WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

 

ĐẦU TƯ ĐẠI HỌC QUỐC TẾ SAU WTO* 

Nguyễn Xuân Thu

Trong những ngày gần đây, nhiều người nghĩ rằng sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các cơ sở giáo dục đại học nước ngoài sẽ ồ ạt xâm nhập thị trường giáo dục Việt Nam. Với chút ít kinh nghiệm trong lĩnh vực này, tôi có một số suy nghĩ ngược lại. Sẽ không có những lâu đài giáo dục đại học nguy nga do người nước ngoài đầu tư xây dựng nên tại Việt Nam, mà nếu có, th́ chỉ là những mái hiên bên cạnh những ngôi nhà giáo dục đại học Việt Nam. Sau đây là một số suy nghĩ. 
 

LƯ DO SẼ KHÔNG CÓ NHỮNG LÂU ĐÀI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NGUY NGA 

Trước hết muốn đầu tư là phải có tài chính dồi dào. Nhưng hiện nay không có một trường đại học nào trên thế giới có thừa tiền. Ngay cả trường Đại học Harvard, một trường đại học có 26 tỷ USD trong ngân hàng, cũng không thừa tiền. Số tiền lời từ ngân hàng chỉ đủ để chi 21% toàn ngân sách hàng năm của trường. Số c̣n lại phải nhờ vào học phí, tiền thu từ các dự án nghiên cứu, từ các dịch vụ, bằng sáng chế. Lúc cần thêm tiền để chi cho một dự án nào khác trường phải nhờ vào các chương tŕnh quyên tiền. 

Giả thiết là một trường đại học nào đó có đủ tiền, cũng không phải là có thể dễ dàng được phép đầu tư vào bất cứ một nước nào. Họ phải chứng minh đầu tư xây dựng một trường đại học ở nước ngoài là để làm ǵ? Để thu tiền lời về cho trường chăng? Chắc chắn là không v́ đầu tư vào giáo dục để chia tiền lời th́ không phải là truyền thống của các nước phát triển phương Tây. Tại các nước này, không ai nghĩ là xây dựng nên một cơ sở giáo dục là để có lợi nhuận và chia lợi nhuận như ở một số nước đang phát triển. Để xây dựng uy tín chăng? Lại càng không, v́ những trường lớn ở Mỹ, ở Anh, ở Canada, ở Úc … họ đă có tiếng ngay trên đất nước họ và trên thế giới. Đó là chưa kể đến sự chống đối mănh liệt từ phía sinh viên, công đoàn trong trường v́ một sự đầu tư lớn như thế sẽ phân tán nguồn lực của trường, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của trường. 

Chúng ta cũng thấy thêm rằng Trung Quốc đă gia nhập WTO từ năm 2000 và nhiều nước trong vùng châu Á cũng đă hội nhập vào nền kinh tế thế giới trước Việt Nam rất lâu nhưng tại các nước ấy đến nay vẫn không có các cơ sở giáo dục đại học nước ngoài mọc lên ồ ạt như ta tưởng. 

Sau cùng, không phải lúc gia nhập vào WTO Việt Nam mới có cơ sở pháp lư để các trường đại học nước ngoài nhập vào thị trường Việt Nam. Sự thực Việt Nam đă có Nghị định của Chính phủ số 06/2000 khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài mở các cơ sở y tế, giáo dục và đào tạo, và nghiên cứu khoa học tại nước ta từ tháng ba năm 2000 và hơn một năm sau, có thêm Nghị định số 18/2001 của Chính phủ ra đời, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và cá nhân nước ngoài muốn mở các cơ sở văn hóa, giáo dục phi lợi nhuận tại Việt Nam. Thế nhưng từ đó đến nay, ngoài trường Đại học RMIT ra, không có một cơ sở giáo dục đại học nào khác có tầm cỡ ra đời như chúng ta mong ước.  
 

BỨC TRANH GIÁO DỤC QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM 

Hiện nay tại Việt Nam đă có vài trăm cơ sở giáo dục do người nước ngoài làm chủ, nhưng đó là những ngôi trường rất nhỏ giảng dạy tiếng Anh và một số môn như vi tính, kế toán, kinh doanh và chỉ được phép cấp các chứng chỉ chứ chưa có đủ tiêu chuẩn để có thể cấp các văn bằng bậc đại học. Ngoài ra, cũng có một số trường nước ngoài liên kết với một số trường đại học của Việt Nam để dạy và cấp văn bằng tốt nghiệp đại học và trên đại học. Nhưng phải khách quan mà nói rằng các chương tŕnh liên kết này thật sự chưa tạo được niềm tin trong xă hội cả về mặt hàn lâm lẫn về chất lượng đào tạo. 

Nói như thế không có nghĩa là sau khi đă gia nhập WTO, Việt Nam sẽ không có những làn sóng đầu tư của người nước ngoài vào giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng. Nhưng những làn sóng đầu tư này không tạo nên được những lâu đài đại học nguy nga như một số người nghĩ và tưởng. Những nhà đầu tư nước ngoài ấy nếu có sẽ không đến từ các nước nói tiếng Anh mà có thể là những đại gia muốn đầu tư vào giáo dục tại Việt Nam để kiếm lợi nhuận. Muốn làm điều đó, họ có thể xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị và liên kết với các trường đại học có chất lượng cao tại một số nước phát triển phương Tây để mở các cơ sở giáo dục tại Việt Nam. V́ lợi nhuận vẫn là mục tiêu chính nên những cơ sở giáo dục ấy khó có thể phát triển thành những trường đại học lớn.  
 

MỘT LOẠT CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG QUỐC TẾ SẼ RA ĐỜI 

Trái với t́nh h́nh giáo dục đại học, sau WTO Việt Nam sẽ bùng nổ hàng loạt những ngôi trường phổ thông quốc tế như một số ít trường đă xuất hiện tại Việt Nam từ 15 năm nay.  

Cũng cần hiểu rơ lịch sử ra đời của hệ thống các trường phổ thông quốc tế. Sau khi Thế chiến thứ hai chấm dứt, do nhu cầu công tác trong nhiều lĩnh vực khác nhau, các gia đ́nh người Mỹ có mặt khắp mọi nơi trên thế giới. Để có nơi học tập cho con em những gia đ́nh này, các tư nhân và một số công ty lớn của Mỹ đă thành lập các trường phổ thông quốc tế ở nước ngoài. Chương tŕnh học trong các trường này dựa trên chương tŕnh của Mỹ và tiếng Anh là ngôn ngữ chính. Từ đó đến nay trên thế giới đă có trên 1700 trường trong đó có không dưới 200 trường do người Mỹ lập ra. 

Tại Việt Nam trong những năm sắp tới có thể có rất nhiều nhà đầu tư trong nước và nước ngoài liên kết cho ra đời các trường mang nhăn hiệu “trường phổ thông quốc tế” như các nước đă và đang làm từ 50 năm nay. Lư do vốn đầu tư không lớn, dễ điều hành, dễ kiếm giáo viên, và hiệu quả đầu tư cao. 
 

LÀM THẾ NÀO ĐỂ CÓ THỂ XÂY DỰNG ĐƯỢC NHỮNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC LỚN? 

Trên 60 năm trước đây các trường Đại học Harvard và Princeton của Mỹ ước mơ được như các trường đại học của Đức nơi thời ấy sản xuất ra phần lớn các nhà khoa học lớn của nhân loại. Thế nhưng 60 năm sau, các trường đại học Đức lại mơ ước được như các trường đại học của Mỹ. Cái ǵ đă làm đảo lộn trật tự thứ bậc của các trường đại học như thế? Vào thập kỷ đầu tiên của thế kỷ trước, trường Đại học Thanh Hoa của Trung Quốc chỉ là một trường dạy các lớp dự bị đại học để chuẩn bị cho sinh viên Trung Quốc vào học các trường đại học tại Mỹ. Qua giữa thập kỷ thứ hai, với sự hợp tác và liên kết với các trường đại học của Mỹ, trường Đại học Thanh Hoa trở thành trường đại học cấp văn bằng tốt nghiệp đại học. Sau nhiều thập kỷ chiến tranh, ngày nay trường Đại học Thanh Hoa là một trong vài trường nổi tiếng nhất của Trung Quốc.  

Những bài học từ các trường đại học trên cho ta thấy rằng hợp tác, liên kết là mô h́nh khả thi nhất để Việt Nam có thể phát triển những trường đại học có chất lượng cao và xây dựng nên những nhăn hiệu lớn. Vậy muốn có được những sự hợp tác, liên kết ổn định, theo ư nghĩ của chúng tôi, Chính phủ thông qua Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xây dựng các chiến lược phát triển đối tác ở cấp quốc gia. Để có thể xây dựng được các chiến lược ấy, chúng ta phải t́m hiểu nền khoa học, kỹ thuật lớn nhất thế giới phần lớn phát xuất từ những quốc gia nào? Những ngoại ngữ nào được sử dụng phổ biến nhất ở Việt Nam và trên các diễn đàn quốc tế và khu vực về các lĩnh vực kinh tế, xă hội, văn hóa giáo dục, khoa học và công nghệ? Chúng ta đang có quan hệ thương mại lớn với các nước nào? Từ đó, Chính phủ khuyến khích và tạo mọi điều kiện để giúp các trường đại học phát triển đối tác, hợp tác và liên kết, và có chính sách khuyến khích mọi thành phần dân chúng đầu tư vào giáo dục tốt nhất. Nếu không có những chính sách như vậy, sự phát triển đối tác và đầu tư vào giáo dục của nhà nước sẽ kém hiệu quả, chắc chắn sẽ dẫn đến t́nh trạng tụt hậu trong giáo dục so với các nước trong vùng./.

NXT

*Tựa đề do CL đặt

Tác giả là nguyên GS ĐH RMIT, Australia

Bài trong tháng

Bye, bye! Con gà rũ cánh Beazly
Chiến tranh VN-TQ 1979
Cởi áo cà sa khoác chiến bào
Giáo dục sau WTO
Giải thưởng "Chuyện đời tự kể"
Hiệp sĩ thầm lặng
Hoa kỳ-Iraq-Việt Nam (1)
Hoa kỳ-Iraq-Việt Nam (2)
Hoa kỳ-Iraq-Việt Nam (3)
Mỹ nhân
Nepal-Hoà b́nh trong tầm tay
Người mẹ và 15 tấm ảnh
Noel
Phỏng vấn BS Trần Đông A
Sự nhiệm mầu đă đến
Thích Quảng Độ
Tiếng vỗ của một bàn tay
Truyện ngắn: Người leo dừa
VietWeekly Phỏng vấn Vơ Văn Kiệt
Vọng ngoại tắc ngu
Ân Sư
Đường đến đất Phật (3)
Đường đến đất Phật (4)
Đường đến đất Phật (5)
Đến vùng đất Phật (1)
Đến vùng đất Phật (2)
Đề án cải tổ giáo dục
Đọc báo bạn
Đọc tập truyện ngắn "Người leo dừa"

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE