|
Giáo dục đại học Việt Nam cần nh́n lại ḿnh
Nguyễn Đăng Hưng
Cuối
cùng th́ Việt Nam cũng hoà nhập với thế giới, trở thành thành viên
thứ 150 của tổ chức Mậu dịch Quốc tế (WTO), bước lên thuyền có động
cơ để đi ra biển lớn của xu thế toàn cầu hoá. Đây là một thành quả
đáng khích lệ về những nỗ lực kiên tŕ không mệt mơi của Chính phủ
Việt Nam qua những cuộc bàn thảo song phương và đa phương kéo dài 11
năm nay. Đây là bước ngoặc quyết định của công cuộc đổi mới, món quà
quí báu nhất cho toàn thể dân tộc Việt Nam trong những ngày chuẩn bị
bước sang năm mới 2007. Thật vậy, việc hội nhập vào thị trường toàn
cầu là bước đi đúng hướng, là quyết định đột phá có tính chiến lược
cho việc phát triển đất nước. Thế nào chăng nữa, rồi dân tộc Việt
nam sẽ gặt hái được thành quả cuối cùng có lợi cho tương lai, đặc
biệt cho thế hệ trẻ.
Khung cảnh cạnh tranh toàn cầu sẽ thúc đẩy các chủ trương sửa đổi,
cải tổ mà Việt nam đang rất cần. Hướng đi đă rơ, dân tộc Việt nam,
vốn thông minh quả cảm, sẽ vượt qua được những thử thách mới để vươn
lên chung vai sát cánh cùng thế giới. Đó là những cơ hội, nhưng
chúng ta cũng phải đương đầu với những khó khăn nhất định và những
khó khăn này sẽ ngày càng trở nên bức thiết.
Đặc biệt, trong kư kết, giáo dục đào tạo được coi là một dịch vụ.
Các tổ chức, cơ cấu quốc tế có thể kư kết hợp đồng với các tổ chức
Việt nam về tổ chức giảng dạy và đào tạo những lĩnh vực cho phép như
khoa học kỹ thuật, công nghệ, quản trị kinh doanh, ngoại ngữ… Đây là
những lĩnh vực chủ đạo mà đất nước phải có nhiều nỗ lực để tiến lên.
Bản cam kết cũng nói rằng, sau năm 2008 các tổ chức quốc tế có thể
đến Việt nam đặt cơ sở về giáo dục đào tạo với vốn 100%. Đến lúc đó
dịch vụ giáo dục đào tạo Việt nam coi như toàn diện mở cửa.
Trước bối cảnh toàn cầu hoá như vậy ta nên ứng xử thế nào? Ta biết
toàn cầu hoá là quá tŕnh không cưỡng lại được. Ngay cả những nước
tiên tiến nhất cũng có mất mát v́ công việc làm và tiền đầu tư bị
chuyển đi chỗ khác, và có thể, họ sẽ bị những hậu quả xă hội nhất
định. Đối với một nước trên đường phát triển như nuớc Việt Nam,
chúng ta cũng phải chuẩn bị để những hậu quả được giảm thiểu. Đây
chính là cái giá phải trả cho việc toàn cầu hoá. Một câu hỏi thường
được đặt ra: Chúng ta đă chuẩn bị thế nào, nỗ lực làm sao để thích
ứng thực tại mới này?
Chúng ta đang đứng ở đâu?
Tại Việt Nam, tôi cho rằng trong tất cả lĩnh vực dịch vụ th́ lĩnh
vực giáo dục đào tạo ta sẽ phải khởi đầu như một đối tác khó có thể
yếu hơn. Và có lẽ công việc chuẩn bị của Việt Nam trong lĩnh vực này
cũng là kém nhất. Ngay từ ngày kư kết chúng ta đă không có được 50%
thị phần. Chúng ta không có ǵ để xuất khẩu trong lĩnh vực giáo dục
đào tạo. Thật vậy, chúng ta có ǵ đâu để tŕnh làng, để có cơ may
vươn ra thế giới? Trừ một ít sinh viên Lào, trừ vài ba sinh viên
quốc tế đến Việt Nam học tiếng Việt hay nghiên cứu văn hoá Việt Nam,
thử hỏi thành phần học sinh, sinh viên nào sẽ đông đảo qua Việt Nam
du học trong t́nh trạng giáo dục rất tụt hậu hiện nay? Cũng nên đặt
câu hỏi có mấy giáo sư Việt Nam được quốc tế mời đi thỉnh giảng?
Thế vậy 50% c̣n lại là ǵ? Đó là thị trường Việt nam. Làm ǵ để giữ
chân được con em ḿnh học tập ngay tại đất nước ḿnh. Phải nói, trải
dài qua mấy thập kỷ, chúng ta liên tục đi chệch hướng để ngày nay
dẫn đến t́nh trạng cùng cực nhất. Người dân Việt Nam đă mất hết niềm
tin vào hệ thống giáo dục Việt Nam. Con em những gia đ́nh khá giả,
những gia đ́nh trí thức, những gia đ́nh quan chức đổ xô đi học ở
nước ngoài. Một nguồn vốn lớn lẽ ra rất cần cho việc đầu tư cho
ngành giáo dục lại chạy tụt khỏi tầm tay !
Vậy chúng ta phải làm ǵ?
Vấn đề là phải bắt đúng mạch, đoán đúng bệnh mới có cơ may chữa trị!
Trước hết theo tôi nền giáo dục cần phải nỗ lực hết ḿnh để lấy lại
ḷng tin của nhân dân. Làm thế nào để tài sản trí tuệ không chảy ra
xứ người mà giữ lại Việt nam để củng cố các cơ sở đào tạo hiện có.
Ta phải b́nh tâm nhận định rơ ràng hơn, từ đâu mà giáo dục Việt nam
lại tụt hậu trầm trọng và chệch hướng như hôm nay? Theo tôi, nguyên
nhân sâu sắc nhất là ở tư duy giáo dục của ta có những sai lầm măn
tính, những căn bịnh trầm kha từ nhiều thập kỷ. Cơ chế giáo dục của
ta quá cũ kỹ, cồng kềnh, một mảng lớn của bộ phận nhân sự quản lư
không có tầm mà cũng chẳng có tâm.
Chúng ta đề cao thành tích, đề cao bằng cấp nhưng lại quên mất
truyền thống “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Hệ thống tổ chức quản
lư giáo dục lại tạo ra những kẽ hở, những hướng đi, những cách giải
quyết không giống ai để thực học càng ngày càng tàn lụi và học ảo
càng ngày càng lấn át.
Chúng ta chưa chấp nhận cơ chế mềm đầu vào và cứng đầu ra. Một mặt
tổ chức thi cử quá cứng nhắc, quá phức tạp ở đầu vào, mặt khác lại
không đảm bảo được chất lượng đào tạo ở đầu ra. Chúng ta chưa ư thức
hay cố t́nh lờ đi cốt lơi của vấn đề: cấp bằng cho người không đạt
tŕnh độ là cố ư làm tác hại đến tương lai xă hội…
Phong cách, lề lối quản lư giáo dục c̣n quá lạc hậu. Thói ôm đồm,
gom tóm, thu vén đă thâm nhập sâu đậm vào các cấp, trước hết tại cơ
quan đầu ngành: Bộ Giáo dục và Đào tạo. T́nh trạng “vừa đá bóng,
vừa thổi c̣i” đă vô hiệu hoá các cơ chế thanh tra. Bộ muốn nắm hết
quyền, nhưng bộ không thực thi có hiệu quả quyền hành của ḿnh và
trên thực tế, Bộ đă tạo điều kiện cho những đường dây tiêu cực thoải
mái hoành hành như báo chí những tháng qua đă đề cập đến, và đưa ra
những bằng chứng không chối cải được!
Chúng ta nên chấm dứt những hệ đào tạo mà ta khó kiểm soát và chủ
động tổ chức đánh giá đúng chất lượng.
Hệ thống giáo dục của ta rất tràn lan, không giống ai. Từ một hệ
chính quy ta lại thêm một hệ tại chức, rồi chuyên tu, rồi nhiều thứ
khác, rất lung tung… Tại Việt Nam từ nhiều năm ta đă cấp bằng tương
đương với người học chính quy cho những người học tại chức. Như thế
th́ có khác ǵ ta đă tự ta phá ta. Không chấm dứt những sai lầm nội
tại này th́ làm sao có thể vươn lên được? Tôi đă nhiều lần phát biểu
là các hệ lung tung đă vô t́nh hay hữu ư biến những người thầy giáo
thành người đi bán bằng, người đi học thành người đi mua bằng! Tôi
rất vui là gần đây việc này đă được Quốc Hội quan tâm. Bộ trưởng
Nguyễn Thiện Nhân đă phát biểu là chưa nên đụng tới v́ đây là nồi
cơm của các trường đại học, có nhiều trường đại học thu qua hệ tại
chức có được đến 90% tiền doanh thu! Nhưng theo tôi, thứ nhất, nồi
cơm của các trường phải có cách giải quyết riêng chứ không thể để
như thế được. Thứ hai, tôi đồng ư với kư giả Hà Thạch Hản trên báo
Tuổi Trẻ là nồi cơm của dân tộc phải quan trọng hơn nồi cơm của các
trường. Một thực tế đang tồn tại là hệ tại chức đă đào tạo ra những
người có bằng thực mà học giả. Điều này ngoài những tác hại đă nói ở
trên, c̣n làm cho nhuệ khí của các con em đi học bị sa sút. Và như
thế, vô t́nh chính sách Nhà nuớc không khuyến khích tuổi trẻ học
hành tử tế, đề cao thực học. Từ đó đẩy tới xu hướng giả dối.
Xin minh định rơ là tôi đồng ư là phải duy tŕ giáo dục thường xuyên
v́ đó là nhu cầu của xă hội của một bộ phận đáng quư của nhân dân.
Hệ giáo dục thường xuyên luôn luôn có mặt tại các nước phát triển.
Nhưng nó không đồng nghĩa với việc cấp bằng tương đương với hệ chính
quy mà trên thực tế thời gian theo học cũng như chương tŕnh đào tạo
không thể so sánh được. Để khuyến khích việc bổ túc hiểu biết thường
xuyên cho mọi lứa tuổi, cho những nguời có thiện chí trau dồi kiến
thức hay chuyên môn, chỉ nên cấp chứng chỉ. C̣n bằng cấp thực thụ
th́ chỉ nên dành cho những ai có tŕnh độ, đạt tiêu chuẩn mà thôi.
Cả nước cần trở về một hệ giáo dục duy nhất: hệ chính quy. Băi bỏ hệ
tại chức sẽ chấm dứt được thăm trạng bán bằng, mua bằng, học giả
bằng thật, chạy đua theo bằng cấp, kiếm bằng để giữ ghế…
Ta không thể nói không với tiêu cực cùng một lúc đứng ra chính thức
tổ chức một hệ đào tạo từ đó phát sinh ra cái nôi của tiêu cực trong
học vấn thi cử!
Đổi mới tư duy dạy học.
Trong cơ chế giáo dục, chúng ta đang nhầm lẫn giữa giáo dục và tuyên
truyền. Giáo dục phải toàn hoàn khách quan và phải tôn trọng thói
quen thảo luận, trao đổi, khuyến khích tinh thần tự nghiên cứu, khai
phá, của người học. Phải dứt khoát đoạn tuyệt với lề lối giáo dục áp
đặt và nhồi nhét hiện nay. Chúng ta đă thấy rất nhiều những hậu quả
không lường, những phản ứng ngược của tuổi trẻ hôm nay: kết quả các
cuộc thi toàn quốc những năm gần đây về các môn sử và văn… Cho nên
cần cải tiến phương thức giảng dạy để làm sao có sự tham gia suy
nghĩ, tự học của các đối tượng, tạo tinh thần dân chủ giữa thầy và
tṛ để cho học sinh thói quen bảo vệ ư kiến của ḿnh trước đám đông.
Tuổi trẻ cần có bản lĩnh, có tự tin mới thành công trong hoà nhập và
cạnh tranh trong xu thế toàn cầu. Phải đào tạo cho được ngoài khả
năng chuyên môn c̣n phải có khả năng sáng tạo, khả năng phản biện,
khả năng giao tiếp, khả năng sinh hoạt nhóm… Ngoài ra, phương thức
giảng dạy phải sinh động và chân thực, không tuyên truyền một chiều,
mà phải khách quan vô tư. Ngay cả bức tranh hiện thực cũng cần phải
có cả bóng tối và ánh sáng. Nhưng với tuổi trẻ cũng cần phải có
những bức tranh khác, những bức tranh lăng mạn, những bức tranh ấn
tượng và siêu thực, những giấc mơ, những hoài băo… Giáo dục chân
chính là tạo điều kiện để tuổi trẻ có kiến thức chân thực, có tự do
chọn lựa, có thông tin đa chiều…
Hội nhập vào nền kinh tế tri thức
Khi gia nhập WTO th́ thế mạnh của Việt nam là phát triển lên mức cao
hơn, nền kinh tế thị trường. Nhưng hiện nay hàng hoá ta xuất cảng
ra thế giới, thặng dư về trí tuệ gần như ta chưa có ǵ cả. Lẽ ra một
nước mà truyền thống hiếu học của người dân đă ngấm sâu vào huyết
quản từ ngàn xưa th́ thặng dư trí tuệ phải là thế mạnh. Buồn thay,
chúng ta chưa tạo tiền đề để khai thác cơ may này. Phải ư thức đây
chính là tiềm lực quư hiếm để hội nhập vào nền kinh tế tri thức.
Tiềm lực này chưa được khai thác đúng mức!
Kết hợp nghiên cứu khoa học với giảng dạy.
Một việc cần làm ngay trong hệ thống giáo dục Đại học, đặc biệt tại
các trường khoa học công nghệ trọng điểm là kết hợp nghiên cứu với
giảng dạy. Những người làm nghiên cứu nên tham gia giảng dạy để bớt
giờ các thầy ở các trường. Các thầy ở các trường chạy sô nhiều quá
nên không có th́ giờ để nghiên cứu. Kết hợp các trung tâm nghiên cứu
với các trường đại học. Trừ những trung tâm nghiên cứu có tính chất
chiến lược đối với quốc gia, những trung tâm khác có thể sát nhập
vào các trường để các trường chủ động được, để những kết quả nghiên
cứu có chất lượng được truyền bá cho sinh viên thông qua bài giảng,
hoặc seminar. Những người làm nghiên cứu có hiệu quả mà không phổ
biến được cho những người đi sau những thành quả đạt được th́ quả là
phí phạm. Ngược lại, các giáo sư giảng dạy không có th́ giờ nghiên
cứu sẽ dẫn đến chất lượng bài giảng xuống cấp. Thông thường ở các
nước phát triển cứ 3 năm là thay đổi giáo tŕnh v́ công nghệ, khoa
học phát triển như vũ băo, trong khi đó giáo tŕnh của ta hơn 30 năm
nay không đổi!
Để nâng cao chất lượng giáo dục phải có yếu tố quốc tế
Muốn có chất lượng giáo dục tốt th́ phải quốc tế hoá các hệ giá trị
ở Đại học. Các luận án tiến sĩ ít nhất phải có mặt một giáo sư quốc
tế trong hội đồng chấm luận án. Nếu người chấm luận án đó không về
nước được th́ cũng phải thẩm định được bằng cách gửi luận văn qua
internet để họ thẩm định rồi gởi về. Và ít nhất cũng phải có hai
giáo sư tham gia hội đồng chấm luận án không phải xuất phát từ
trường của nghiên cứu sinh để bảo đảm tính khách quan. Đồng thời,
luận án đó phải được công bố trước và sau khi tŕnh để mọi người cho
ư kiến. Như vậy, hễ có quay cóp th́ sẽ phát hiện nhanh chóng. Việc
quốc tế hoá này nên dựa vào nguồn nhân lực Việt kiều. Giới trí thức
Việt kiều mong có sự tín nhiệm để làm việc. Tôi nghĩ là Việt kiều
đang tham gia giảng dạy ở đông đảo các trường đại học trên thế giới
sẽ sẵn sàng tham gia vào công việc này nếu có được một cơ chế vừa
hợp lư vừa thông thoáng. Chúng ta cũng cần quốc tế hoá hội đồng
tuyển chọn Giáo sư. Không nhất thiết phải ở cấp Bộ, mà cấp các
trường Đai học vẫn có thể trực tiếp tuyển chọn Giáo sư. Vấn đề là
phải công khai quá tŕnh tuyển chọn. Hồ sơ các ứng viên phải được
công bố và việc xếp hạng các ứng viên phải dành cho cơ sở bao gồm
những nhà chuyên môn trong lĩnh vực. Hội đồng tuyển chọn cũng phải
có mặt những nhà khoa học được quốc tế công nhận. Dĩ nhiên là tiêu
chuẩn tuyển chọn phải khách quan và minh bạch.
Nhận thức về tính đẳng cấp quốc tế sẽ rất sai lầm khi cho rằng chỉ
cần mang giáo tŕnh của MIT, Havard về rồi dùng để đào tạo là xong.
Thú thật tôi rất buồn khi đọc trên báo chí đâu đó cách nh́n này. Nó
quá hạn hẹp và cục bộ. Những ǵ thuộc về đẳng cấp th́ không thể học
lơm được. Càng không thể lấy bài giảng của người khác làm của ḿnh
khi ḿnh không can qua nghiên cứu khoa học thực thụ. Một giáo sư có
đẳng cấp quốc tế thường viết ra giáo tŕnh sau khi bơ ra hàng chục
năm nghiên cứu miệt mài trong ngành đó, có thời gian dài hạn cọ xát
với mảng khoa học tiên tiến ấy. Đào tạo đẳng cấp th́ phải có người
đẳng cấp dạy. Các trường ĐH có đẳng cấp quốc tế họ t́m mọi cách để
câu cho được giáo sư đẳng cấp về dạy. Đẳng cấp của họ được đánh giá
thông qua quá tŕnh nghiên cứu, số công tŕnh đă công bố quốc tế và
qua ảnh hưởng khoa học của giáo sư đó. Để có được khoa học công nghệ
có đẳng cấp quốc tế, ta phải bắt trúng người, phải t́m cho được
những đầu tàu như thế. Trung Quốc và Singapore làm rất tốt điều này.
Và muốn thẩm định đẳng cấp của một trường, phải chờ 10 đến 20 năm
sau. Phải chờ xem khi sinh viên ra trường họ có tiếp tục nghiên cứu
khoa học không, họ công bố các bài báo quốc tế trên báo nào, họ vào
công ty, xí nghiệp làm những công việc ǵ?…
Đi tắt đón đầu để hội nhập vào sân chơi giáo dục toàn cầu cần thu
hút chất xám Việt kiều
Sức mạnh của dân tộc Việt nam là ở nhân dân Việt nam. Trong thời
kháng chiến chúng ta thấy rơ, nhưng trong thời b́nh chúng ta lại
chưa phát huy có hiệu quả. Các hoạt động phải phong phú hơn nữa để
khai thác các tiềm lực của dân tộc Việt nam. Chúng ta phải mở rộng
tổ chức hội dân sự để xă hội Việt nam hoà nhập với quốc tế. Con
người Việt nam rất sáng kiến, con người Việt nam rất năng động, cần
cù và thông minh, nhưng phải có đất dụng vơ. Chúng ta phải biết đề
bạt người tài ba đúng chỗ. Chúng ta phải đổi mới tư duy về quản lư
con người chứ không nên chỉ dựa vào lư lịch, hành chánh. Đừng quên
khi chúng ta vào WTO là chúng ta vào sân chơi của thế giới tư bản.
Nhưng đây không phải là tư bản hoang dă nữa, mà là tư bản có điều
tiết, có tính xă hội. Bởi vậy mới có khái niệm và xu huớng ổn định
chính trị, phát triển bền vững.
Phải tin tưởng vào Việt kiều. Chúng ta thấy rằng, không một dân tộc
nào có tấm ḷng yêu nước nồng nàn như dân tộc Việt. Chúng ta cũng
phải chọn lựa Việt kiều theo những tiêu chuẩn đánh giá về năng lực.
Chúng ta phải thu hút cho được những Việt kiều có năng lực. Nhưng
thông thường những người thuộc loại này lại không có nhiều th́ giờ.
V́ vậy nên thu hút những Việt kiều có tŕnh độ nhưng sắp về hưu.
Chúng ta muốn so đo trong thị trường quốc tế ngày nay th́ phải có
yếu tố quốc tế vào trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là đào tạo tiến sỹ,
đào tạo thầy, xây dựng những trường trọng điểm. Chúng ta phải quốc
tế hoá mạnh mẽ. Cách đi nhanh nhất là vận dụng một lợi thế vô cùng
to lớn là chất xám Việt kiều. Phải nói là Việt Nam vẫn chưa có chính
sách hợp lư và hữu hiệu để thu hút nguồn chất xám Việt kiều. Kỳ vọng
phát xuất từ nghị quyết 36 của Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam
vẫn c̣n là kỳ vọng trên những trang giấy.
Tổ công tác về xây dựng một trường ĐH đẳng cấp tại Việt Nam, không
có bóng dáng một thành viên Việt kiều, nay đă giải thể. Tân bộ
trưởng Bộ GD&ĐT đang năng nổ tổ chức lại. Tôi hy vọng rằng lần này,
thiếu sót ấy sẽ không xảy ra nữa.
Văn
hào Miguel Angel Asturias (người Guatemala, giải Lénine năm 1966,
giải Nobel năm 1967) có lần đă nói: “Tôi sáng tạo v́ tôi có ḷng
tin, người có ḷng tin mới có sáng tạo”. Đổi mới là một sáng tạo của
Việt Nam, tiếp tục đổi mới, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và đào
tạo cần nhiều ḷng tin ở con người Việt Nam, trong ấy có người Việt
Nam đang sinh sống ở nước ngoài.
GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng
(Bỉ quốc, ngày 9/1/2007)
Nguồn:
http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/ykienbandoc/2007/01/654154/ |
|