|
Praha (Prague) kư sự: Người Việt ở
Praha
Nguyên Khoa
Người Việt ở
Tiệp khắc nói chung, Czech nói riêng là một cộng đồng khá non trẻ
(so với các khối cộng đồng người Việt tây âu như Pháp hoặc Bắc Mỹ),
mới có chừng 20-25 năm, từ khi có chính sách gửi công nhân lao động
hoặc công nhân học nghề sang Tiệp khắc (cũ, gồm Czech và Slovakia).
Số lượng người Việt đến Tiệp cũng như đông Âu ồ ạt vào những năm 80s
và chững lại sau đó (từ khi chuyển đổi hệ thống chính trị cộng sản
sang cộng hoà-không cộng sản) và cho đến nay, số người Việt mới đến
định cư ở Tiệp không c̣n đáng kể.
Tống số người
Việt ở cả Czech (tên đầy đủ là Cộng hoà Czech) và Slovakia là khoảng
40 ngh́n người, nhưng 90 phần trăm là tập trung ở Czech. Tại thủ đô
Praha (khoảng 1 triệu dân) có 4000 cư dân người Việt. Dù là con số
không nhiều so với cộng đồng người Việt ở các nước khác như Bắc Mỹ,
Úc hoặc Tây Âu, nhưng cộng đồng người Việt là cộng đồng sắc tộc
ngoại quốc lớn thứ ba ở Czech, sau Ukraina và Slovakia.
Điểm đặc trưng
khác biệt lớn nhất của cộng đồng người Việt ở Czech so với cộng đồng
người Việt ở Úc hoặc Mỹ là đại đa số (90%) người Việt ở Tiệp khắc là
mang quốc tịch Việt nam. Số mang quốc tịch Tiệp khắc rất hiếm và
thường chỉ là những người có quan hệ hôn nhân với người bản xứ. Do
chính quyền Tiệp khắc sau này đă có những chính sách rơ ràng cho
người ngoại quốc định cư lâu dài ở Tiệp (khác với Ba-lan) nên hầu
như không có sự khác biệt nào rơ rệt giữa người có quốc tịch hoặc
thường trú nhân (trừ quyền bầu cử, và đi lại tuỳ thuộc vào quốc tịch
gốc), cho nên người Việt ở đây họ không có ư định gia nhập quốc tịch
Czech. Một lư do khác theo ư của chúng tôi, th́ có lẽ do sự nhiêu
khê về việc visa về VIỆT NAM nếu mang quốc tịch Czech đối với người
Việt nên họ không muốn cầm hộ chiếu Czech về Việt nam, trừ trường
hợp bất khả kháng. Thường những người kết hôn với người sở tại th́
họ mới nhập tịch.
Chính v́ lẽ đó,
dẫn đến một hệ quả là đại đa số người Việt ở Czech không có sở hữu
tài sản cố định (nhà cữa) ở Tiệp, không phải v́ họ nghèo mà họ không
có ư định lâu dài ở Tiệp (?); nhưng theo lời kể th́ hầu hết trong số
đó đều có đầu tư bất động sản tại Việt nam. Nếu nói về khía cạnh
hiệu suất kinh tế đóng góp cho đất nước th́ đây có nên chăng coi là
một điểm son của cộng đồng người Việt ở Czech?
|
 |
Hiện nay, khoảng
90% người Việt ở Praha là sinh sống tự lập bằng nghề tiểu thương.
Tại Praha, có hai khu chợ của người Việt lớn nhất, đó là Trung tâm
thương mại SAPA ở Praha 10 và Trung tâm thương mại HKH ở Praha 4.
Khu chợ ở Praha 4 là khu chơ lớn nhất, với tổng diện tích khoảng
260000 mét vuông thuộc sở hữu của công ty thương mại Saparia do 20
cổ đông góp vốn; khu chợ ở Praha 10 với một diện tích khiêm tốn hơn,
chỉ 100 ngh́n mét vuông, thuộc sở hữu của một thương gia Việt nam (ông
Trương Thanh T.). Dù khác nhau về mặt quy mô cấu trúc, nhưng về đặc
tính kinh doanh th́ hai khu chơ không có ǵ khác biệt nhau lắm. Mặt
hàng ưu thế ở hai khu chợ này là hàng may mặc. Các mặt hàng này chủ
yếu là nhập từ Việt nam và Trung quốc. Ngoài ra, th́ nhiều hàng tạp
hoá khác đầy đủ chủng loại từ hàng nhu yếu phẩm cho tới các mặt hàng
cao cấp như phalê của Tiệp. Các khu chợ Việt ở đây trông cũng không
khác ǵ như một chợ An Đông ở TPHCM hay Đồng xuân-Bắc qua ở Hà nội,
nơi trở thành xuất hàng sỉ cho các cửa hàng bán lẻ trong thành phố.
Lư do để các khu chợ Việt ở đây thu hút được khách hàng và trở thành
các đầu mối bán sỉ là do hàng bán với giá rẻ hơn nhiều so với cùng
một mặt hàng, cùng chất lượng nếu mua ở các cữa hàng “tây” trong phố.
Lấy ví dụ như hàng phalê, cùng một chất lượng, th́ giá ở chợ Việt
nam rẻ hơn từ 50-60%.
|
 |
| Một góc gian hàng quần áo của Trung tâm thương mại Praha
10 |
Một đặc điểm dễ
nhận ra nhất và đặc trưng nhất cho các khu thương xá Việt nam là sự
luộm thuộm và thiếu vệ sinh so với chuẩn mặt bằng của nước sở tại.
Điều đó cũng không khác ǵ ở Úc và ở Mỹ, dù rằng ở Mỹ có thể khá hơn
một chút. Tôi ghé vào một cửa hàng tạp phẩm, vừa bán cả đồ khô vừa
cả đồ đông lạnh. Một cảm giác rùng ḿnh thoáng qua là ngay đây, thịt
tươi sống (đúng hơn là gan và ḷng lợn) lại được bảo quản trong một
cái thùng xốp (đựng trái cây) và được giữ lạnh bằng hai chai nước
dung tích 1.25l và một chai nhỏ hơn đă được để đông đá. Khi được hỏi
qua, chị chủ cửa hàng có vẻ bối rối, rồi cũng đáp qua loa là “người
Việt ḿnh mà!”; hỏi thêm “liệu có bị phạt khi có người đi kiểm tra
không”, chị trả lời là có, nhưng chẳng qua là xui xẻo th́ mới bị.
Điều này cũng dễ dàng thấy ở khắp các cửa hàng bán thực phẩm hay tạp
phẩm châu Á, mà sự sơ sài, qua loa thể hiện ở những h́nh thức khác.
Tôi đă không ít lần mua những hàng đă quá hạn đến cả năm ở các hàng
tạp phẩm Á châu ở Úc. Nếu rơi phải tay khách hàng là tây th́ có lẽ
sự chuyện không êm ả. Nhưng tôi cũng là dân “mít”, có lẽ chính những
khách hàng Việt nam như tôi, quá dễ dăi, dễ bỏ qua, nên khi đem hàng
trả lại hoặc chỉ đổi hoặc chỉ nhận tiền lại như một sự không ưng
thuận mua hàng, và chủ hàng cũng chẳng có một chút lo lắng ǵ!
Điều mà làm tôi
suy nghĩ là hàng hoá ở khu thương xá Việt tại Praha 10 này giá lại
hoàn toàn tương đương với các mặt hàng cùng loại ở Úc. Mức sống dân
Tiệp khắc tôi cho không thấp hơn Úc, v́ giá cả các mặt hàng khác ở
trong phố cũng tương đương. Thu nhập của người dân Tiệp cũng tương
đương. Số lượng người Việt tại Praha ít hơn số lượng người Việt tại
Sydney khoảng 10 lần, theo logic th́ giá cả hàng tiêu dùng đặc thù
của người Việt nam (như thực phẩm hàng ngày) hoặc cho người châu Á ở
Tiệp phải đắt hơn ở Úc do số lượng người tiêu thụ ít hơn sẽ phải
“chung trả” những phí tổn phi hữu dụng tính chung trong hàng, thế mà
hàng hoá Việt nam ở đây lại không hề đắt hơn bên Úc. Có lẽ do thuế
rẻ hơn chăng? Hay một nguyên nhân nào khác?
Với đặc điểm
Cộng hoà Séc là một nước cầu nối giữa đông tây Âu, tương đối phát
triển nhất trong khối Đông Âu, Séc đang phấn đấu để gia nhập vào
Cộng đồng Âu châu. Thêm vào đó, giá sinh hoạt, lương công nhân, vốn
đầu tư ở Tiệp lại có phần rẻ hơn nhiều so với các nước Tây Âu, cộng
đồng người Việt ở đây có một lợi thế tiềm ẩn lớn: là một chiếc cầu
nối cho các doanh nghiệp Việt nam vươn đến Tây Âu. Tại Séc có chế độ
miễn visa cho các nước Tây Âu, trong khi đó vị thế địa lư lại gần
như là trung tâm. Séc có đường biên với 4 nước và ngay từ Praha đến
Paris cũng chỉ mất có 1 giờ 20 phút bay. Các thương gia Việt nam ở
Tiệp đă và đang có manh nha làm ăn với Tây Âu, nhưng đặt tổng hành
dinh tại Praha. Có lẽ đây là một hướng làm ăn đáng để suy nghĩ trong
phương sách tiết kiệm chi tiêu mà vẫn có thể đạt được hiệu quả kinh
doanh.
V́ là một cộng
đồng c̣n non trẻ, nên số người Việt ở Séc có vai tṛ quan trọng
trong lĩnh vực chính trị hoặc khoa bảng hầu như chưa có; chỉ có một
số ít giảng viên ở các trường đại học. Số thương gia Việt nam có
doanh nghiệp, có văn pḥng ở Séc khoảng 200 người. Khả năng hứa hẹn
của các “đại gia” Việt nam ở Tiệp thế nào, có lẽ sẽ nằm trong xu
hướng phát triển chung của Tiệp (sẽ đề cập trong phần khác) chứ khó
có sự bứt phá như cộng đồng thương gia Việt Nam ở Mỹ.
Thái độ chính
trị của người Việt ở Tiệp, theo cảm nhận cá nhân là họ không có thái
độ chính trị đối kháng với chính quyền Việt nam, hay có thể coi là
họ “trung lập” và luôn coi ḿnh là người Việt nam. Điều đó có thể
thấy rơ ở ngay trung tâm thương mại HKK Việt nam ở Praha 10 nơi tôi
ghé thăm, có treo cờ đỏ sao vàng trên nóc ban quản trị chợ. Lư do
là họ không có bất đồng chính kiến từ trước như một phần của cộng
đồng người Việt ở Mỹ hoặc Úc; đại đa số họ là dân đi lao động theo
chế độ ‘xuất khẩu lao động’ của Việt Nam trong những năm 80s đầu 90s
rồi ở lại. Một lư do khác mà như đă đề cập ở trên là đến 90% người
Việt định cư lâu dài ở Tiệp là vẫn mang quốc tịch Việt Nam và có
liên hệ với Việt nam (tài sản cố định). Lư do hiển nhiên là những
người Việt định cư ở Tiệp họ có mục tiêu rơ ràng là làm kinh tế.
Điều đáng trân trọng ở đây là họ tự “đứng trên đôi chân của ḿnh”
bằng sức lao động, bằng tính chịu thương chịu khó, và chắc chắn
không phải là thành phần ăn bám xă hội v́ họ không có tiêu chuẩn nào
về an sinh xă hội ở đây cả (điều này hoàn toàn khác với cộng đồng
người Việt ở Úc, đa phần vẫn là ăn trợ cấp của chính phủ). Theo lời
ông Dương (cựu chủ tịch hội thương gia Việt nam ở Tiệp) th́ cộng
đồng người Việt ở Tiệp được chính phủ Tiệp khen tặng về sự đóng góp
về phát triển đa dạng kinh tế cho nước Tiệp, ở họ không có khái niệm
“di dân kinh tế” như ở một số thành phần người Việt ở Mỹ và Úc, mang
mác “tị nạn chính trị”, nhưng không phải như vậy. Thành phần làm ăn
bất chính ở Tiệp không phải là không có, nhưng rất ít, và hầu như họ
chưa để lại tai tiếng ǵ ở đây.
Việt nam đă gia
nhập WTO, việc mở cửa giao lưu kinh tế mang tính toàn cầu là tất yếu.
Thiết nghĩ, cộng đồng người Việt ở Séc nói chung, Praha nói riêng có
thể là một “tổng đại lư” tốt cho việc giới thiệu và trung chuyển các
mặt hàng dân dụng, tiểu thủ công nghệ của Việt nam qua thị trường
Đông âu và là vị thế bàn đạp để vươn sang Tây Âu có thể đạt hiệu quả.
V́ lẽ đó, nhà nước Việt nam có lẽ nên có một chính sách cụ thể để hỗ
trợ cho cộng đồng người Việt ở đây trong khâu tổ chức, vay cấp vốn,
khuyếch trương kinh doanh, chuẩn hoá chất lượng mặt hàng, khuyến
khích liên kết thành những tập đoàn kinh tế. Đó cũng là một cách
‘xuất khẩu lao động’ gián tiếp, không cần phải quản lư trực tiếp, mà
có thể góp phần vào việc phát triển kinh tế đất nước.
Praha-Sydney
2006
Nguyên Khoa
Người viết bài
xin cám ơn TS Nguyễn Dương, Giám đốc công ty Scitexim đă dành thời
gian hướng dẫn đi thăm khu thương mại HKH của người Việt ở Praha và
cung cấp một số thông tin trong bài viết này. |
|