|
Chân dung Phạm Xuân Ẩn - Kỳ cuối: Ngọn gió nên đời
anh hùng
“Có
ba nền văn hóa trong những người Việt Nam như tôi”. Henry Kamm trích
lời ông Ẩn, nhưng bài viết Kamm chỉ đưa ra biểu tượng của những nền
văn hóa ấy ở ḷng yêu nước, yêu con người, dũng cảm, khôn ngoan và
độ lượng. Những đặc tính lớn ấy cụ thể trong đời sống của ông như
thế nào?
“Khổng học trong ông già tôi nặng lắm. Gốc từ thời ông bà ông cố ông
sơ từ bao giờ. Lớ quớ là tôi ăn đ̣n liền. Văn hóa văn minh Việt Nam
nhân nghĩa lễ trí tín thấm sâu vào trong lối sống. Cụ Hồ trước lúc
mất cũng như suốt đời Cụ là những bài học đối nhân xử thế. Ông nội
tôi cũng găng lắm. Tôi vô lớp bét Đồng Ấu về, ông hỏi: thầy dạy em
đi học để làm ǵ. Dạ, để học tính, học đọc, học viết. Thế là ông
đánh cho một trận liền: Mày bỏ khúc đầu. Thầy bao giờ cũng dạy: Tiên
học lễ, hậu học văn…”
Dường như giờ đây là một người ông
thấu hiểu nỗi khốn khổ của trẻ con nên ông thương thằng cháu nội lắm,
thương cả trẻ con nói chung. Ông vẫn c̣n thấy h́nh ảnh của ḿnh khổ
v́ không sao ḥa hợp được các quan niệm của ông, cha ḿnh. “Ḿnh kẹt
cái đó”, vừa thương tuổi thơ, thương cả cha ḿnh vừa không có ǵ
trách giận, chỉ trách giận bản thân ḿnh. Bằng chứng để tự giận ḿnh
là mọi đứa trẻ ngày ấy không gặp vấn đề như ông. Lứa trẻ con ngày đó
nhiều đứa đă ḥa hợp được mà nên người, c̣n ông th́ không. Ông vẫn
nhớ ḿnh luôn được cha mẹ dạy rất kỹ các phép tắc: “Đi đường thấy
chai bể không được phớt lờ đi qua, mà phải lượm để vào gốc cây cho
ai đi qua vô ư không đạp phải. Khách đến chơi, không được leo lên sa
lông, ghế ngồi hóng chuyện. Đến chơi nhà ai nếu không được phép th́
không ngó nghiêng hay tự ư vào pḥng trong…” Ông nói sơ qua về lối
dạy dỗ thường của gia đ́nh truyền thống Việt Nam nặng Nho giáo.
Thế c̣n văn hóa Pháp? Ảnh hưởng ra sao?
“Từ lúc học trung học là đă thuộc văn hóa, lịch sử, văn chương Pháp.
Lịch sử Việt Nam chỉ học cấp dưới, lên trung học là thôi. Học địa lư
Pháp là phải thuộc từ cục đá, con sông, có h́nh ảnh chứ như bây giờ
thấy toàn vẽ không. Chỉ có một nước nó không cho học là Liên Xô. Á
Châu mà nó trừ Nga!”. Ông nhớ lại thuở đi học ấy. Cách dạy của Pháp
tuy có nhồi sọ thật, nhưng lần đầu tiên có thêm cho người học sinh
nhiều khái niệm mới. “Khái niệm về vấn đề quốc gia, nhà nước lúc ấy
học sinh mới được dạy. Sách giáo khoa dày cộp, phải học kỹ. Đi thi
trả lời loạng choạng là rớt liền. Thí dụ nó dạy ăn cắp của nhà nước
là ăn cắp của mọi người, phải nói đúng khái niệm, chứ không thể nói
kiểu xâm phạm tài sản xă hội chủ nghĩa như bây giờ ta nói. Phải học
thuộc ḷng. Cả cách đối xử với mọi người: lúc lên thang, ngồi xe có
phụ nữ. Học từng tí”.
C̣n sự ảnh hưởng của văn hóa Mỹ, th́
rơ ràng ông đă học được nhiều điều thiết thực làm thay đổi các suy
nghĩ thông thường. Câu chuyện ông hay kể lại về ḿnh “có cái thông
minh, có cái ngu”. Người ta hỏi v́ sao làm đường phải ngoằn ngoèo.
Nghĩ một lúc th́ trả lời là làm thế cho tài xế phải chú ư mà không
dám ngủ gật! Đâu phải! Thực tế hơn nhiều: con đường chạy sao cũng
gặp các khu mồ mả, đất riêng của dân. Có khi do tiền không có nhiều
phải làm đường uốn ṿng vèo tránh khúc khó. Thời Pháp quy định sĩ
quan cấp nào không được lái xe. Binh nh́, hạ sĩ, lái xe Jeep, sĩ
quan không được đi xe đạp. Nếu cần phải ngồi xích lô giữ tư thế.
Không được đi xe điện. Đến thời Mỹ, viên trung tá hẳn hoi cũng xắn
tay áo sửa xe. Cái ǵ thuận lợi, tốt cho cuộc sống th́ làm… Văn hóa
thực dụng kiểu Mỹ đă dạy nhiều thứ…
Ông kể nhiều chuyện đời sống và các
câu chuyện đơn giản ấy của thời cuộc đă tạo nên con người: “Nặng
chất Việt Nam, yêu nước số một là người Việt Nam. Pháp th́ mở ra
những khái niệm công bằng tự do bác ái. Mỹ th́ nặnglà vấn đề lao
động, thực tế. Có làm mới có sáng kiến và kỷ luật. Cai trị bằng luật.
Thế giới nhiều luật sư nhất là Mỹ. Tranh chấp việc bầu cử Tổng thống
giữa Bush và Gore vừa rồi mỗi bên 500 luật sư theo dơi ở Florida.
Trưởng cảnh sát ở cấp quận là phải bầu…”
Dưới dàn cây bóng mát, ông có thể vừa
cho chim ăn, vừa tṛ chuyện nhỏ nhẹ và các câu chuyện đều mang ư
nghĩa rất gần gũi đời sống. “Rất Mỹ”. Cái cảm giác đó không rơ bắt
đầu từ cái ǵ. Khó ḷng tách bạch, bởi ở ông toát lên một nét nhân
văn rất Việt Nam. Rơ ràng không phải là một ông già yếu ớt lo sợ
trước cuộc đời xáo động. Có thể “Chung sống ḥa b́nh” với các bệnh
tật, trào lộng hồn nhiên mà không lộ liễu. Ở ông vừa có một cậu bé
tinh nghịch yêu súc vật cây cỏ, một người ṭ ṃ kỹ thuật nhưng lại
sống bằng nghề phân tích và tư duy trừu tượng. Ông không viết ra như
Đoàn Giỏi, Sơn Nam, cũng chẳng nghiên cứu bác học như cụ Vương Hồng
Sển, nhưng ông sống thấm đẫm quê hương. Có lẽ cái dáng vẻ thi nhân
của ông mà kư giả nước ngoài cảm thấy mà họ không thể chứng minh.
Đời ông hoàn toàn xa cách với thi ca.
Ông làm cái nghề, ngay từ lúc mới nhận
nhiệm vụ đă không muốn, cái nghề của khôn ngoan, của suy xét trước
sau không được sai một ly. Một ly là mất mạng, là hỏng việc nước… Có
thể đó phải là con người luôn mở to mắt nh́n, toan tính cho rơ,
tránh những sai lầm. Vậy mà lại dáng thi nhân và một triết gia. Vẻ
phong nhă thi sĩ và cái khôn ngoan triết gia có thể chắc chắn đă
thấm vào ông từ nền văn minh Á Đông mềm mại nhất. Nó bắt đầu từ đâu
nhỉ? Thật khó biết rạch ṛi. Bắt đầu từ cái thuở trước Đại chiến Thế
giới thứ hai?
“Lúc tôi 9, 10 tuổi, sống ở Sài G̣n, bắt đầu biết cảm nhận cái thành
phố nhiều chỗ để chơi này”. Chú bé 10 tuổi xuống xưởng Ba Son, vào
Sở Thú học làm Tazan leo cây đa, đu để rớt ào xuống sông lại bơi vào
đeo tọng teng trên rễ đa. Làm quen với một ông thợ xưởng Ba Son xin
ông đúc cho đồng xu nặng để đánh đáo: “Ổng cưa cho miếng, và mài
bóng lên. Vào khoảng năm 1928 khi chưa có tiền xu đồng nặng, tới năm
1935 là nhẹ rồi, dùng làm cái chọi. Măi sau này mới có đồng nửa xu”.
Một chú bé nghịch ngợm, ham chơi, say khám phá, cho đến bây giờ
thành một người nhiều tuổi vẫn yêu măi cái thành phố thuở xưa ấy.
“Lúc đó dân c̣n thưa thớt, ở xa. Dinh Đốc lư Sài G̣n một cái, Chợ
Lớn một cái. Thành phố thoải mái. Tôi th́ có tật lang bang chơi
nhiều, đi khắp, cái ǵ cũng biết. Tây th́ sống ở mạn bến Bạch Đằng,
Sở Thú, dinh Norodom. Tây luôn lựa đất cao ở, họ không chịu được
phong thấp của xứ nóng. Vùng cao nhất Sài G̣n là vùng Sở Thú. Cây
lớn. Lúc đó mới chỉ là vườn bách thảo. Sau dần mới có đem thú vô.
Tây th́ luẩn quẩn ở đó thôi, khu của người Pháp. Bao giờ cũng vậy:
nhà ông toàn quyền, dinh Norodom (nay là dinh Thống nhất). Vừa hành
chính chen lẫn khu nhà ở. Xây ở tỉnh nào cũng vậy, luôn có nhà ông
chánh tức là tỉnh trưởng, rồi đến ṭa án, khám lớn. Dân sang trọng
cũng ở gần đó…”
Trong kư ức cậu bé, Sài G̣n xưa c̣n
nhỏ, ra khỏi là đến Gia Định. Bên kia cầu Thị Nghè là Gia Định.
Đakao đă là ngoại ô. Sài G̣n lúc đó nhiều Tây, có tới 50 ngàn người
Pháp cai trị toàn Nam Kỳ. Xuống bờ sông là hải quân. Nhà cửa chạy từ
Sở Thú xuống tới Đại Sứ quán Mỹ bây giờ, là doanh trại trung đoàn bộ
binh thuộc địa 11 của Pháp 11e Régiment d’ Infanteric Coloniale (11e
R.I.C). Ông vẫn c̣n nhớ: “Nhà kiểu doanh trại, nay h́nh dáng gốc vẫn
c̣n y nguyên, chỉ sửa bên ngoài”.
Xem ra chú bé này nghịch đủ mọi thứ:
“Cúng lăng Ông, lẻn vô coi hát bội. Năm nào cũng cúng lớn. Đứng coi
ai cao phía sau. Phía trước ngồi. Nam nữ lúc đó c̣n thụ thụ bất thân.
Tôi đứng, nhổ nhang sướng lắm. Nhang lớn, bằng cái cẳng cái. Thích
Tết. Noel vào nhà thờ Gia Định coi lễ. Ở đó, trước trống trơn, có cả
ao hồ, xe điện từ G̣ Vấp, Hóc Môn ra Chợ Lớn. Đi xe điện mấy xu.
Muốn đi ciné th́ lên xe điện ra Đakao gần Cầu Bông. Đi sớm chút.
Thường đi một ḿnh, hoặc với đứa em gái 8 tuổi. Nếu đi một ḿnh th́
khoái hơn, chui vô mua giấy xe điện. Có nhiều suất coi: 1 tới 3 giờ,
3 tới 5 giờ, 5 tới 7 giờ, 7 tới 9 giờ. Coi suất 3 tới 5 giờ có lợi:
ra c̣n coi Tây đầm đi Patin ở góc Đinh Tiên Hoàng, nay xây tùm lum
rồi. Coi đă, lên xe về. Chủ nhật th́ đi bộ, cầm cái ná bắn chim. Nhà
ở đường Cây Thị (gần Hàng Xanh), trồng toàn cây thị, lúc đó ruộng
hết, không có nhà. Chiều mát Tây đầm chạy xe hóng mát ṿng ṿng Hàng
Xanh, Cầu Bông, chạy về đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa bây giờ, về Sài G̣n.
Mùa thị chín, phố thơm lắm. 4, 5 giờ sáng đă ra lượm thị. Trái chín
vàng bỏ túi thơm như các chị thường làm. Hễ thấy có gió thổi nhiều
là chạy ra liền ngồi chờ.
Ông già tôi khi rảnh hay đem ra dạy
học. Hay đánh lắm. V́ con lười, chơi không. V́ vậy tôi hay trốn đi
chơi. C̣n đem theo cả vắt cơm. Đạn để bắn chim th́ ṿ viên tṛn phơi
khô bằng đất sét. Ṿ viên bây lớn, se lại phơi khô, để cái bao, bên
đây giàn thun, vắt cơm muối mè. Nói là đi chơi chút, là đi luôn. Bắn
chim xong tắm. Sông bần mọc đầy. Mà sông sạch lắm, nước trong vắt.
Hồi đó có nhà Phú Hữu sản xuất gạch đỏ, rất giàu. Tôi sang đó lấy
đất sét nắn nồi, soong, ba ông đầu rau. Củi cây mục bẻ chỗ nào cũng
có. Gia Định lúc đó nhiều rừng cao su. Từ chợ Gia Định có đường Chi
Lăng mọc cao su, tay trái là mả. Lấy mủ cao su làm banh đá nặng lắm.
Rồi bắt cá dưới ruộng. Nghĩa địa thấp, mưa ngập nước, ḥm mục, sọ
người trồi lên, cá đẻ vào đó. Hễ thấy bọt, nắm lấy xương sọ đổ rút
ra rổ là có cá!”…
Đúng là chú bé chơi thật đă, chẳng biết sợ là ǵ. Có lẽ chú đă lục
lọi khắp các ngơ ngách của cái thành phố tuổi thơ của chú không c̣n
bỏ sót xó nào. Không có phố nào không có kỷ niệm. Cho tới lúc thành
chiến sĩ t́nh báo rồi, đi làm phóng viên cho hăng Reuters rồi, những
con phố vẫn chưa thôi “dính dấp”.
“Thời kỳ làm cho Reuters, tôi đi làm lái xe ṿng sau dinh Độc Lập.
Thời kỳ 1961 - 1962 Lệ Xuân cấm chơi bạc nên các tay chơi phải tụ
tập ở quán, cá độ bằng số xe qua lại. Xe tôi đi qua cứ bị ném đá
hoài. Có đứa c̣n quát chửi theo, Đ.M cái xe này cứ qua đây hoài! Th́
ra là số tôi số NBC - 253 cộng lại là 10, số bù, đám cá cược gặp xui.
Ông Tuyến biết chuyện bảo tôi: “Đi lối khác đi. Tránh đường đó đi”.
Đánh bài cào, nhảy đầm, cái ǵ ông cũng chơi cũng thử. Thích nhất là
hay chơi ṿng ṿng đây đó. Một lần nhà văn Nguyễn Khải hỏi ông: “Làm
nghề t́nh báo giữa cái sống cái chết, ngay trong đầu năo địch, căng
thẳng vậy làm sao sống được”. Ổng trả lời: “Chơi!” Và nói giỡn: Đi
nhảy đầm ôm mấy cô là quên hết…
Cậu
bé lớn lên, thành người hoạt động t́nh báo, chứng kiến Sài G̣n trải
qua bao rung chuyển đổi thay. Sài G̣n chống Mỹ, Sài G̣n biểu t́nh,
Sài G̣n trong bom đạn Mậu Thân, Sài G̣n giải phóng. Từ cậu bé xài
những đồng xu đầu tiên bằng đồng điếu, (tiền xưa Bảo Đại lỗ vuông)
cho tới hôm nay vẫn chưa thôi “chơi” những “tṛ chơi” của cuộc sống.
Vẫn đ̣i hỏi gắng sức cho công việc không hề có kết thúc.
Bao
nhiêu người bạn bè đi xa đă trở về gặp gỡ, phỏng vấn măi không thỏa
măn mong muốn biết rơ về cuộc đời của ông. Kể cả những người đă từng
sống với ông nhiều quăng đời quá khứ. Cũng có những người bạn của
ông khác chính kiến đă ra đi, hẹn về gặp rồi không bao giờ trở về
nữa. Họ đă nằm lại một xứ sở khác, để không bao giờ c̣n được thỏa
ḷng mong ước thấy lại Sài G̣n với những con người kiệt xuất của nó
như Phạm Xuân Ẩn.
Những nhà báo nước ngoài không ngừng
miêu tả nhịp sống Sài G̣n hôm nay với đủ cách nh́n. Các nhà khoa học
Nhật Bản th́ tính rằng giao thông của thành phố này có thể gặp rắc
rối, mật độ dân cư đi lại dày đặc, tốc độ đi lại trung b́nh của xe
cộ đă giảm xuống chỉ c̣n 10-12km/giờ. Nhà báo khác th́ so sánh những
ṭa nhà cao ốc và thích chụp các ngơ hẻm hơn. Hậu trường của cái
thành phố được xây dựng từ thế kỷ thứ 17 này đă biến đổi. Khách sạn
thuộc địa, ṭa thị chính, nhà thờ xây theo kiệu Gô-tích h́nh như
đang mờ dần đi sau các cao ốc văn pḥng. Người ta nói tới những
chiếc cầu vượt sông, các dự án tuyến đường xe điện, các chung cư và
trung tâm thương mại lớn. Khách nước ngoài và Việt kiều có thể đi du
lịch ṿng ṿng bằng xích lô để thấy những hàng quán, ḍng người và
những biển quảng cáo nhiều màu. Tùy theo cách nh́n mỗi người, họ có
thể nói về xây dựng, phát triển, hay là chỉ thấy những bác xích lô
đẫm mồ hôi, những người ăn xin tàn tật. Hoặc chỉ thấy các vũ trường,
các nhà hàng với món xúp cua, tôm… Tất cả đều đúng với Sài G̣n v́ nó
có những thứ ấy trong nhịp điệu tăng trưởng của ḿnh. Chỉ có điều,
những doanh nhân ở các liên doanh với Hồng Kông, Đài Loan, Malaysia
hay Singapore, giờ đây đă là một thế hệ mới. Những vũ trường Queen B
hay Cheers, Tropical Rainforest Gossiv hay Pink Cadillac… hoặc là
các quán ăn uống rực sáng đèn giờ đây không chỉ dành cho những vị
khách thời thượng của ngày xa xưa.
Thời đại mới, có lớp người mới với
những phẩm chất mà lớp người xưa không có. Những ǵ ưu tú của lớp
người xưa, bây giờ có thể không giống cái ưu tú của thời nay. Nhiều
phẩm chất mới khác đang h́nh thành. Lớp người mới không c̣n phải
dùng đến thứ can đảm, chịu đ̣n tra, hoặc làm những việc chiến đấu
đạn bom. Thử thách hôm nay khác. Nhưng vượt lên trên hết, cái chất
Việt Nam đă chắt tận ḷng của ḿnh gửi vào con người. Sức mạnh tinh
thần đă được truyền đi một cách mầu nhiệm, bí ẩn. Nó mầu nhiệm bí ẩn
đến mức ta khó chỉ ra rạch ṛi.
Nó giống như là tôi không thể nào chỉ
ra nổi trong người t́nh báo Anh hùng Phạm Xuân Ẩn, đâu là phần cái
rễ cây đa và nước sông trong mát cho cậu nô nghịch thuở thiếu thời,
c̣n đâu là phần của những câu hát ru của bà mẹ, ngọn roi dạy dỗ một
cách đớn đau của người cha. Đúng như lời của một triết gia “Linh hồn
chính là quá khứ” (L’âme, c’est le Passe). Mà quá khứ của cuộc đấu
tranh anh dũng của dân tộc này đă gửi vào các cá nhân của nó bao gồm
những ǵ? Đó vẫn là một câu hỏi, một sự khám phá măi không thôi…
Với Phạm Xuân Ẩn, cũng có thể lắm, làm
nên đời anh hùng, có phần của những quả thị theo gió rơi xuống, thơm
lừng trong túi áo. Bên trong hột thị, chú bé vẫn đinh ninh là có con
Tấm, con Cám thật…
NGUYỄN THỊ
NGỌC HẢI
Quay lại phần đầu
|
|