế giới người, cũng tức là, con người không thể sống
ngoài xă hội của chính ḿnh. Thành ra con người và loài người không
thể có cách tồn tại nào khác ngoài cách tồn tại chung bên nhau để
sống và phát triển. Theo chúng tôi, lư thuyết về đạo Nhân của Khổng
tử đă lấy quan điểm đó làm tiền đề.
Trường Thư và Kiệt Nịch đang cặp đôi cày ruộng gieo hạt. Khổng tử
đi qua, sai Tử Lộ đến hỏi bến đ̣ ở đâu.
Trường Thư hỏi lại Tử Lộ: “Này, người đang cầm cương trên xe kia
là ai vậy?”
Tử Lộ đáp:
“Là thầy Khổng Khâu.”
“Có phải ông Khổng Khâu ở nước Lỗ không?”
“Đúng thế.”
Trường Thư nói: “Thế th́ tự ông ấy biết bến đ̣ rồi mà!”
Tử Lộ bèn quay sang hỏi Kiệt Nịch.
Kiệt Nịch hỏi lại: “Thế anh là ai vậy?”
“Là Trọng Do.”
“Có phải học tṛ ông Khổng Khâu nước Lỗ không?”
“Dạ, phải.”
Kiệt Nịch nói: “Khắp thiên hạ ly loạn, đâu đâu cũng là ḍng nước
đục cuồn cuộn. Thế th́ ông Khổng Khâu c̣n mong cùng người nào thay
đổi t́nh thế thiên hạ được? Vả lại, đi theo kẻ sĩ tránh người, sao
bằng đi theo kẻ sĩ tránh đời?”
Vừa nói vừa tiếp tục bừa phủ lên luống cày mới được gieo hạt.
Tử Lộ trở về xe, kể lại tất cả với Khổng tử.
Khổng tử bùi ngùi nói rằng:
“Chỉ có loài chim loài thú, con người mới không thể đánh bạn với
thôi. Ta không sống chung với người trong xă hội này th́ sống chung
với ai đây? Nếu thiên hạ yên trị rồi th́ Khâu này c̣n cần ǵ phải
tham dự vào việc thay đổi nữa!"
(Luận ngữ chính văn, Vi tử XVIII/6, bản chép tay xưa
truyền lại)
II. Luận điểm hai: Hai thang bậc phẩm giá của kẻ sĩ: kẻ sĩ đích
thực và kẻ sĩ hữu danh vô thực
Trong kẻ sĩ thường có một bộ phận làm quan, tham dự chính sự, gánh
vác việc đời, việc xă hội. H́nh như bộ phận này thường có thể theo
bậc thang danh vọng, lợi lộc mà đánh mất dần nhân cách kẻ sĩ của họ.
Đă đành. Vấn đề là ở chỗ: giữa kẻ sĩ thật và kẻ sĩ giả kia rất khó
phân biệt danh với thực và người đời
thường lầm lẫn kẻ sĩ danh tiếng hăo với kẻ sĩ chân chất đích thực.
Thế cho nên, trong cuộc giải đáp câu hỏi của học tṛ Tử Trương,
Khổng tử đă vạch ra lầm lẫn đó, và đă xác định rơ sự khác biệt này
thông qua việc xác định nội hàm khái niệm "đạt" (thấu triệt, thành
tựu) với khái niệm "văn"
[1]
("có tiếng tăm", "nổi tiếng").
Theo Khổng tử, gọi là "đạt" là để chỉ kẻ sĩ chân chất đích thực và
đây chính là kẻ sĩ đă thấu suốt và thành tựu về nhân cách, về trách
nhiệm kẻ sĩ, có ảnh hưởng đến cả xă hội.
Khổng tử nêu ra 4 chuẩn mực của kẻ sĩ được gọi là "đạt" (tức "đạt sĩ")
đó như sau:
Một là, chất trực, tức trung thực và ngay thẳng, khí khái,
không v́ bất cứ một tư lợi nào - dù nhỏ - mà so vai rụt cổ trước các
thế lực đối nghịch với lẽ phải và sự thật (thường nói gọn là cương
trực liêm khiết). Và đó là phẩm chất đầu tiên của kẻ sĩ.
Hai là, hiếu nghĩa, tức hào hiệp, khảng khái, không tiếc sức
ḿnh làm việc cho quốc gia xă hội, dám hy sinh chịu thiệt tḥi v́
chân lư.
Ba là, sát ngôn quan sắc, tức là đối với công việc và con
người cần có cách nh́n và tầm nh́n, mẫn cảm với thời thế.
Bốn là, cẩn thận trong giao tiếp với người, nhún ḿnh nhường
người nuôi lấy đức độ, lúc nào cũng lưu ư điều chỉnh bản thân mà
không cầu người ta phải biết đến ḿnh.
C̣n kẻ sĩ gọi là "văn", tức là kẻ sĩ có tiếng tăm th́ hoàn toàn khác
với kẻ sĩ gọi là "đạt".
Kẻ sĩ có tiếng tăm là kẻ chỉ thạo làm những việc h́nh thức, thường
khéo tạo ra cái vẻ nhân đức, thương dân nhưng việc làm th́ lại trái
với nhân đức, coi dân như phương tiện để thủ lợi, luôn luôn tự cho
ḿnh là phải, chẳng biết kiêng sợ ǵ, thường v́ cái danh bên ngoài
mà làm rối loạn cái thực bên trong. Cho nên gọi là "nổi tiếng", "có
tiếng tăm", nhưng không có thực chất, chỉ là danh suông v́ cái danh
không đi đôi với cái thực. Kẻ sĩ v́ danh và kẻ sĩ vụ lợi, tuy tên
gọi khác nhau nhưng cùng một bản chất trục lợi, bất chấp nhân nghĩa
liêm sỉ.
Tử Trương hỏi: “Kẻ sĩ như thế nào th́ gọi là đạt?”
Khổng tử hỏi lại: “Thế theo ư anh, đạt là thế nào?”
Tử Trương thưa: “Làm quan trong nước có tiếng tăm (nổi tiếng),
làm gia thần một đại phu cũng có tiếng tăm!”
Khổng tử bảo: “Như thế th́ gọi là ‘văn’ (có tiếng tăm) chứ không
phải là ‘đạt’ (thấu suốt, thành tựu). Được gọi là ‘đạt’ th́ phải:
-
Chất trực, tức
chính trực, ngay thẳng, khí khái;
-
Hiếu nghĩa,
tức ham làm điều nghĩa;
-
Sát ngôn quan
sắc (biết xét lời nói quan sát sắc mặt người khác), tức là có
cách nh́n và tầm nh́n đối với người và công việc, mẫn cảm với
thời thế;
-
Sự dĩ há nhân,
tức biết suy nghĩ để nhún ḿnh nhường người, điều chỉnh bản thân
để nuôi lấy đức độ.
Được như vậy, làm
quan một nước sẽ ‘đạt’, làm gia thần một đại phu sẽ ‘đạt’.
C̣n người có tiếng tăm, chẳng qua chỉ là kẻ ngoài mặt ra vẻ giữ
nhân đức mà hành động trái nhân đức, nhưng cách sư xử không để ai
nghi ngờ. Như vậy, làm quan một nước sẽ có tiếng tăm (làm quan), làm
gia thần một đại phu sẽ có tiếng tăm (gia thần)".
(Luận ngữ chính văn, Nhan Uyên, XII/19, bản chép tay xưa
truyền lại)
III.
Luận điểm ba: Phân biệt ba bậc sĩ
Chương 20 thiên Tử Lộ (XIII/20) sách Luận ngữ đă ghi lại gần
như đầy đủ một cuộc đối thoại dài giữa Khổng tử và Tử Cống, học tṛ
nổi tiếng ở khoa ngôn ngữ ngoại giao (Tiên tiến, XII/2). Chủ đề cuộc
đối thoại là câu hỏi sau đây của Tử Cống: "Phải làm thế nào mới đáng
được gọi là kẻ sĩ?"
Toàn bộ nội dung giải đáp của Khổng tử đă cho ta biết trong quan
niệm của Khổng tử, kẻ sĩ có thể bao gồm ba bậc.
Bậc một: Tiêu chuẩn đầu tiên của kẻ sĩ bậc một này là biết
nhục, biết xấu hổ, hiểu rơ rằng không biết nhục không phải là người.
Do đó mà nỗ lực giữ ḿnh có liêm sỉ. Họ sống thanh cao. Những ai
được cử đi sứ trong thiên hạ đều không làm nhục đến quốc thể, đến
danh dự đại diện cho một nước.
Bậc hai: Môi trường sống của kẻ sĩ thời văn minh nông nghiệp
là gia đ́nh, họ hàng, quê hương, làng nước. Cho nên, xuống đến kẻ sĩ
bậc hai, phải có phẩm chất sau: hiếu thảo với gia đ́nh họ hàng, hoà
mục với xóm làng, biết giữ tín nghĩa và đối xử khoan dung với mọi
người.
Bậc ba: Tiêu chuẩn của bậc ba này được xét ở lời nói và việc
làm. Kẻ sĩ bậc này nhất thiết phải: lời nói đáng tin cậy, việc làm
có hiệu quả. Được như thế th́ tuy bụng dạ hẹp ḥi cố chấp đi chăng
nữa cũng vẫn đáng xếp bậc ba của kẻ sĩ.
Cuối cùng, Tử Cống hỏi về những người đang làm chính sự ở nước Lỗ
thời bấy giờ. Tâm trạng Khổng tử không vui và ông thẳng thắn đánh
giá với học tṛ của ḿnh rằng, những người ấy tầm thường nhỏ bé như
cái đấu, cái sao (dụng cụ đo lường ở nước Lỗ thời Xuân Thu), họ làm
quan chỉ cốt để thủ lợi, thử hỏi trong họ có mấy ai để tâm đến quốc
gia đại sự, có mấy ai lo đến quốc kế dân sinh, có mấy ai lo cho dân.
Tử Cống hỏi: “Phải như thế nào mới đáng được gọi là kẻ sĩ?”
Khổng tử trả lời rằng: “Giữ ḿnh có liêm sỉ, đi sứ bốn phương
không để nhục mệnh vua. Như vậy có thể gọi là kẻ sĩ.”
Tử Cống lại hỏi: “Dám hỏi bậc dưới đó phải ra sao?”
Trả lời: “Họ hàng khen là người hiếu, xóm làng khen là người đễ.”
Tử Cống lại hỏi: “Dám hỏi bậc dưới nữa phải ra sao?”
Trả lời: “Lời nói đáng tin cậy, làm việc có hiệu quả; tuy rằng
bụng dạ hẹp ḥi cố chấp đi chăng nữa cũng vẫn đáng xếp bậc ba kế đó.”
Tử Cống lại hỏi: “Những người làm quan đời nay (ở nước Lỗ) th́
sao?”
Khổng tử nói: “Ôi! Hạng người nhỏ mọn như cái đấu, cái sao ấy có
đáng kể ǵ!"
(Luận ngữ chính văn, Tử Lộ XII/20, bản chép tay xưa truyền
lại)
|
 |
|
Nguyên văn
chữ Hán của các luận điểm I, II và III chụp lại theo một bản
Luận ngữ chép tay xưa truyền lại |
IV. Luận điểm IV: Phẩm chất đặc trưng cho kẻ sĩ xưa nay
Đến đây, xuất hiện vấn đề quan trọng bậc nhất sau đây: Trách nhiệm
cơ bản và chung thân suốt đời của kẻ sĩ là ǵ? Nói cách khác, kẻ sĩ
sở dĩ là kẻ sĩ, là do đâu?
Vấn đề này đă được Tăng tử (505 TCN-?) xác định và được ghi lại ở
chương VII thiên Thái bá, sách Luận ngữ.
Điều ta chú ư trước tiên là, trước khi đề xuất trách nhiệm cơ bản
của kẻ sĩ th́ Tăng tử đă xác định trước một cách tiên quyết phẩm
chất của kẻ sĩ để có thể đảm đương được trách nhiệm ấy. Thế nhưng
phẩm chất này lại được Tăng tử nêu lên bằng một phán đoán khẳng định
biểu đạt bằng hai lần phủ định. Như thế là để tăng cao hẳn mức độ
khẳng định: “Kẻ sĩ không thể không nuôi chí lớn và nghị lực lớn”.
Thế tại sao kẻ sĩ lại phải có phẩm chất “nuôi chí lớn và nghị lực
lớn” ấy trước đă? Tăng tử trả lời: “Là bởi v́, gánh trên vai th́
nặng mà đường th́ c̣n xa”.
Sau khi khẳng định như thế rồi, Tăng tử mới đề xuất rơ ràng trách
nhiệm của kẻ sĩ gắn liền với phẩm chất tiên quyết trên đây của họ.
Tăng tử nói: "Lấy điều nhân làm trách nhiệm của
ḿnh, chẳng là nặng hay sao? Thực hiện điều nhân cho
đến chết mới thôi, như vậy th́ đường đi chẳng c̣n xa sao"?
Như vậy thực hiện điều nhân là phẩm chất đặc trưng cho kẻ sĩ.
Do đó, để hiểu kẻ sĩ, chúng ta không thể không xét kỹ vấn đề:
Nhân mà kẻ sĩ "tự lấy làm trách nhiệm của ḿnh" (nhân dĩ
vi kỷ nhiệm) có nội dung như thế nào?
Toàn bộ sách Luận ngữ có 12.700 chữ tượng h́nh, trong đó chữ
nhân được ghi 105 lần. Thế nhưng Khổng tử và các môn đệ lại không hề
có một định nghĩa tổng quát nào về chữ nhân cả. Khổng tử và môn đệ
chỉ cho biết nghĩa chữ nhân trong từng trường hợp cụ thể, có đối
tượng cụ thể; hơn nữa, người đương thời cũng như hậu thế cũng chỉ
hiểu chữ nhân của Khổng tử trong từng trường hợp cụ thể như thế. Ví
dụ, một trong nhiều định nghĩa của chữ nhân - "nhân là ḷng yêu
người" - vốn là lấy ra từ một cuộc đối thoại giữa Khổng tử với
Phàn Tŕ. "Phàn Tŕ hỏi về nhân. Khổng Tử đáp: Yêu người, ấy là
nhân. Hỏi về trí. Đáp: Phân biệt được người, ấy là trí" (Nhan
Uyên/XII/22). Đối với một môn đệ nổi tiếng về đức hạnh là Nhan Uyên
th́ Khổng tử giải thích nhân như sau: "Chế thắng tư dục (khắc
kỷ) mà trở về lễ, th́ là nhân… Làm điều nhân là do ḿnh, chứ đâu có
do người?" (Nhan Uyên, XII/1). Với một môn đệ khác là Trọng Cung
th́ Khổng tử lại có cách giải thích nhân khác nữa, trong đó có một
mệnh đề đă trở thành danh ngôn trong tinh hoa tư tưởng phương Đông:
"Điều ǵ ḿnh không muốn th́ đừng làm cho người" (Nhan Uyên
XII/2). Trong số hàng ngàn môn đệ, Khổng tử chỉ khen một ḿnh Nhan
Hồi là có thể giữ được đức nhân trong liền 3 tháng. C̣n những người
khác, may lắm được một ngày, một tháng (Ung dă VI/5). Khi Mạnh Vơ Bá
(Công dă tràng V/7) hỏi Khổng tử rằng Tử Lộ, Nhiệm Cầu, Công Tây
Xích có phải là người nhân không, Khổng tử đều khen họ mỗi người có
một tài năng riêng, như Tử Lộ giỏi về vơ bị, Nhiệm Cầu về trị nước,
Công Tây Xích về ngoại giao. Nhưng c̣n vấn đề họ "có phải là người
nhân không" th́, tuy khen như thế nhưng Khổng tử đều nhất mực đáp
"c̣n nhân hay không th́ không biết".
Sau khi Khổng tử qua đời (năm 471 TCN), học thuyết mang tên ông vẫn
không ngừng phát triển. Các thế hệ truyền thừa đă mong muốn làm cho
khái niệm nhân vừa mang được nghĩa gốc từ thời Khổng tử, lại
vừa thích nghi được với thời đại và thời thế của ḿnh. Giải tŕnh và
tổng kết sự phát triển đó là rất cần thiết cho việc tiếp nhận và
phát huy tinh hoa tư tưởng phương Đông. Trong phạm vi có hạn ở đây,
chúng tôi chỉ xin giải tŕnh cách giải thích nội dung điều nhân
và phương pháp thực hiện điều nhân của ba nhà văn hoá Việt Nam
trong thế kỷ XX, tŕnh bày theo thứ tự năm sinh: Phan Bội Châu
(1867-1940), Hồ Chí Minh (1890-1969), Nguyễn Khắc Viện (1913-1993).
Bị đưa về an trí ở Huế từ năm 1926, nhưng Phan Bội Châu vẫn liên tục,
trong điều kiện khó khăn của ḿnh, làm việc cho quê hương đất nước
và cho hậu thế. Một trong những việc đó là nghiên cứu triết học và
tư tưởng phương Đông. Từ mùa Xuân năm Kỷ Tỵ (1929), Phan Bội Châu đă
viết một tác phẩm đồ sộ nhan đề Khổng học đăng (Ngọn đèn
Khổng học). Mục đích cuốn sách đă được Phan giải tŕnh hết sức rơ
ràng ở "Phàm lệ" như sau: "1. Mục đích người làm bản sách này
là cốt phù tŕ nhân đạo; nếu ai không để ḷng vào nhân đạo thời xin
chớ đọc. 2. Lại cốt phát huy chân lư để duy tŕ nhân tâm; bởi
v́ nhân tâm c̣n xấu thời thế đạo chẳng bao giờ tốt. Vậy nếu ai đă
mất hết nhân tâm thời chắc không muốn đọc bản sách này, mà tác giả
cũng xin chớ đọc. 3. Tác giả lại muốn cho người ta biết học
cũ vẫn không phải trần hủ, mà học mới vẫn không phải phù hoa. Nếu
học cho tinh thần thời ví như làm nhà: Học cũ là nền tảng, mà học
mới tức là tài liệu; hai bên vẫn có thể giùm cho nhau làm nên một
ṭa nhà hoa mỹ. Chẳng bao giờ không tài liệu mà làm nên nhà; và cần
thứ nhất là chẳng bao giờ không nền tảng mà dựng được nhà. Tác giả
viết bản sách này là muốn điều hoà học cũ và học mới; hai bên tương
thành cùng nhau, mà quyết không tương phản. Nếu ai chưa để mắt vào
cuốn sách này mà trước đă có một ư kiến sẵn, hoặc bài bác học cũ,
hoặc công kích học mới, hễ có ư kiến ấy th́ xin chớ đọc. 4.
Tác giả nói học cũ là nói chân triết lư của Á châu từ thuở xưa, nói
học mới là chỉ nói khoa học tối tân thiệt có ích với nhân sinh của
thế giới bây giờ.
Cái danh từ học cũ chẳng phải là cái để đánh cắp áo mũ cân đai đâu!
Cái danh từ học mới chẳng phải là cái mồi để hót gạt mề đay kim
khánh đâu! Vậy nên tác giả xin thề trước với ba hạng người:
-
Hạng người chỉ
tranh ngôi thứ xôi thịt trong đ́nh làng;
-
Hạng người
muốn loè loẹt khoe khoang, lấy om cơm túi bạc làm mồi hạnh phúc;
-
Hạng người xu
quyền phụ thế, lấy đồng bào chủng tộc làm mồi vinh thân.
Ba hạng người ấy, tác giả xin chớ đọc đến
quyển sách này, mà tác giả cũng chắc trước rằng họ nhất định không
thèm đọc. Bởi v́ họ nhận định một cái giá trị rất cao, là muông chim,
là lục súc, là ma quỷ, yêu tinh, thời bản sách này nói nhân đạo, họ
đọc làm ǵ?
… Nếu ai chưa đọc quyển sách này mà trước đă có một ư kiến sẵn: định
làm nô lệ cho người đời xưa, hay định làm nô lệ cho người đời nay,
thời xin chớ đọc"
[2]
.
Trong việc kẻ sĩ thực hiện đức nhân, Phan phân biệt ra phạm
vi xă hội, tức phạm vi "lớn như cứu đồng bào, thương ṇi giống…",
và phạm vi cá nhân công dân, tức phạm vi nhỏ "thời lo làm sao cho
lương tâm ḿnh khỏi hư hỏng"; và nếu lương tâm ḿnh khỏi hư hỏng
th́ "cho dù chưa hoàn toàn được nhân nhưng cũng chắc không đến
nỗi làm việc ǵ xấu".
[3]
Điều đáng chú ư ở đây là, Phan xác định rơ đức nhân hoàn toàn
xa lạ với cái mà thời chúng ta gọi là chủ nghĩa cá nhân, c̣n Phan
th́ dùng thuật ngữ của Luận ngữ mà gọi là “vô ngă”. Phan
khẳng định như sau: "Ngă nghĩa là ḿnh ta. Hễ người ta làm việc ǵ,
vô luận nhỏ hay lớn, đối đăi với người thân hay sơ, nhưng bệnh căn
sở dĩ đến sai lầm là v́ chữ "ngă". Ta chỉ biết có ta, hoặc là v́ cái
lợi ích cho ta, hoặc là thuận ư kiến của ta; trừ ngoài cái "ta" ra,
hoàn toàn không nghĩ tới ǵ nữa, tất nhiên trái với nhân t́nh, mất
hẳn thiên lư, thật ra là một cái bệnh thống rất to…"
[4]
Đối với việc thực hiện điều nhân, quan điểm của Phan rất rơ
ràng quyết liệt: "Nhân chỉ là cái ḷng tốt của người, và chính là
cái chân lư để làm người vậy. Hễ người đă bất nhân, tất là không
phải người, người với cầm thú, chỉ khác nhau nhân với bất nhân mà
thôi"
[5]
.
Trong cuốn sách nhan đề Sửa đổi lối làm việc (Nhà xuất bản Sự
thật ấn hành), với bút danh XYZ, Hồ Chí Minh đă vận dụng tinh hoa tư
tưởng phương Đông nằm trong học thuyết Khổng tử vào việc huấn luyện,
rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ.
Ở đây, vấn đề mà Hồ Chí Minh đặt ra trước tiên là vấn đề "chí
công vô tư": “Người đảng viên, người cán bộ muốn trở nên người
cách mạng chân chính, không có ǵ là khó cả. Điều đó hoàn toàn do
ḷng ḿnh mà ra. Ḷng ḿnh chỉ biết v́ Đảng, v́ Tổ quốc, v́ đồng bào
th́ ḿnh sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Ḿnh đă chí công vô tư th́
khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít mà những tính tốt như sau ngày càng
thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: nhân, nghĩa, trí,
dũng, liêm.
Nhân là thật thà thương yêu, hết ḷng giúp đỡ đồng chí và đồng
bào. V́ thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại
đến Đảng, đến nhân dân. V́ thế mà sẵn ḷng chịu cực khổ trước mọi
người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ, v́ thế mà không ham giàu sang,
không sợ cực khổ, không sợ oai quyền. Những người đă không ham,
không sợ ǵ th́ việc ǵ là phải họ đều làm được.
… Liêm là không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung
sướng. Không ham người tâng bốc ḿnh. V́ vậy mà quang minh chính đại
không bao giờ hủ hoá. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham
tiến bộ.
Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ
cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại…" (XYZ, Sửa đổi lối
làm việc, Nhà xuất bản Sự thật, in lần thứ nhất, tr. 32)
Đức nhân và việc thực hiện đức nhân vốn được coi như phẩm chất cơ
bản, đặc trưng cho kẻ sĩ gánh nặng đường xa - cách chúng ta 25 thế
kỷ, đă gia nhập vào đạo đức cách mạng thời hiện đại của chúng ta một
cách tự nhiên như vậy.
Tháng 10/1962, Tạp chí La Pensée của giới trí thức tinh hoa
của Pháp đă công bố một luận văn của Nguyễn Khắc Viện, nhan đề "Confucianisme
et Marxisme au Vietnam" (Học thuyết Khổng tử và học thuyết Mác ở
Việt Nam). Lần đầu tiên nội dung của chữ nhân cũng như học
thuyết Khổng tử ở Việt Nam hàng ngàn năm qua đă được Nguyễn Khắc
Viện phân tích giải tŕnh sâu sắc và có sức thuyết phục trên một tạp
chí lớn của Pháp và cũng là của châu Âu. Ông nhận định: "Khổng tử là
một trong những nhà tư tưởng đầu tiên của nhân loại đă tập trung mọi
sự chú ư của con người vào những vấn đề thuần tuư con người. Ông là
nhà nhân văn chủ nghĩa đầu tiên, theo đúng nghĩa của nó. Đọc lại
sách Luận ngữ, ta thấy hầu hết những câu chuyện của ông đều
xoay quanh chữ nhân… Định cho chữ nhân một nội dung cụ thể
rất khó, v́ đó là đức tính tối cao, khiến con người trở thành "Con
Người" nhất. Nếu cần phải định nghĩa nội dung chủ yếu th́ có thể nêu
lên bốn điểm:
-
Rộng lượng với
mọi người. Điều ḿnh không muốn th́ đừng làm cho người (Kỷ sở
bất dục vật thi ư nhân);
-
Hiểu biết để
có một thái độ đúng trong mọi hoàn cảnh;
-
Dũng cảm nhận
trách nhiệm;
-
Giữ ḿnh đúng
lễ. Nói tóm lại là có tính người và t́nh người”.
Trong vấn đề học
thuyết Mác đến Việt
Nam, Nguyễn Khắc Viện nhận định: "Chủ nghĩa
Mác đến Việt Nam không phải với tư cách một học thuyết giống như các
học thuyết khác, mà với tư cách một công cụ giải phóng… Nó kế tục
học thuyết Khổng tử để đem lại cho đất nước một học thuyết chính trị
và xă hội, giúp cho đất nước giải quyết những vấn đề thực tiễn;
nó vấp phải học thuyết Khổng tử, nó gặp gỡ học thuyết Khổng tử trong
sự phát triển lịch sử, chứ không phải gặp trong những cuộc tranh
luận kinh viện… Từ nhiều thế kỷ trước, học thuyết Khổng tử đă quen
hướng tư tưởng người ta vào những việc của cuộc đời, ở đây học
thuyết Mác không gặp khó khăn như khi du nhập vào những xă hội Hồi
giáo hay Thiên chúa giáo… Chủ nghĩa Mác không làm cho các Nho sỹ bị
ngỡ ngàng khi tập trung suy nghĩ về các vấn đề chính trị và xă hội,
học thuyết Khổng tử cũng có cùng mục tiêu suy nghĩ tương tự".
22 năm sau (tức năm 1984), khi bổ sung luận văn 1962
[6]
, Nguyễn Khắc Viện đă đưa ra một cảnh báo, thời đó c̣n ít được chú ư
như sau:"Nhưng cũng như Nho giáo, lúc Đảng đă nắm chính quyền,
th́ nguy cơ quan liêu hoá của chủ nghĩa Mác, luôn luôn đe doạ; và
một chủ nghĩa Mác quan liêu hoá về nhiều mặt rất giống với Nho
giáo".
Tới tháng 6/1993, trước khi qua đời, Nguyễn Khắc Viện c̣n đưa ra một
đối chiếu học thuyết Khổng tử với học thuyết Mác: "Cái gốc duy lư
của đạo Nho không đối lập với khoa học, với học thuyết Mác. Cơ sở
nhân bản, lấy con người, lấy cuộc sống xă hội làm gốc, đúng vậy.
Phân tích xă hội để hiểu rơ lịch sử, xác định đường lối th́ chủ
nghĩa Mác hơn hẳn, nhưng Mác trong đạo lư không được nổi bật và cụ
thể như trong học thuyết Nho giáo. Có thể nói không có học thuyết
nào, chủ nghĩa nào đặt vấn đề "Xử Thế" rơ ràng và đầy đủ như trong
học thuyết Nho giáo này". Cuối cùng, Nguyễn Khắc Viện đề xuất nội
dung của đức nhân và phương pháp thực hiện điều nhân như sau:
"Thế nào là nhân? Cả đạo Nho xoay quanh một chữ Nhân. Nhân là tính
người, khác với thú vật. Nhân là t́nh người, nối kết người này với
người khác. Có sự kiềm chế, khắc kỷ, khép ḿnh vào lễ nghĩa mới nên
người. Có mở rộng tầm nh́n, lấy "văn" mà tô đẹp mới thành người. Có
gắn bó với người khác mới thật là người. Có thấu hiểu bản thân, tri
thiên mệnh, mới là con người trưởng thành".
Sau khi nhận rơ nội dung vừa sâu xa vừa rộng lớn, vừa giải tŕnh sơ
bộ trên đây của chữ nhân, chúng ta mới có thể hiểu được cái
gánh nặng trên đường c̣n xa của kẻ sĩ. Và khi đă hiểu được vấn đề đó
chúng ta mới có thể hiểu v́ sao học thuyết Khổng tử đ̣i hỏi kẻ sĩ
phải có đặc trưng cơ bản tạo thành kẻ sĩ là nuôi chí lớn và nghị lực
lớn. Ở đây, điều ngày nay chúng ta có thể ngạc nhiên là, tất cả nội
dung ấy, ư tưởng ấy đă được Tăng tử xác lập chỉ bằng 29 chữ tượng
h́nh, có thể lạm dịch như sau:
Kẻ sĩ không thể không có chí lớn và nghị lực lớn. Là bởi v́, gánh
trên vai th́ nặng mà đường th́ c̣n xa.
Lấy điều nhân làm trách nhiệm của ḿnh, thế chẳng là nặng hay
sao?
Thực hiện điều nhân đến chết mới thôi, thế th́ đường chẳng c̣n xa
hay sao?
(Luận ngữ chính văn, Thái Bá VIII/8, bản chép tay xưa truyền
lại)
V. Luận điểm V: Nhân của thánh nhân và nhân của kẻ sĩ
Trong học thuyết Khổng tử, nhân vừa là lư tưởng đạo đức nhưng
lại vừa là lư tưởng xă hội. Bởi v́, cứu cánh mang tính chất thánh
thiện của nhân là mưu cầu "điều tốt lành cho khắp dân
chúng, giúp rập mọi người có cuộc sống ấm no" (bác thí ư dân nhi
năng tế chúng). Cho nên khi (Ung Dă, VI/28) Tử Cống hỏi: "Giá như
có một người đưa lại nhiều điều tốt lành cho khắp dân chúng, lại có
thể giúp rập mọi người có cuộc sống ấm no, th́ thế nào (hà như?)? Có
thể gọi là nhân được không? (Khả vị nhân hồ?) th́ Khổng tử
trả lời ngay, rằng đó không c̣n thuộc chuyện nhân mà thuộc chuyện
thánh rồi. Và phải gọi người như thế là thánh mới đúng. Rồi Khổng tử
c̣n nói rơ thêm rằng, dù là Nghiêu Thuấn đi nữa, cũng c̣n lo chưa
làm nổi việc của thánh nhân đó.
Thánh c̣n chưa làm được, huống hồ kẻ sĩ không phải là thánh. Rất có
thể v́ thế mà khi tiếp tục đối thoại với Tử Cống - cao đệ ở khoa
ngôn ngữ (Tiên tiến, XI/2) - Khổng tử chỉ giải tŕnh cách làm điều
nhân (nhân chi phương) trong cảnh giới của kẻ sĩ như
sau: Phàm kẻ sĩ có nhân, phải dẹp ḷng vị kỷ, loại bỏ giới hạn tách
biệt người với ḿnh: hễ ḿnh muốn tự lập được th́ cũng thành lập cho
người (kỷ dục lập nhi lập nhân), hễ ḿnh muốn được thành đạt th́ lo
cho người cũng được thành đạt (kỷ dục đạt nhi đạt nhân). Hăy lấy
điều gần ngay trong ḷng ḿnh mà suy đạc đến ḷng người, coi ḷng
người cũng như ḷng ḿnh, xem người cũng như ḿnh, lấy cách đối đăi
ḿnh mà đối đăi với người (năng cận thủ thí). Thế mới gọi là cách
làm nhân của kẻ sĩ vậy (khả vị nhân chi phương giă dĩ).
Như vậy, quan điểm của Khổng tử rơ ràng là: làm điều nhân để trở
thành thánh nhân là một điều trong thực tế chỉ là ảo tưởng, nhưng để
trở thành người có đức nhân th́ kẻ sĩ ai cũng có thể làm được, chỉ
cần đạt ba điều kiện sau:
Một là, ḿnh đă lập được sự nghiệp th́ cũng muốn người khác
lập nên sự nghiệp. Con người ta thường mắc phải bệnh hại người để
lợi ḿnh: muốn có địa vị, chỗ đứng trong xă hội lại thường bài xích,
lật đổ người khác và thông thường là "ố nhân thắng kỷ" (ghét người
khác hơn ḿnh).
Hai là, ḿnh muốn thành đạt trong cuộc đời, cũng muốn người
khác thành đạt. Con người thường mắc bệnh đố kỵ, người có th́ ghen
ghét, người không có th́ chê bai, chỉ biết vui mừng khi thấy ḿnh
hưng thịnh mà không hề vui mừng khi thấy người hưng thịnh. Do đó xảy
ra t́nh trạng đố kỵ lẫn nhau không bao giờ dứt giữa người với người
trong cùng một cộng đồng, dù chỉ có một nhúm người đi nữa.
Ba là, làm bất cứ việc ǵ cũng biết lấy ḿnh để đối chiếu,
lấy ḿnh làm thử để hiểu thấu ư muốn của người. Một người đối với
mọi người, nhân hay bất nhân, có thể nh́n rất rơ từ bản thân ḿnh.
Cách làm điều nhân của kẻ sĩ được Khổng tử đề xuất trong cuộc đối
thoại giữa ông với Tử Cống đă được Luận ngữ ghi chép lại (Ung
dă/VI/28), có thể lạm dịch như sau:
Tử Cống hỏi: "Giá như có người đưa lại nhiều
điều tốt lành cho khắp dân chúng, lại có thể giúp rập mọi người có
cuộc sống ấm no, th́ thế nào? Có thể gọi là người nhân được không?"
Khổng Tử đáp rằng: "Sao lại có chuyện nhân ở đây (hà sự ư
nhân)? (Đó là chuyện thánh chứ). Tất phải gọi người ấy là thánh mới
đúng. Đến như Nghiêu Thuấn cũng c̣n lo không làm nổi việc đó của
thánh nhân nữa là!
C̣n như người nhân, ḿnh muốn gây dựng điều ǵ cho ḿnh th́ cũng
gây dựng cho người điều đó, ḿnh muốn thành đạt th́ cũng giúp người
thành đạt; biết lấy bản thân làm mục tiêu so sánh để hiểu thấu ḷng
người, khá gọi đó là phương pháp để thực hiện điều nhân vậy."
(Luận ngữ chính văn, Ung dă/VI/28, bản chép tay xưa truyền
lại)
VI. Luận điểm VI: Nội dung nhân trên đường chính trị của kẻ sĩ
Một vấn đề xưa cũng như nay thường băn khoăn là kẻ sĩ thường phải
làm công việc mà Luận ngữ (Tử Lộ/XII/20) gọi là “ṭng chính”
(tức làm chính trị, làm quan), thời nay gọi là làm cán bộ, làm công
chức, làm chính trị. Và một khi đă nhô lên khỏi mặt bằng của một
cộng đồng cư dân nào đó (một tổ dân phố, một xóm, một làng cho đến
cả một quốc gia) th́ họ thường thay ḷng đổi dạ đối với cộng đồng
cũ, mới. Và việc thực hiện điều nhân "gánh nặng đường xa" được xác
định ở luận điểm IV nói trên ngày càng trở nên xa lạ với đám kẻ sĩ
này. Theo Phan Bội Châu (1867-1940), trong hàng ngàn kẻ sĩ theo học
Khổng tử, người đầu tiên đề xuất việc đó chính là Tử Trương. Trong
cuốn Khổng học đăng (Ngọn đèn Khổng học), Phan Bội Châu đă
giải tŕnh trường hợp này như sau: Tử Trương có ư phân vân "có
thể đem chữ nhân làm ở trên đường chính trị mà không tổn hại ǵ tới
đức nhân không? - Là trong ư Tử Trương nghi ngờ chính trị không làm
được nhân". Khi trả lời Tử Trương, Khổng tử cho rằng "nếu
điều hành việc thiên hạ mà biết làm được năm đức cho thiên hạ th́ đó
chính là nhân”. Tử Trương xin Khổng tử cho biết năm đức ấy,
Khổng tử đáp:
-
Cung
(nghĩa là tự ḿnh có yêu cầu đối với ḿnh, từ ư thức tư tưởng
trong nội tâm đến hành vi biểu hiện ra ngoài đều thực sự nghiêm
túc, biết tự ḿnh ràng buộc ḿnh, tự ḿnh quản lư lấy ḿnh.
Làm một người điều hành xă hội, biết ràng buộc ḿnh, quản lư
ḿnh là mấu chốt thành công.
-
Khoan
(tức là khoan dung, độ lượng, có tấm ḷng rộng mở đối với mọi
người).
-
Tín
(có ḷng tự tin và có ḷng tin ở cấp dưới, tin quần chúng, luôn
luôn giữ tín, nói th́ phải làm, không nói một đằng làm một nẻo,
không lừa dối người dân để trục lợi).
-
Mẫn
(mẫn cán siêng năng, gặp việc có phản ứng nhanh lẹ, làm việc có
hiệu quả thực sự).
-
Huệ
(nghĩa là biết đưa lại lợi ích cho nhân dân, có t́nh cảm thật sự
với nhân dân, không tráo trở với dân, cùng dân mưu sự nghiệp chứ
không t́m cách dùng sức dân, tiền thuế của dân để mưu đồ giàu
sang trên sự nghèo nàn của dân).
Sau khi đề xuất
năm đức trên, Khổng tử giải thích tác dụng của từng đức đối với
người làm chính trị như sau: "Cung th́ không khinh người và không bị
người khinh. Khoan th́ được ḷng người. Tín th́ được người ta tín
nhiệm. Mẫn th́ nên công. Huệ th́ dễ điều khiển người".
Xét như vậy th́, xưa nay trong kẻ sĩ “gánh nặng đường xa” có hai
loại người làm chính trị, loại người làm chính trị có nhân và loại
người làm chính trị bất nhân. Loại thứ nhất là loại “xử (lư) việc
thiên hạ mà biết làm được năm đức (cung, khoan, tín, mẫn, huệ) cho
thiên hạ”. C̣n loại thứ hai th́ làm ngược lại năm đức ấy.
Luận điểm của Khổng tử về nội dung của đức nhân trên đường chính trị
hay nói cách khác đức nhân của kẻ sĩ trong công cuộc điều hành việc
thiên hạ đă được Luận ngữ ghi lại ở chương 6, Thiên Dương hoá,
có thể lạm dịch như sau:
Tử Trương hỏi Khổng tử về đạo nhân
Khổng tử đáp: "Nếu làm được năm đức trong thiên hạ th́ tức là
nhân rồi vậy"
Tử Trương xin được hỏi rơ năm đức ấy
Khổng Tử đáp: "Cung, khoan, tín, mẫn, huệ
-
Cung th́ không
khinh người và cũng không bị người khinh
-
Khoan th́ liên
kết được ḷng người
-
Tín th́ được
người ta tín nhiệm
-
Mẫn th́ nên
công
-
Huệ th́ dễ
điều khiển được người"
(Luận ngữ
chính văn, Dương hoá XVII/6 bản chép tay xưa truyền lại)
VII.
Luận điểm VII: Lư thuyết "sát thân thành nhân" của kẻ sĩ
Xét tổng quát, đời sống trọn vẹn đầy đủ của một con người, thường có
thể bao gồm 4 đời sống bộ phận hợp thành như sau: 1. Đời sống vật
chất (bao gồm cả thân ḿnh, gia đ́nh, họ hàng…) 2. Đời sống tinh
thần; 3. Đời sống luân lư; và 4. Đời sống tâm linh.
Cùng nằm trong một con người và chịu sự chi phối của cùng một "vốn
xă hội"
[7]
nhưng 4 đời sống bộ phận ấy lại có thể không ăn khớp với nhau, thậm
chí so le, trái ngược nhau để rút cục tạo nên khó khăn đau khổ cho
con người.
Hơn 25 thế kỷ trước, trường đào tạo kẻ sĩ do Khổng tử sáng lập đă
chính thức đặt ra vấn đề nan giải xưa nay đó trên b́nh diện lư
thuyết. Trung tâm của vấn đề phải giải quyết là sự xung đột giữa
việc thực thi đức nhân (đời sống tinh thần, đời sống luân lư...) và
sinh mạng kẻ sĩ (đời sống vật chất…) tới mức buộc kẻ sĩ phải lựa
chọn lấy một trong hai đời sống bộ phận đó.
Theo Thiên Vệ linh công của Luận ngữ th́ lư thuyết giải quyết
của Khổng tử là như sau:
Kẻ sĩ nuôi chí lớn (chí sĩ) chỉ làm điều ḿnh cho là phải, bậc chí
sĩ có đức nhân (chí sĩ nhân nhân) thường coi việc nghĩa nặng hơn sự
sống, “nghĩa nặng hơn người”. Đă là kẻ sĩ, chỉ có thể giết được chứ
không làm nhục được (“sĩ khả lục bất khả nhục”). Đời sống tinh
thần, đời sống luân lư... tồn tại lâu dài hơn sinh mạng (thuộc
bộ phận đời sống vật chất) của kẻ sĩ. V́ thế kẻ sĩ bao giờ
cũng nuôi chí lớn nghị lực lớn để thực hiện đức nhân như một “gánh
nặng đường xa” mà kẻ sĩ đă nhận trách nhiệm suốt đời (luận điểm IV).
Kẻ sĩ chỉ yên tâm giă biệt thế giới này khi đă hoàn thành trách
nhiệm suốt đời v́ đức nhân đó. Cho nên, có lúc bậc chí sĩ có đức
nhân vui vẻ xả thân ḿnh để hoàn thành lư tưởng nhân của ḿnh (sát
thân thành nhân).
Lư thuyết đó đă được xác lập bằng 18 chữ tượng h́nh, có thể diễn đạt
ra tiếng Việt như sau:
“Bậc chí sĩ có đức nhân không cầu mong được sống để làm hại điều
nhân, mà có khi c̣n xả thân để giữ trọn đạo nhân".
(Luận ngữ chính văn, Vệ binh công/XV/8, bản chép tay xưa
truyền lại)
|
 |
|
Nguyên văn
chữ Hán của các luận điểm IV, V, VI và VII chụp lại theo một
bản Luận ngữ chép tay xưa truyền lại |
*
Tới đây, chúng ta đă theo dơi đầy đủ bảy luận điểm cơ bản trong vấn
đề kẻ sĩ của sách Luận ngữ. Nói cơ bản, v́ ngoài bảy luận
điểm đó, Luận ngữ c̣n ghi lại khá nhiều mệnh đề khác cũng nói
về kẻ sĩ nữa. Nhưng những mệnh đề này không có tính độc lập, thường
có thể suy ra từ ít nhất một trong bảy luận điểm cơ bản trên. Do đó
theo lư thuyết tiên đề, không thể tách ra để xếp hàng ngang với bảy
luận điểm cơ bản đă được giải tŕnh ở trên.
Vấn đề quan trọng ở đây là, bảy luận điểm cơ bản về kẻ sĩ trên đây
đă liên kết với nhau để tạo thành cốt cách đặc trưng cho kẻ sĩ ở các
phương diện đạo lư làm người, giá trị làm người, lương tâm, bản lĩnh
và danh dự của con người v.v… trong đó điểm mạnh và điểm yếu thường
xen kẽ lẫn nhau, có khi rất khó phân biệt. Rồi thông qua vai tṛ xă
hội của kẻ sĩ trong cộng đồng xă hội thuở xưa, vốn thuộc làn sóng
văn minh nông nghiệp
[8]
, cái cốt cách ấy đă lan rộng và hoà vào đời sống cộng đồng
ấy và qua nhiều thế kỷ đă gia nhập vào "vốn xă hội" của cộng đồng
người Việt Nam tới mức mà, không ít người Việt xưa và nay - dù ít
học vấn đi nữa - vẫn hiểu được và kính nể cái thường được gọi là "cương
trực của kẻ sĩ” hoặc “khí khái của kẻ sĩ"…
Suốt hàng ngàn năm thời quân chủ tập quyền, triều đại bao lần hưng
vong, giang sơn bao lần đổi chủ nhưng cốt cách kẻ sĩ ấy căn bản vẫn
được duy tŕ.
Nhưng từ đầu thế kỷ XX cho đến nay, cốt cách kẻ sĩ đă trải qua những
biến thiên sâu sắc, và cho tới cuối thế kỷ XX lại nay th́ cơ hồ
không c̣n giữ được nổi nữa. Và như thế, một cách tự nhiên, vấn đề
xuất hiện trước chúng ta khi xét bảy luận điểm cơ bản về kẻ sĩ là
như sau:
Người ta nói rằng, lớp kẻ sĩ hiện đại - tức thế hệ trí thức đích
thực hiện nay- của chúng ta, không c̣n giữ được sĩ khí, không c̣n
giữ được cốt cách kẻ sĩ như một vốn xă hội của người Việt Nam nữa.
Có đúng thế không? Nếu có th́ v́ sao lại có thực trạng đó? Liệu cốt
cách kẻ sĩ có c̣n giá trị nào đó trong thời đại mới, t́nh thế mới
của đất nước hay không? Làm sao cốt cách đó lại có thể duy tŕ và
duy tŕ như thế nào trong đời sống hiện đại?
2005 - 9/2006
(Tác giả Hoàng Văn Lân là giáo sư trường Đại học Vinh.)
© 2007 talawas
http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9415&rb=0306
[1]Văn
ở đây có nghĩa là “nghe” trong "nghe tiếng" (văn kỳ thanh).
[2]Phan Bội Châu toàn tập, tập X, NXB Thuận
Hoá – Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2000, tr.13-14.
[3]Phan Bội Châu, sđd, tr.33.
[4]Phan Bội Châu, sđd, tr.24.
[5]Phan Bội Châu, sđd, tr.40.
[6]Luận văn “Confucianisme et Marxisme au Vietnam”
của Nguyễn Khắc Viện ra đời năm 1962, đă được dịch ra nhiều thứ
tiếng. Năm ấy Nhà xuất bản Sự thật (nay là Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia) dịch ra tiếng Việt nhưng không in. Măi 31 năm sau, vào năm
Nguyễn Khắc Viện qua đời (1993), Luận văn của ông mới lại được Nhà
xuất bản Thế giới (Đào Hùng và Trần Văn Quư dịch) ấn hành.
[7]"Vốn xă hội” là một thuật ngữ khoa học mới du nhập
vào khoa học nước ta trong thời gian gần đây. Trong phạm vi chuyên
môn hẹp ở đây và trong phạm vi có liên quan tới vấn đề đang xét,
chúng tôi xin phép đề nghị một cách hiểu thuật ngữ này như sau: vốn
xă hội của một dân tộc là toàn bộ những giá trị đă được chọn lọc,
điều chỉnh, cuối cùng được chấp nhận và tạo ra cách suy nghĩ, hành
động và ứng xử của dân tộc đó trong các mối quan hệ giữa người với
người, giữa người với tự nhiên và cả trong thế giới tâm linh nữa.
[8]Tham khảo Hoàng Văn Lân, “Chuyển biến của xă hội
Việt Nam từ làn sóng văn minh nông nghiệp sang làn sóng văn minh
công nghiệp trong nửa đầu thế kỷ XX”, Trung tâm Nghiên cứu Huế, năm
2003, tr. 32-45. |
|