|
Chân dung Phạm Xuân Ẩn - Kỳ 19: T́nh bạn trong phút
cuối
Nếu chỉ là các số, th́ ngày nay người
ta có thể biết một cách rộng răi bước đi cuối cùng của chiến thắng
đă diễn ra như thế nào! Ngày 6-1-1975 quân ta giải phóng Phước
Long; ngày 1-3 mở chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, đánh chiếm Buôn
Mê Thuột, tiểu khu Daklak. Địch hoảng hốt rút bỏ Pleiku, Kontum,
Quảng Trị, Huế, đưa lực lượng về cố thủ ở ven biển Miền Trung và bảo
vệ Sài G̣n. Quân ta truy kích suốt ngày đêm. Ngày 17-3 Pleiku,
Kontum giải phóng. 25-3 toàn bộ Tây Nguyên đă thuộc về cách mạng.
19-3 Quảng Trị, tuần cuối tháng 3 là Huế, Quảng Nam, Quảng Ngăi và
29-3 Đà Nẵng giải phóng, từ ngày 1 đến ngày 4 tháng tư 5 tỉnh nữa:
B́nh Định, Phú Yên, Khánh Ḥa, Lâm Đồng, Tuyên Đức được giải phóng.
Sau một tháng, quân ta giải phóng toàn bộ Tây Nguyên và duyên hải
Miền Trung.
Ngày 26-4 cuộc tổng công kích đánh
chiếm Sài G̣n - Gia Định bắt đầu. Quân ta từ 5 hướng tiến công, làm
tan ră các sư đoàn ngụy. Sư đoàn trưởng Sư 5 và 7 tự sát. Hàng loạt
sĩ quan, nhân viên chính quyền ngụy kéo nhau chạy ra nước ngoài.
Ngày 30-4 quân ta tấn công vào nội thành Sài G̣n và h́nh ảnh chính
quyền ngụy đầu hàng và chiếc xe tăng quân Giải phóng húc đổ cánh
cổng Dinh Độc Lập, lá cờ cách mạng được cắm trên nóc dinh, đă là
những h́nh ảnh tiêu biểu nhất trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam.
Sự kiện lịch sử có tính “thống kê niên
giám” ấy đă và vẫn đang được các nhà văn, nhà nghiên cứu của Việt
Nam và thế giới tiếp tục nghiên cứu, bởi t́m ra những tư liệu mới
măi chưa thôi. Riêng những ngày này, đă được Frank Snepp, chuyên
viên phân tích chiến lược của CIA viết hẳn cuốn sách
Cuộc tháo chạy tán loạn
(The dencent Interval) đưa ra phần nào h́nh ảnh của những ngày cuối
cùng này. Frank Snepp có điều kiện chứng kiến từng chi tiết, diễn
biến. Từ cách phản ứng thảm hại của các viên tướng ngụy thua trận bỏ
mặc quân lính tan ră, rồi lên máy bay ra tàu USS Midway trên biển
Đông để tháo chạy, cho tới cảnh Tổng thống
Dương Văn Minh buồn rầu bắt tay lần
cuối tham mưu trưởng Hải quân. Tại Nhà Trắng ở Hoa Thịnh Đốn, cũng
theo sự miêu tả của Snepp, “Tổng thống Ford mệt mỏi căng thẳng sau
một ngày dài lo nghĩ, đă lên giường nằm. Ông sắp uống như thường lệ,
một ly bia bơ nóng ở trên bàn. Dưới nhà, Kissinger tiếp tục đọc tin
mặt trận. Theo báo cáo mới nhất của chỗ Tướng Smith th́ quân đội Sài
G̣n đă sụp đổ và bộ chỉ huy không c̣n”. Quân chính phủ rút lui “như
đàn cua trước nước lên” (chữ dùng của Snepp) và cảnh hoảng hốt tán
loạn một cách khá chi tiết khi ra đi của các nhân vật như tướng
Timmes, Polgar (chủ nhiệm Sở CIA ở Việt Nam), Martin (đại sứ Mỹ) và
rất nhiều nhà báo nước ngoài cố gắng hành nghề đến giây phút cuối.
Cho
măi đến những năm sau này, báo chí Mỹ và các nước cố gắng tái hiện
lại càng chi tiết càng tốt những ǵ xảy ra ngày hôm đó, một thời
khắc hiếm hoi của lịch sử thế giới. “Đó là 4 giờ chiều của
Washington, Brent Scowroft cắt ngang cuộc họp ở Nhà Trắng để trao
cho Tổng thống Ford một tờ giấy vừa nhận tin. Đó là giờ phút bắt đầu
chiến dịch “Gió lớn” (Operation Frequent Wind) tên gọi của chiến
dịch di tản khỏi Sài G̣n”. Vào giờ đó, đài phát thanh Sài G̣n phát
bản nhạc hiệu đă quy định như mật hiệu rút lui, bản “White
Christmas” báo hiệu cho người Mỹ. Các nhà báo mô tả lại giây phút
phải chặt bỏ cả cây me trong Ṭa Đại sứ Mỹ để cho máy bay lên thẳng
có thể đổ xuống. Hàng ngàn người Việt Nam hoảng sợ la hét trước bức
tường Ṭa Đại sứ. Chính Snepp và các nhân viên sứ quán phải kéo
những người bạn quen của họ qua bức tường để vào bên trong và đạp
những người không quen xuống đất bên ngoài. Những cảnh chen lấn
hoảng sợ leo lên máy bay lên thẳng ở mái nhà Ṭa Đại sứ và mái nhà
của cơ quan CIA đường Gia Long đă trở thành biểu tượng của Sài G̣n
sụp đổ.
Tuần báo Newsweek đă miêu tả câu chuyện của ông Ẩn trong ngày 30-4
như là một chi tiết, một cận cảnh của bức tranh ấy. Đó là việc ông
Ẩn đă “cứu” Trần Kim Tuyến đi di tản chuyến cuối tháo chạy khỏi Việt
Nam trong một hoàn cảnh tưởng đă tuyệt vọng!
Tờ
Newsweek cho rằng: “Tuyến sẽ bị giết chết nếu ông ta c̣n ở lại Sài
G̣n”. Khi ông Tuyến gọi điện cho Sứ quán Mỹ hôm đó, t́m sự giúp đỡ
của CIA đưa ông đi thoát, ông được trả lời là cơ quan CIA đă rời đi
hết. Quá hoảng sợ lo cho tính mạng, ông quay lại t́m người bạn thân
Phạm Xuân Ẩn, người được đánh giá là có nhiều mối quan hệ rộng vào
bậc nhất ở Sài G̣n. Sau này trong các cuộc phỏng vấn của các kư giả
quay trở lại Sài G̣n đă giải phóng nhiều năm, ông Ẩn đă miêu tả lại
vẻ mặt hăi hùng của ông Tuyến khi t́m ông trong pḥng khách sạn dành
cho các nhà báo Mỹ. Ông Ẩn vội vă lái xe đưa ông Tuyến đến Ṭa Đại
sứ Mỹ kiếm t́m cơ hội cuối cùng bất kỳ có được. Nhưng cảnh tượng
thật hăi hùng: Ṭa Đại sứ đông nghẹt những người cầu cứu hoảng loạn.
Chiếc xe cũ Renault của ông Ẩn không sao len vào được. Gọi điện khắp
các địa chỉ cần thiết khác trong thành phố, cuối cùng ông Ẩn liên
lạc được với một nhà báo Mỹ có thể nhắn cho Ṭa Đại sứ. Nhờ thế họ
mới biết được c̣n chuyến di tản tại ngôi nhà của CIA đường Gia Long
nơi đă “diễn ra” h́nh ảnh biểu tượng của Sài G̣n sụp đổ.
Ở
ṭa nhà này, họ cũng suưt nữa th́ trượt chuyến đi. Cánh cửa thép của
ṭa nhà đă đóng lại khi chiếc xe Renault ông Ẩn chở bạn chạy tới.
Người lính gác không mở cửa để tránh ḍng người có thể ập vào. “Đề
nghị cho gọi ông Polgar!” Ông Ẩn yêu cầu được gặp sếp CIA mà ông
quen. Nếu gặp được Polgar, chắc chắn ông ta biết câu chuyện trầm
trọng của ông Tuyến, sẽ giải quyết ngay. Nhưng người lính gác không
chịu gọi. Vừa may lúc người vợ của anh lính gác đi mua đồ ăn đến.
Cánh cửa hé ra cho bà ta vào, thế là ông Ẩn dùng một tay giữ chặt
cửa, tay kia đẩy mạnh bạn ḿnh vào lọt. Tờ Newsweek kết luận: Thế là,
vị trùm cảnh sát mật vụ Sài G̣n đă được một điệp viên của Hà Nội cứu
thoát, leo lên mái nhà để lên máy bay đi di tản.
Trong nhiều bài báo của các nhà báo thế giới khi trở lại Việt Nam
t́m ṭi mọi câu chuyện, người ta đều chú ư chi tiết này. Một điệp
viên t́nh báo chiến lược đă cứu mạng viên chỉ huy mật vụ, người cộng
tác lâu năm của CIA. Bài phỏng vấn của Morley Safer cũng không bỏ
qua chi tiết này. “Chuyện ǵ xảy ra sau khi mọi người đi khỏi?” Ông
Ẩn: “Bob Shaplen đưa tôi ch́a khóa pḥng của anh ta tại khách sạn
Continental. Mấy phóng viên ngoại quốc khác cũng làm theo. Tôi trở
về nhà đón mẹ tôi và dọn lên ở khách sạn. Tôi biết rằng ở đó có an
ninh hơn. Mẹ tôi lúc đó cũng rất đau yếu nên tôi nghĩ có thể chăm
sóc mẹ tôi dễ dàng hơn tại khách sạn. Tôi đoán vợ và các con tôi đă
ra đi được trên một chuyến máy bay nào đó. V́ sao tôi ở lại? Ngoài
việc chúng tôi đă đẩy hết người ngoại quốc ra khỏi xứ sở, giành độc
lập, cần phải góp phần xây dựng lại Tổ quốc, th́ c̣n lư do nữa là mẹ
tôi đă quá già yếu, không thể đi được. Những điều này thật khó mà
giải thích cho người ngoài cuộc hiểu được” Safer kết luận: “Ư thức
bổn phận của một đứa con, chọn sự trung hiếu thay v́ là Tự do”.
Về
câu chuyện ông Ẩn cứu Trần Kim Tuyến, Safer viết: “Tuyến chắc chắn
là mục tiêu trả thù đầu tiên của Việt Cộng. Với sự giúp sức của Mỹ,
Tuyến đă tổ chức và chỉ huy mạng lưới t́nh báo đầu tiên của chính
quyền Sài G̣n chống lại Cộng sản Miền Bắc. Trong t́nh h́nh hỗn mang
của Sài G̣n sụp đổ, Tuyến bị lỡ hai chuyến bay do CIA tổ chức cho
anh ta và gia đ́nh. Vợ con ông ta th́ đă t́m cách thoát đi qua ngả
bạn bè ở Ṭa Đại sứ Anh. Riêng Tuyến đến ngày cuối cùng không c̣n ai
ngoài Phạm Xuân Ẩn để nhờ cậy. Ẩn đă đẩy Tuyến vào xe hơi của ḿnh
chạy ṿng ṿng trên một Sài G̣n đang sụp đổ để tới một cao ốc của Mỹ,
vượt qua lính gác mở cánh cửa sắt đẩy Tuyến vào. Trong một bức ảnh ở
ngày cuối cùng ấy, trong lố nhố khuôn mặt nhào tới chiếc trực thăng
Mỹ trên nóc ṭa cao ốc, có mặt Tuyến. Nhưng Ẩn đă không có mặt trong
h́nh. Anh ta đă ở lại”.
Ngày 30-4 năm 2001, qua đi đă 26 năm, và dường như vị tướng già này
v́ lịch sử mà phải kể lại, chứ nó không c̣n là câu chuyện quan trọng
nữa. Ông cho nó là chuyện cũ.
V́
sao ông Tuyến lại rơi vào cảnh đó, khi mà ông ta đứng đầu bảng số
những người mà Mỹ phải đưa đi? “Ông ta là nhân vật thứ ba sau Diệm -
Nhu. Làm Giám đốc Sở Nghiên cứu chính trị - văn hóa - xă hội, người
Mỹ gọi là Sở Mật vụ. Trong suốt cuộc đời làm việc, quan hệ lấy tin
tức, ông mến tôi. Sau đảo chính Diệm 1963, ông ta cũng bị bắt. Ông
ta đi cùng máy bay với kư giả Stanley Karnow từ Hồng Kông về. Ổng bị
bắt ngay trước mắt Stanley. Sau lúc ông ta bị bắt, tôi tới nhà thăm,
bả đang mang bầu. V́ sao ông ta kẹt lại ngày 30-4 khi vợ con đi cả
rồi? V́ ông này ghét Thiệu. Trước giải phóng một tháng, ngay sau khi
Đà Nẵng thất thủ, Tuyến vẫn đang trong một âm mưu lật đổ Thiệu để
lập chính phủ mới.
Tối
1-4 bác sĩ Trương Khuê Quang, giám đốc trường Quốc gia nghĩa tử,
người trung gian của Tuyến đưa Tuyến đến gặp Trí Quang. Đêm mồng 3
rạng mồng 4 Thiệu bắt nhốt hết những phần tử âm mưu đảo chính. Thành
ra mới có vụ cả dân biểu, nghị sĩ, nhà báo bị nhốt. Ông Tuyến hy
vọng Thiệu đi sớm, sẽ thả đàn em của ḿnh ra. Nhưng măi khi ông
Hương lên rồi vẫn thưa thả, 26 mới thả. Ông Tuyến yên trí CIA đưa
ḿnh đi”.
Ngày 30-4 đó, câu chuyện của ông Ẩn làm rơ thêm h́nh ảnh cuối cùng:
“Người cháu ông Tuyến, một viên thiếu tá chở ông đến bằng xe Hon-đa.
Tôi giục nó về lo vợ con, để ông Tuyến lại. Tôi kêu Ṭa Đại sứ. 5
cái telephone tất cả. Sự thể diễn ra như báo chí nói rồi. Tuyến đi
chuyến cuối cùng của CIA cùng với ông Trần Văn Đôn. Ông Đôn trông
cũng thảm, không lên được mấy chuyến trước. Con ông bảo “Ba! Ba!
Đừng bỏ cuộc”. Cô bí thư tên là Hà Hiếu Lang, em đại tá Điệp. Sau cô
bí thư của ông Polgar, chủ nhiệm CIA nhường 3 chỗ cho gia đ́nh trung
tướng Đôn. Người cuối cùng lên máy bay là ông Tuyến. Trong h́nh, cái
người thấp bé là ổng. Chi tiết này sau tôi biết được do đọc báo
trong bài người ta phỏng vấn tướng Đôn. Tấm h́nh cuối cùng đó của
một phóng viên hăng UPI. Hăng được sử dụng 20 năm, mới gần đây tác
giả mới lấy bản quyền”.
Safer viết: “Ẩn đă can đảm giúp cho Trần Kim Tuyến thoát khỏi Việt
Nam. Tuyến là một trong những viên chức cao cấp nhất của CIA tại
Việt Nam. Là một tay âm mưu bất trị làm việc cho Thiệu sau đó chống
lại chính quyền Thiệu. Vào ngày cuối cùng của Sài G̣n Tuyến vẫn c̣n
nỗ lực thương thuyết với Phật giáo để lập một chính quyền mới”.
Có
lẽ những việc cứu kẻ thù này không chỉ diễn ra một lần. Ông đă từng
cứu cả những người bạn Mỹ thoát chết trong các t́nh huống cực kỳ
phức tạp của chiến tranh. V́ sao ông làm điều đó? Các nhà báo nước
ngoài có phần cho rằng v́ ông được đào tạo từ nhiều nền văn minh
Pháp - Mỹ, hiểu và sống theo giá trị nhân văn, thoát ra khỏi quầng
tối của sự cực đoan nên nhân cách cao quư đă giúp ông làm nên nhiều
việc phi thường. Khi ông trả lời Henry Kamm “Những hoạt động của tôi
hoàn toàn được chia ra những ngăn riêng biệt” là nói về sự tồn tại
khác thường của ông ở cả hai phía. Những cái mâu thuẫn ấy thật không
sao tả nổi. Nội làm một cái nghề lấy tin tức báo chí không thôi đă
nghịch cảnh rồi. Làm báo, t́m mọi cách moi tin, để rồi đưa ra rộng
răi. C̣n làm nhiệm vụ t́nh báo th́ t́m mọi cách lấy được tin t́nh
báo rồi, lại phải giấu biệt đi. Ông thường phải sống với nghịch cảnh
đó.
Cái
ngày 30-4 ấy h́nh như bây giờ mỗi khi nhớ lại, ông phát hiện thêm
t́nh trạng của chính ḿnh. Vợ con ông đă đi cả, c̣n một ḿnh ông với
mẹ già ở lại. Ông chưa nhận được chỉ thị ǵ mới. Đó cũng chính là
lúc hỗn loạn, rất có thể một chàng lính trẻ Giải phóng nào đó không
biết ông là đại tá trong quân đội Cách mạng, với cây AK47 trên tay
th́ chẳng có lời giải thích nào lọt tai anh ta. Và rất có thể “tụi
nó sẽ giết tôi đồng thời nướng sống mấy con chó của tôi nữa”.
Ông
Ẩn ít khi nói về nỗi sợ hăi, không phải ông cố tỏ ra can đảm, mà là
cho rằng sợ hăi, lo âu trong đời người t́nh báo là tất yếu, luôn
luôn. “Những lần ấy ông Tuyến làm tôi muốn đái ra máu”, vẫn cái
giọng ôn ḥa rất hài hước dân dă mà không lộ liễu, ông kể về cuộc
cứu ông Tuyến nó gay go thế nào. Không chỉ là việc Tuyến cuống quưt
leo lên được chuyến máy bay cuối cùng, mà trước đó nữa, suưt th́ ông
lâm vào cảnh rắc rối v́ Tuyến. “Ông Tuyến đang lo mưu đảo chính. Đà
Nẵng mất ngày 29-3, trong này Tuyến càng gấp gáp. Cái đêm cả đám 14,
15 đàn em của Tuyến và lối một chục tên của các tổ chức khác bị nhốt
ấy thật đáng sợ. Tuyến rất có thể sẽ bị bắt v́ đứng đầu. Tất cả
những ai thân thuộc qua lại nhà Tuyến cũng sẽ bị bắt. Nếu có bắt tôi
lúc này th́ rất kẹt. Sau chiến thắng Ban Mê Thuột là biết địch sẽ di
tản. Phải chuẩn bị chờ lệnh mới, mà ḿnh bị bắt, bị thủ tiêu th́
thật khủng khiếp. Suốt cả ngày tôi không ăn uống ǵ được. Tôi vào
ngủ trong ṭa báo, không dám ở nhà”.
Sau
này ông mới biết được cái cảnh ông Tuyến nghe điện thoại vợ con đàn
em lần lượt báo tin chồng họ bị bắt. Ông ta mặc đồ Tây sẵn sàng
trong đêm để bỏ trốn. Ông Tuyến không bị bắt do có sự can thiệp của
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Hảo. “C̣n với tôi, có lẽ họ c̣n ngại đụng
đến người của báo Time”.
Cho
dù đă đọc chuyện 30-4 do báo chí viết, cũng như lời ông kể với bạn
bè, tôi vẫn thấy ông c̣n là điều bí ẩn. Có nhiều chuyện tuyệt mật
chưa được giải mật chẳng bao giờ ông kể đă đành, nhưng có nhiều điều
b́nh thường ông cũng không kể ra. Nó thoảng qua trong câu chuyện
khiến người tinh ư hiểu rằng phía sau c̣n nhiều chiến công thầm
lặng. “Có những chuyến trước khi tôi đi, vợ chồng tôi phải xác định
với nhau một là nó bắt, thủ tiêu th́ tốt nhất. Hai là đáng sợ hơn nó
bắt tra khảo, lộ ra tài liệu th́ liên lụy nhiều người”. “Có lần nguy
hiểm đến nỗi tay đưa ám hiệu, chân tôi vẫn run bần bật. Dù đă cố
trấn tĩnh, nhưng phản xạ tự vệ của cơ thể khiến nó vẫn run lên trước
t́nh thế quá nguy hiểm”.
Trong câu chuyện, ông rất ít trả lời vào những câu hỏi về người vợ
ḿnh. Bà đă thôi hẳn công việc của một nhân viên tiểu công nghệ để
làm người nội trợ. “Để cho không có môi trường địch có thể đánh vào
bên trong”. Ông giải thích sơ lược, v́ nó động đến các vấn đề kỹ
thuật của nghề t́nh báo. Dù luôn có ư thức cảnh giác đi nữa, càng ít
mối quan hệ với bên ngoài càng tốt cho vợ ông. Bà không đi làm việc
ra ngoài. Không có người ở giúp việc. Bà vẫn đi riêng kín đáo theo
dơi từ xa mỗi khi chồng giao tài liệu cho giao liên. “Rủi có bị bắt
th́ bả báo cho cơ sở ta biết”. Mỗi khi ông đến nhà các nhân vật quan
trọng, bà đi theo cốt kéo bà vợ hay nghe chuyện của ông chủ nhà ra
một chỗ. Hai người vợ nói chuyện, để cho chồng bà nói chuyện với ông
chủ nhà.
Từ
ngày 23-4 vợ con ông đă được gửi sang Hoa Kỳ. Họ bay trên chuyến
bay sơ tán thân nhân những người làm báo Time. Ṭa báo muốn tránh
cho khỏi vướng vào chiến trường có thể sẽ đẫm máu ở Sài G̣n. Sau
này, họ đă trở về được.
Những chi tiết về người vợ chỉ xuất hiện rất ít. Henry Kamm cũng chỉ
có được vài ḍng sơ qua: “Chỉ có mẹ và vợ của ông Ẩn biết cuộc sống
lưỡng diện đầy nguy hiểm của ông”.
H́nh như v́ nhiệm vụ Cách mạng và công việc khác thường của vị
tướng, mà cả gia đ́nh ông cũng sống phong cách Ẩn. Người ta chỉ
thỉnh thoảng thấy bóng bà trong pḥng khách, ít khi ngồi tiếp khách
cùng chồng. Mọi lo toan, sự can đảm của bà êm thấm ở khu sau nhà,
nơi mọi sinh hoạt hậu cần diễn ra với tiếng la chí chóe của đứa cháu
nội nghịch ngợm nô giỡn. C̣n về người mẹ của ông, không có h́nh ảnh
ǵ nhiều ngoài vài chi tiết. Bà không đi Mỹ với con dâu và các cháu
mà đến ở trong ṭa báo với con. Qua câu chuyện của ông Ẩn, h́nh ảnh
cuối cùng của người mẹ, cũng chỉ là h́nh ảnh của một đám ma im lặng.
“Bà
già tôi mất ở chính ngôi nhà này. Làm đám ma mà hàng phố trước cửa
không ai hay. Làm êm rơ, lúc đưa ra cửa, hàng phố mới biết. Có người
nói nhà ông Ẩn cách mạng, làm đám ma nhanh quá, như mấy ông cán bộ.
Tôi bảo họ: “Không phải, cách mạng người ta đàng hoàng, đâu như tôi,
ông nội!”
Nói
chuyện này ông Ẩn không nh́n ra xung quanh. Ông rót nước trà mời
khách và cho biết ngôi nhà này sống đă bốn thế hệ, chết một c̣n ba…
Những người phụ nữ quan trọng nhất đời
ông, mẹ và vợ chỉ xuất hiện rất ít trong câu chuyện. Nhưng v́ thế
lại càng gợi lên bao nhiêu mong muốn t́m hiểu về họ. Càng mong muốn
càng gặp sự im lặng. Không phải ông cố giấu, hoặc khiêm tốn. Cũng có
thể nhưng có một phần chắc là do lối sống kín đáo cả một đời. Phải
chăng vẻ đẹp đó cũng mang chút ǵ như “bệnh nghề nghiệp?”.
Vị tướng đă yếu ớt do bệnh và tuổi cao.
Dáng đi của ông hơi c̣ng xuống, do cao gầy, hay là do thân thể ấy đă
mang vác một cuộc đời quá phong phú và gian truân. Chỉ vẻ mặt, đôi
mắt to đen thông minh và đôi tai to, người trong nghề nhạc gọi là
đôi tai thẩm âm tốt, làm toát lên vẻ linh hoạt, trẻ trung của một
trí tuệ vẫn mạnh mẽ.
Ông ngồi giơ điếu thuốc, miêu tả cách
gói tài liệu tài t́nh của những chị giao liên. Họ nhét vào bụng cá,
để cho hôi ŕnh. “Bọn lính mở ra khám là bố mày đưa trả ngay. Sao
chịu được mùi khắm hôi ŕnh”.
Khi giải thích cái từ kỹ thuật nghề
nghiệp của người t́nh báo hoạt động độc lập và cô đơn mà thuật ngữ
nghề nghiệp Anh - Mỹ gọi là “Lone Wolf” (chó sói cô đơn) ông lại có
một thoáng cười hài hước tự trào của người già thông thái: Trong bầy
sói thường có con sói đầu đàn dũng mănh xông pha. Nhưng khi về già,
nó không theo kịp bầy đàn nữa, mà thường tách ra khỏi đàn, đi một
ḿnh kiếm ăn cho qua đời.
Cái cười hài hước về thân phận người,
không chua chát. Có vẻ ǵ đó ung dung của một người thông minh chấp
nhận quy luật của thiên nhiên.
Có lẽ v́ thế mà với những nhà báo
phỏng vấn kỳ cựu nhất, tỏ ra hiểu con người nhất vẫn phải chịu cảm
giác của Morley Safer: “Những giải thích của Ẩn không làm sáng sủa
ǵ hơn mà lại càng khiến anh ta thêm bí ẩn. Bài toán đố càng trở
thành khó hiểu. Ngồi cách tôi không xa trong vùng tranh tối tranh
sáng nh́n qua làn kính dày, cặp mắt anh lớn ra một cách tức cười. Ẩn
bước ra khỏi cứ điểm, nhưng liệu c̣n bao nhiêu lớp che giấu nữa và
c̣n thêm những ǵ tự thú trong t́nh bạn bè?”
Đúng là cảm giác ấy. Đôi khi ông như
bước ra “khỏi cứ điểm” của cuộc đời đầy bí ẩn rồi lại bước vào, bao
nhiêu là sự kiện quư báu của lịch sử đă đi qua mà không muốn để lại
điều ǵ về cá nhân ḿnh.
Đây chính là sự bất lực của những ai
ham muốn tái hiện cuộc đời ông bằng chữ nghĩa. Ông không cố ư làm họ
đau đớn hay thất bại. Giúp ai được ǵ ông cố giúp, nhưng ông giữ lại
cho ḿnh lối sống tự nhiên, rất im ắng đi vào chiến công sáng chói
của người anh hùng. Nay lại im ắng rút lui khỏi hào quang sáng chói
của sự tôn vinh của xă hội khi mọi việc đă hoàn tất.
(c̣n
tiếp)
NGUYỄN THỊ
NGỌC HẢI
Quay lại phần đầu
|