|
Lí lịch sinh học của heo
và dấu vết văn minh nông nghiệp Đông Nam Á
Nguyễn Văn Tuấn
Lịch
Việt Nam và các nước có liên quan đến văn hóa Trung Hoa dùng 12 con
vật làm biểu tượng cho chu ḱ 12 năm. Có lẽ lịch này có nguồn gốc
từ nền văn minh nông nghiệp Đông Nam Á cổ xưa, khi mà con người và
các loài vật c̣n sống gần nhau. Mười hai con vật được sắp xếp thứ
tự theo 6 cặp dương (+) âm (-): chuột (+), trâu (-); cọp (+), mèo
(-); rồng (+), rắn (-); ngựa (+), dê (-); khỉ (+), gà (-); và chó
(+), heo (-). Không biết người xưa đă căn cứ trên cơ sở nào để sắp
xếp 12 con vật theo thứ tự trên, nhưng cứ mỗi độ Tết về, chúng ta có
dịp để chiêm nghiệm, suy nghĩ về chúng. Theo tuần tự đó, năm nay là
năm hợi hay nói nôm na là năm con heo, một con vật mà chỉ nói đến
tên chúng ta cũng có thể cảm thấy gần gũi; một con vật mà h́nh ảnh
của nó đă đi vào thơ ca, ca dao, hội họa dân gian, và là một biểu
tượng văn hóa. Bài này sẽ bàn về nguồn gốc của con heo và ư nghĩa
nguồn gốc con người qua những nghiên cứu khoa học mới nhất.
Heo
là con vật có một mối liên hệ lâu đời nhất với con người, không chỉ
người Á châu mà c̣n cả Âu châu. Đối với người Việt Nam và Trung
Quốc, heo gần gũi đến độ được nhân cách hóa qua nhân vật hư cấu nửa
người nửa heo Trư Bát Giới, một vị thần trên Thiên đ́nh, trong
truyện nổi tiếng Tây du kí. Đối với người theo đạo Ấn Độ
giáo, thần Visnu có h́nh dạng con heo, chuyên hành hiệp cứu độ chúng
sinh. Đối với các dân tộc sống tại các đảo ngoài lục địa Đông Nam Á,
ngoài “chức năng” cung cấp thực phẩm, heo c̣n là biểu tượng của sự
giàu có, là quà cưới cho cô dâu, và có khi c̣n là đơn vị hàng hóa
quan trọng trong thương trường. Ở các bán đảo Thái B́nh Dương, loại
heo không lông Kapia có địa vị như con người có danh xưng,
được mặc áo nghiêm chỉnh, và mặt c̣n được trang điểm. Heo thường
được dùng làm con vật để tế thần, v́ người ta tin rằng heo có linh
hồn. Ở Âu châu thời cổ đại, heo là con vật được nữ thần Demeter (thần
sinh sản trong truyền thuyết Hi Lạp) ưa thích, và do đó heo c̣n là
con vật biểu tượng cho sự thịnh vượng, trù phú. Người thổ dân da đỏ
ở Mĩ cũng xem heo là biểu tượng của sự thịnh vượng và may mắn. Ở
Đức, tham dự vào buổi tiệc có thịt heo vào đêm Noel có ư nghĩa ngăn
ngừa quỉ thần và đem lại thịnh vượng, tiền tài cho năm mới [1].
|
 |
|
H́nh
Thái cực đồ trên do chúng tôi cắt ra từ trang “Đàn Lợn”
của làng tranh Đông Hồ |
Dù
được xem là biểu tượng của sự may mắn và trù phú như thế, con heo
trong dân gian Việt Nam mang nhiều h́nh tượng tiêu cực. Nói đến heo
là ngừơi ta nói đến tính lười biếng (lười như heo), ham ăn,
bẩn thỉu, và ngu (ngu như heo), v.v... Đó là chưa kể đến
h́nh tượng nhục dục (phim con heo)! Nhưng đứng trên phương
diện sinh học mà nói, heo không ngu; trái lại, heo rất thông minh,
dễ dạy, và thân thiện.
Trong
ba con vật cuối cùng (gà, chó, và heo) có mối liên hệ gần với con
người hơn các con vật như chuột, trâu, cọp, v.v... Thuở sinh thời,
cựu thủ tướng Anh từng tuyên bố “con chó ngước lên nh́n chúng ta,
con mèo th́ nh́n xuống chúng ta, c̣n con heo th́ ngang hàng với
chúng ta”. Có lẽ đúng như thế. Trong ba con vật cuối cùng của 12
địa chi (gà, chó và heo), heo là con vật có thể nói đă từng song
hành với con người trong suốt quăng đường dài tiến hóa. Nhưng trong
bối cảnh và môi trường nào đă dẫn đến mối liên hệ mật thiết giữa con
người và heo như ngày nay. Tất nhiên là heo nuôi bây giờ có nguồn
gốc từ heo rừng. Nhưng chúng được thuần hóa từ hồi nào và ở đâu?
Đây
là những câu hỏi quan trọng, v́ thuần hóa cây cối và thú vật rừng là
một phát triển rất quan trọng trong lịch sử tiến hóa và văn minh của
con người. Thuần hóa là yếu tố khởi động và thúc đẩy văn minh, có
ảnh hưởng trực tiếp đến qui mô, cấu trúc, và phân bố của dân số trên
thế giới. Thuần hóa động vật hoang dă là một phần quan trọng trong
sự thay đổi hành vi và cách sống của con người, chuyển biến từ cuộc
sống hái lượm và săn bắt sang cuộc sống canh tác nông nghiệp và ổn
định. Cuộc sống nông nghiệp có lẽ bắt đầu từ thời Pleisteocene (tức
khoảng 12 đến 14 ngàn năm về trước) và cuộc sống này có lẽ do hệ quả
của t́nh trạng bất định thời tiết, suy giảm về số động vật rừng làm
mồi, và sự bành trướng các cộng đồng ổn định.
Quê hương của
heo: Đông Nam Á
Trong
quá khứ (trước khi công nghệ sinh học ra đời), các nhà khảo cổ học
dựa vào những di chỉ khảo cổ học (chủ yếu là xương xọ) được khai
quật từ nhiều vùng khác nhau để đặt giả thuyết và t́m câu trả lời
cho những câu hỏi trên. Theo các di chỉ này, heo được thuần hóa vào
khoảng 9000 năm về trước ở vùng mà ngày nay thuộc miền Đông Thổ Nhĩ
Ḱ [2]. Ngoài ra, cũng có các di chỉ khảo cổ học cho thấy (hay được
diễn dịch) là heo cũng từng được thuần hóa vào khoảng thời gian này
tại Trung Quốc ngày nay [3].
Nhưng
vài thập niên gần đây, với sự phát triển phi thường của di truyền
học và sinh học phân tử, giới khoa học đă có một phương tiện mới,
chính xác hơn, và đáng tin cậy hơn để truy t́m nguồn gốc heo.
Phương tiện đó chính là gen, hay nói chính xác hơn là DNA. Cũng như
trong con người, đơn vị cấu trúc cơ bản của heo là DNA. Khác với
con người chỉ có 23 nhiễm sắc thể, heo chỉ có 20 nhiễm sắc thể. V́
đặc tính di truyền của DNA, qua phân tích sự phân bố và đồng dạng
của các chuỗi DNA giữa các giống heo, các nhà khoa học có thể truy
t́m chính xác nguồn gốc của heo.
Một
nghiên cứu qui mô nhất từ trước đến nay về nguồn gốc heo được tiến
hành với sự hợp tác giữa các nhà di truyền học Mĩ và Thụy Điển. Qua
phân tích xu hướng phân bố và đồng dạng DNA của các giống heo (700
con) trên thế giới, các nhà nghiên cứu đi đến kết luận rằng tổ tiên
của heo ngày nay chính là heo rừng, và quê hương của heo rừng nguyên
thủy này chính là vùng Đông Nam Á ngày nay [4]. Sau khi được thuần
hóa ở Đông Nam Á, heo tản mát theo con người đến các vùng Âu Á
(Eurasia), vượt biển đến Âu châu, và ra các bán đảo Thái B́nh Dương
[4]. Sau khi tản mát ra khỏi Đông Nam Á, heo được tiếp tục thuần
hóa nhiều lần ở nhiều vùng tại Trung Quốc, vùng cận đông, và Âu châu
[4].
Một
nghiên cứu di truyền mới nhất qua phân tích DNA các giống heo thuộc
các hải đảo Thái B́nh Dương và đặc biệt là heo không lông thuộc đảo
Vanuatu, các nhà nghiên cứu Úc và Mĩ khẳng định rằng heo tại các hải
đảo này cũng xuất phát và được thuần hóa từ lục địa Đông Nam Á (đặc
biệt là từ Việt Nam) khoảng 3000 năm trước đây [5]. Sau đó, chúng
theo con người “di dân” ra khỏi lục địa và đến các hải đảo như
Vanuatu và Ryukyu. Ngoài ra, các giống heo tại các hải đảo này cũng
có “hồ sơ” DNA rất giống với heo ở Âu châu.
Cũng
thú vị không kém là các nhà nghiên cứu Úc và Mĩ nhận xét rằng Việt
Nam (quê hương của heo ở các bán đảo Thái B́nh Dương) là một trong
những vùng ở lục địa Đông Nam Á mà ngôn ngữ Nam Á (Austronesian) vẫn
c̣n khá phổ biến. Điều này cho thấy có thể có một mối liên hệ huyết
thống giữa các dân tộc hải đảo này và các dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên Việt Nam.
Ước
tính về thời điểm thuần hóa và tản mát trên cũng khá phù hợp với các
di chỉ khảo cổ t́m thấy ở Việt Nam. Theo các di chỉ này th́ nghề
chăn nuôi heo ở nước ta được phát triển khá vào thời Hùng Vương.
Trong các di chỉ khảo cổ học thuộc thời ḱ Hậu Đồ Đá Mới (tức khoảng
8000 đến 3000 năm trước đây) ở khu vực Phùng Nguyên, Đồng Đậu, và
Hoa Lộc, các nhà khảo cổ học Việt Nam đă t́m thấy nhiều xương cốt
các con vật nuôi trong nhà như heo, chó, trâu ḅ nuôi, gà, vịt, v.v…
[6]. Tại Đồng Đậu, di chỉ khảo cổ học cho thấy nuôi heo khá thịnh
hành vào thời Hùng Vương, v́ tỉ lệ xương heo trong tầng văn hóa ở
đây cao hơn xương heo rừng và các gia cầm khác.
Trong
sách Việt Nam thời cổ đại, tác giả Bùi Thiết thuật truyền
thuyết Pú Lương Quân của dân tộc Tày vùng Cao Bằng kể về vợ chồng
Báo Lương và Sao Cải, sau khi đă trồng được nhiều lúa, bèn nghĩ đến
việc vào rừng để bắt heo rừng về nuôi, khu rừng bắt được gọi là
Đồng Giáo (rừng heo cỏ), nơi nuôi heo gọi là xóm Chóng Mu
(xóm Bờm heo), cánh đồng trồng khoai nuôi heo gọi là Bà Non (ruộng
Dọc khoai), mà có thể cư dân Tày cổ có nguồn gốc từ người Việt cổ từ
sau khi giải thể nhà nước Văn Lang và Âu Lạc [7].
Dấu tích văn
minh nông nghiệp
Trước
đây vài năm, cũng qua phân tích DNA, các nhà khoa học khẳng định
rằng gà và chó trên thế giới ngày nay có nguồn gốc từ Đông Nam Á.
Heo, gà, trâu, v.v… là các con vật thuộc nền văn minh nông nghiệp.
Các bằng chứng mới này càng phù hợp với giả thiết rằng nền nông
nghiệp và quê hương nguyên thủy của cây lúa nước là ở chung quanh
vùng Đông Dương - Mă Lai - Miến Điện (chứ không phải Trung Quốc, nơi
mà bằng chứng về cây lúa lâu đời nhất chỉ 5.900 đến 7.000 năm về
trước, thường thấy ở các vùng xung quanh sông Dương Tử). Văn minh
Ḥa B́nh là nền văn minh nông nghiệp đầu tiên trên thế giới, khoảng
15.000 năm trước dương lịch [8]. Vài ngàn năm trước Công
nguyên, cư dân Đông Nam Á đă đưa cây lúa đến vùng Đông Á và Tây Á,
những nơi mà cư dân chỉ quen với nghề trồng lúa mạch. Nhận xét này
cũng hợp lí bởi v́ với khí hậu nhiệt đới Đông Nam Á là môi trường
thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp.
Như
vậy có thể suy luận rằng trước khi tiếp xúc và chịu ảnh hưởng hai
nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, vùng Đông Nam Á đă h́nh thành một
nền văn hóa lúa nước, và cư dân cổ ở đây (dân Bách Việt) đă phát
triển một nền văn minh nông nghiệp lúa nước, trong đó có cả văn minh
châu thổ sông Hồng, hay văn minh Đông Sơn. Theo Trần Quốc Vượng,
chính nghề trồng lúa nước (một ngành nghề đ̣i hỏi người dân phải nắm
vững và thích nghi với thời tiết, môi trường sông nước) đă dẫn người
cư dân cổ Đông Nam Á sáng tạo ra lịch dùng 12 con vật gần gụi với
nền văn minh lúa nước làm biểu tượng. Do đó, có khả năng lịch 12
con giáp có nguồn gốc từ Đông Nam Á, chứ không phải từ Trung Hoa
[9]. Có thể qua giao lưu văn hóa, người Trung Hoa cổ đă vay mượn
lịch Đông Nam Á và cải tiến lại. Do đó, 12 con vật trong lịch của
Ta không giống với 12 con vật trong lịch của Trung Hoa (thử, ngưu,
hổ, miêu, long, xà, mă, dương, hầu, kê, khuyển, trư).
Nhận
xét trên có cơ sở. Qua phân tích mối tương quan di truyền giữa các
sắc dân trên thế giới, giới khoa học có thể khẳng định rằng con
người hiện đại di dân ra khỏi Phi châu và đến Á châu vào khoảng
100.000 năm trước đây. Trong đợt di dân đầu tiên họ đến vùng Trung
Đông, nhưng không thể định cư được v́ thời tiết khắc nghiệt, sau đó
có thể họ phải làm thêm một hành tŕnh thứ hai từ Trung Đông đến tận
vùng Đông Nam Á châu và định cư tại đây [10]. Từ Đông Nam Á, họ lại
di cư một lần nữa: nhóm một đi về hướng nam ra Úc châu và Tân
Guinea; nhóm hai đi về hướng bắc đến Trung Quốc và Nhật Bản, và cuộc
di dân này xảy ra vào khoảng 55.000 năm trước đây. Điều này cũng
phù hợp với các dữ kiện di truyền gần đây cho thấy người Trung Hoa
ngày nay, nhất là người Trung Hoa ở phía nam Trung Quốc rất gần và
có tổ tiên ở vùng Đông Nam Á châu [11-12] . Một nghiên cứu mới nhất
[13] phân tích DNA trong 2332 người từ các vùng Đông Nam Á và miền
nam Trung Quốc một lần nữa khẳng định nguồn gốc con người là Đông
Nam Á. Họ c̣n ước tính cuộc di dân về phương Bắc xảy ra vào khoảng
3000 đến 25000 năm về trước.
Tất
cả những bằng chứng này cho thấy Đông Nam Á có thể là một cái nôi
văn minh nông nghiệp đầu tiên của con người [12], và cư dân tại đây
rất có thể là những người phát minh ra kĩ thuật trồng lúa nước, chăn
nuôi, và truyền các kĩ thuật này lên phía Bắc (tức miền Nam Trung
Quốc ngày nay). Phát hiện mới nhất về quê hương Đông Nam Á của loài
gà da cầm cho chúng ta thêm một cơ sở để suy luận rằng trong quá
tŕnh định cư và phát triển nông nghiệp, người Đông Nam Á cổ đă
thuần dưỡng giống gà rừng, và từ đây giống gà này được truyền bá đến
miền Nam Trung Quốc, và từ Trung Quốc “di cư” sang Âu châu. Những
phát hiện này, cộng với những di chỉ khảo cổ học và di truyền học
mới nhất củng cố thêm cho giả thuyết Đông Nam Á là một trung tâm văn
minh nông nghiệp cổ xưa nhất của thế giới [14].
Tài liệu tham khảo:
[1] A. McElroy và P K Townsend.
Medical Anthropology. Colorado: Wadsworth 1996.
[2] J. Epstein, M Bichard, trong
cuốn “Evolution of Domesticated Animals” do I L Mason biên
soạn. Longman, New York, 1984, trang 145-162.
[3] G Giuffra, et al.
Genetics 2000; 154:1785-1791.
[4] G Larson, et al.
Science
11/3/2005; 307:1618-1621.
[5] J K Lum, et al.
Proc Natl Acad Sci
USA 2006;
103:17190-17195.
[6] Lê Xuân Diệm, Hoàng
Xuân Chinh. Di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu. Viện khảo cổ học,
Nhà xuất bản Khoa học Xă hội, Hà Nội: 1983, trang 81.
[7] Bùi Thiết. Việt
Nam thời cổ xưa. Nhà xuất bản Thanh Niên (không thấy đề năm in!)
[8] Chesnov Ja. V. Dân
tộc học lịch sử các nước Đông Nam Á. 1976. (Trích dẫn theo Trần
Ngọc Thêm, “T́m về bản sắc văn hóa Việt Nam”, Nhà xuất bản
Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.
[9] Trần Quốc Vượng.
Văn hóa Việt Nam: T́m ṭi và suy ngẫm. Nhà xuất bản Văn hóa Dân
tộc và Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Hà Nội, 2000.
[10] Nguyễn Văn Tuấn.
Nhân năm khỉ bàn chuyện nguồn gốc con người. Tạp chí Diễn đàn,
số xuân Nhâm Thân 2004.
[11] Chu JY, et al.
Proc Natl Acad Sci USA 1998; 95:
11763-11768.
[12] Su B, et al. Am
J Hum Genet 1999; 65:1718-1724
[13] Shi et al.
Am J Hun Genet
2005; 77:408-419
[14] Trong cuốn Agriculture;
origin and dispersal, Giáo sư C. O. Sauer viết: “… Tôi đă chứng
minh rằng những động vật gia cầm được thuần dưỡng đầu tiên ở Đông
Nam Á, và đây chính là trung tâm nông nghiệp quan trọng của thế giới”.
|
|