|
ĐẦU TƯ ĐẠI HỌC QUỐC TẾ SAU WTO*
Nguyễn Xuân Thu
Trong những ngày gần đây, nhiều người nghĩ rằng sau khi Việt Nam gia
nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các cơ sở giáo dục đại học
nước ngoài sẽ ồ ạt xâm nhập thị trường giáo dục Việt Nam. Với chút
ít kinh nghiệm trong lĩnh vực này, tôi có một số suy nghĩ ngược lại.
Sẽ không có những lâu đài giáo dục đại học nguy nga do người nước
ngoài đầu tư xây dựng nên tại Việt Nam, mà nếu có, th́ chỉ là những
mái hiên bên cạnh những ngôi nhà giáo dục đại học Việt Nam. Sau đây
là một số suy nghĩ.
LƯ DO SẼ KHÔNG CÓ NHỮNG LÂU ĐÀI GIÁO
DỤC ĐẠI HỌC NGUY NGA
Trước hết muốn đầu tư là phải có tài
chính dồi dào. Nhưng hiện nay không có một trường đại học nào trên
thế giới có thừa tiền. Ngay cả trường Đại học Harvard, một trường
đại học có 26 tỷ USD trong ngân hàng, cũng không thừa tiền. Số tiền
lời từ ngân hàng chỉ đủ để chi 21% toàn ngân sách hàng năm của
trường. Số c̣n lại phải nhờ vào học phí, tiền thu từ các dự án
nghiên cứu, từ các dịch vụ, bằng sáng chế. Lúc cần thêm tiền để chi
cho một dự án nào khác trường phải nhờ vào các chương tŕnh quyên
tiền.
Giả thiết là một trường đại học nào đó
có đủ tiền, cũng không phải là có thể dễ dàng được phép đầu tư vào
bất cứ một nước nào. Họ phải chứng minh đầu tư xây dựng một trường
đại học ở nước ngoài là để làm ǵ? Để thu tiền lời về cho trường
chăng? Chắc chắn là không v́ đầu tư vào giáo dục để chia tiền lời
th́ không phải là truyền thống của các nước phát triển phương Tây.
Tại các nước này, không ai nghĩ là xây dựng nên một cơ sở giáo dục
là để có lợi nhuận và chia lợi nhuận như ở một số nước đang phát
triển. Để xây dựng uy tín chăng? Lại càng không, v́ những trường lớn
ở Mỹ, ở Anh, ở Canada, ở Úc … họ đă có tiếng ngay trên đất nước họ
và trên thế giới. Đó là chưa kể đến sự chống đối mănh liệt từ phía
sinh viên, công đoàn trong trường v́ một sự đầu tư lớn như thế sẽ
phân tán nguồn lực của trường, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của
trường.
Chúng ta cũng thấy thêm rằng Trung
Quốc đă gia nhập WTO từ năm 2000 và nhiều nước trong vùng châu Á
cũng đă hội nhập vào nền kinh tế thế giới trước Việt Nam rất lâu
nhưng tại các nước ấy đến nay vẫn không có các cơ sở giáo dục đại
học nước ngoài mọc lên ồ ạt như ta tưởng.
Sau cùng, không phải lúc gia nhập vào
WTO Việt Nam mới có cơ sở pháp lư để các trường đại học nước ngoài
nhập vào thị trường Việt Nam. Sự thực Việt Nam đă có Nghị định của
Chính phủ số 06/2000 khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài mở các
cơ sở y tế, giáo dục và đào tạo, và nghiên cứu khoa học tại nước ta
từ tháng ba năm 2000 và hơn một năm sau, có thêm Nghị định số
18/2001 của Chính phủ ra đời, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các
tổ chức và cá nhân nước ngoài muốn mở các cơ sở văn hóa, giáo dục
phi lợi nhuận tại Việt Nam. Thế nhưng từ đó đến nay, ngoài trường
Đại học RMIT ra, không có một cơ sở giáo dục đại học nào khác có tầm
cỡ ra đời như chúng ta mong ước.
BỨC TRANH GIÁO DỤC QUỐC TẾ TẠI VIỆT
NAM
Hiện nay tại Việt Nam đă có vài trăm
cơ sở giáo dục do người nước ngoài làm chủ, nhưng đó là những ngôi
trường rất nhỏ giảng dạy tiếng Anh và một số môn như vi tính, kế
toán, kinh doanh và chỉ được phép cấp các chứng chỉ chứ chưa có đủ
tiêu chuẩn để có thể cấp các văn bằng bậc đại học. Ngoài ra, cũng có
một số trường nước ngoài liên kết với một số trường đại học của Việt
Nam để dạy và cấp văn bằng tốt nghiệp đại học và trên đại học. Nhưng
phải khách quan mà nói rằng các chương tŕnh liên kết này thật sự
chưa tạo được niềm tin trong xă hội cả về mặt hàn lâm lẫn về chất
lượng đào tạo.
Nói
như thế không có nghĩa là sau khi đă gia nhập WTO, Việt Nam sẽ không
có những làn sóng đầu tư của người nước ngoài vào giáo dục nói chung
và giáo dục đại học nói riêng. Nhưng những làn sóng đầu tư này không
tạo nên được những lâu đài đại học nguy nga như một số người nghĩ và
tưởng. Những nhà đầu tư nước ngoài ấy nếu có sẽ không đến từ các
nước nói tiếng Anh mà có thể là những đại gia muốn đầu tư vào giáo
dục tại Việt Nam để kiếm lợi nhuận. Muốn làm điều đó, họ có thể xây
dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị và liên kết với các
trường đại học có chất lượng cao tại một số nước phát triển phương
Tây để mở các cơ sở giáo dục tại Việt Nam. V́ lợi nhuận vẫn là mục
tiêu chính nên những cơ sở giáo dục ấy khó có thể phát triển thành
những trường đại học lớn.
MỘT LOẠT CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG QUỐC TẾ SẼ RA ĐỜI
Trái với t́nh h́nh giáo dục đại học, sau WTO Việt Nam sẽ bùng nổ
hàng loạt những ngôi trường phổ thông quốc tế như một số ít trường
đă xuất hiện tại Việt Nam từ 15 năm nay.
Cũng cần hiểu rơ lịch sử ra đời của hệ thống các trường phổ thông
quốc tế. Sau khi Thế chiến thứ hai chấm dứt, do nhu cầu công tác
trong nhiều lĩnh vực khác nhau, các gia đ́nh người Mỹ có mặt khắp
mọi nơi trên thế giới. Để có nơi học tập cho con em những gia đ́nh
này, các tư nhân và một số công ty lớn của Mỹ đă thành lập các
trường phổ thông quốc tế ở nước ngoài. Chương tŕnh học trong các
trường này dựa trên chương tŕnh của Mỹ và tiếng Anh là ngôn ngữ
chính. Từ đó đến nay trên thế giới đă có trên 1700 trường trong đó
có không dưới 200 trường do người Mỹ lập ra.
Tại Việt Nam trong những năm sắp tới
có thể có rất nhiều nhà đầu tư trong nước và nước ngoài liên kết cho
ra đời các trường mang nhăn hiệu “trường phổ thông quốc tế” như các
nước đă và đang làm từ 50 năm nay. Lư do vốn đầu tư không lớn, dễ
điều hành, dễ kiếm giáo viên, và hiệu quả đầu tư cao.
LÀM THẾ NÀO ĐỂ CÓ THỂ XÂY DỰNG ĐƯỢC
NHỮNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC LỚN?
Trên 60 năm trước đây các trường Đại
học Harvard và Princeton của Mỹ ước mơ được như các trường đại học
của Đức nơi thời ấy sản xuất ra phần lớn các nhà khoa học lớn của
nhân loại. Thế nhưng 60 năm sau, các trường đại học Đức lại mơ ước
được như các trường đại học của Mỹ. Cái ǵ đă làm đảo lộn trật tự
thứ bậc của các trường đại học như thế? Vào thập kỷ đầu tiên của thế
kỷ trước, trường Đại học Thanh Hoa của Trung Quốc chỉ là một trường
dạy các lớp dự bị đại học để chuẩn bị cho sinh viên Trung Quốc vào
học các trường đại học tại Mỹ. Qua giữa thập kỷ thứ hai, với sự hợp
tác và liên kết với các trường đại học của Mỹ, trường Đại học Thanh
Hoa trở thành trường đại học cấp văn bằng tốt nghiệp đại học. Sau
nhiều thập kỷ chiến tranh, ngày nay trường Đại học Thanh Hoa là một
trong vài trường nổi tiếng nhất của Trung Quốc.
Những bài học từ các trường đại học
trên cho ta thấy rằng hợp tác, liên kết là mô h́nh khả thi nhất để
Việt Nam có thể phát triển những trường đại học có chất lượng cao và
xây dựng nên những nhăn hiệu lớn. Vậy muốn có được những sự hợp tác,
liên kết ổn định, theo ư nghĩ của chúng tôi, Chính phủ thông qua Bộ
Giáo dục và Đào tạo cần xây dựng các chiến lược phát triển đối tác ở
cấp quốc gia. Để có thể xây dựng được các chiến lược ấy, chúng ta
phải t́m hiểu nền khoa học, kỹ thuật lớn nhất thế giới phần lớn phát
xuất từ những quốc gia nào? Những ngoại ngữ nào được sử dụng phổ
biến nhất ở Việt Nam và trên các diễn đàn quốc tế và khu vực về các
lĩnh vực kinh tế, xă hội, văn hóa giáo dục, khoa học và công nghệ?
Chúng ta đang có quan hệ thương mại lớn với các nước nào? Từ đó,
Chính phủ khuyến khích và tạo mọi điều kiện để giúp các trường đại
học phát triển đối tác, hợp tác và liên kết, và có chính sách khuyến
khích mọi thành phần dân chúng đầu tư vào giáo dục tốt nhất. Nếu
không có những chính sách như vậy, sự phát triển đối tác và đầu tư
vào giáo dục của nhà nước sẽ kém hiệu quả, chắc chắn sẽ dẫn đến t́nh
trạng tụt hậu trong giáo dục so với các nước trong vùng./.
NXT
*Tựa đề do CL
đặt
Tác giả là
nguyên GS ĐH RMIT, Australia |