WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

 

Chân dung Phạm Xuân Ẩn - Kỳ 17: Lặn sâu vào lịch sử

Sau hiệp định Genève, Việt Nam tạm chia hai để chờ tổng tuyển cử, nhưng âm mưu của Hoa Kỳ đă làm cho con số 2 năm mà người đi tập kết cùng gia đ́nh họ ở lại Miền Nam đau đáu mong chờ, đă thành 20 năm. Thắng lợi ấy cũng phải do chiến tranh giải phóng đem lại. Mỹ hất Pháp khỏi Miền Nam, thành lập chính quyền tay sai Ngô Đ́nh Diệm.

Đó cũng chính là lúc nhân vật t́nh báo Phạm Xuân Ẩn vào sâu trong cuộc. Ông được đi cùng các sĩ quan tham mưu tham gia phái đoàn cố vấn Mỹ soạn thảo, tham mưu tổ chức 6 sư đoàn khinh quân đầu tiên trong chương tŕnh xây dựng quân đội. Thời kỳ đấu tranh chính trị 1954 - 1959 bao đau thương, mất mát cho tới cuối 1959 Đảng ta quyết định phối hợp đấu tranh chính trị và quân sự. Chỉ sau đó 4 năm, chế độ Diệm sụp đổ, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng ḥa Miền Nam ra đời. Mỹ đă lựa chọn đưa quân vào trực tiếp làm chiến tranh.

Lịch sử chương này sẽ cho thấy các chi tiết: Đại tướng Maxwell D. Taylor cố vấn an ninh Tổng thống được cử làm đại sứ thay Henry Cabot Lodge năm 1964. Mọi chủ trương chính sách chiến lược đều do Hội đồng Tối cao (Mission Council) gồm 4 đại diện: Đại sứ, Đại tướng chỉ huy Quân sự MACV, giám đốc USAID về kinh tế, giám đốc USIS JUSPAO về chính trị. Chúng ta cũng thấy được sự thành công to lớn của cách mạng thể hiện trong ngành t́nh báo. Họ đă vào sâu được các nội dung quan trọng của cơ quan đầu năo này. Phạm Xuân Ẩn chỉ là một ví dụ. Năm 1964 Mỹ đưa chiến hạm Moddox vào Hải Pḥng khiêu khích làm cớ mở rộng chiến tranh ra Miền Bắc Việt Nam. Tại Miền Nam, quân ta thắng lớn tại B́nh Giă, được coi như biến cố quân sự lớn đánh dấu giai đoạn 2 của quân ta vận động dă chiến sang giai đoạn 3 tấn công toàn diện về quân sự - chính trị. Chính phủ Hoa Kỳ quyết định triển khai đưa đủ mọi binh chủng vào Việt Nam.

Trong hồi kư của tướng Westmoreland, viên Đại tướng đă đến Sài G̣n năm 1964 thay Harkins làm tư lệnh MACV về quân sự, một ứng viên được coi như “người hùng” của chiến tranh Việt Nam tương tự như tướng Dwight Eisenhower trong Đại chiến II và là nhân vật Đảng Cộng ḥa đưa ra ứng cử Tổng thống vào cuối 1968. Chúng ta hăy đọc lại những ḍng hồi tưởng của Đại tướng Westmoreland về những ngày này:

“Đầu tháng 5, một trung đoàn Việt Cộng, trung đoàn đầu tiên tấn công với lực lượng lớn như vậy kể từ trận B́nh Giă trước đó 6 tháng, đă gây thiệt hại lớn ở Sông Bé, thị xă tỉnh Phước Long, dọc biên giới Campuchia, phía bắc Sài G̣n. Chỉ với sự chi viện tích cực của máy bay và tiếp viện một trung đoàn mới cứu được thị xă. Đến cuối tháng ở Ba Gia thuộc tỉnh Quảng Ngăi, một trung đoàn Việt Cộng hầu như đă tiêu diệt sạch một tiểu đoàn của Việt Nam trong một trận phục kích và sau đó đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn khác t́m cách tới ứng cứu, trong đó viên cố vấn Mỹ, đại úy O. Sulivan đă chiến đấu rất dũng cảm. Sức ép của cao nguyên Miền Trung nặng nề tới mức quân chính phủ đă phải bỏ nhiều quận lỵ.

Sau khi đánh tràn vào một quận ở Pleiku, Việt Cộng bắt đầu bao vây một trại lực lượng đặc biệt CIDG (Civilian Irregular Defence Group - Dân sự chiến đấu). Đó là trận đánh do lực lượng đặc biệt - Special Forces chỉ huy ở gần đó. Ngày 10-6 chiến sự lại nổ ra ở tỉnh Phước Long tại quận lỵ Đồng Xoài với một trận tấn công của các bộ phận thuộc hai trung đoàn Việt Cộng. Việt Cộng đă san bằng trại CIDG, lực lượng đặc biệt bên ngoài thị trấn, tiêu diệt đơn vị đầu tiên của một tiểu đoàn dự bị thuộc quân đội Việt Nam được chở đến bằng máy bay lên thẳng, và ngăn không cho số c̣n lại của tiểu đoàn đổ xuống. Hai tiểu đoàn cứu viện nữa đă bị đánh nặng nề trước khi Việt Cộng rút lui sau đó 2 ngày”.

Điểm qua một đoạn hồi kư của viên tướng tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam để thấy được không khí chiến tranh thật sự được nh́n nhận dưới mắt đối phương. Phạm Xuân Ẩn phân tích đó là giai đoạn cuộc chiến tranh toàn diện ác liệt với hơn nửa triệu quân Mỹ và chư hầu với kế hoạch 4 bước: 1965 đưa quân vào, 1966 triển khai quân; 1967 tấn công toàn Miền Nam, vào 1968: chiến thắng quyết định. Rồi cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 ta đánh ba đợt, vào cả các thành phố lớn, 64 mục tiêu lớn, 107 mục tiêu vừa và nhỏ, trong các mục tiêu có cả Dinh Độc lập và Đại sứ quán Mỹ. Tổng cộng chiến dịch Mậu Thân ta phá hủy 13.000 xe, 3.400 máy bay, 1.000 tàu chiến; phá 15.000 đồn bốt và phá ră 1.200 ấp chiến lược. Tổng thống Mỹ Lyndon B.Johnson quyết định không ra ứng cử tiếp. Đại tướng Westmoreland bàn giao trở về Hoa Kỳ. Cuộc chiến tranh sang giai đoạn mới, ứng cử viên Đảng Cộng ḥa Richard Nixon lên với chủ trương Việt Nam hóa chiến tranh nhưng đến 1973 phải kư Hiệp định Paris, rút quân Mỹ. Đến 1975 chiến dịch đại thắng mùa Xuân, mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh đă giải phóng hoàn toàn Việt Nam.

Ngày nay, thiên sử vẻ vang ấy đă trở nên chói sáng và rơ ràng trước toàn nhân loại. Nhưng đối với người Mỹ, việc nghiên cứu và trả lời cho cuộc chiến này không hề dễ dàng, nếu không muốn nói nó vẫn là những chia rẽ nội bộ về nhận định. Như tác giả cuốn Sự nghiệp của một Tổng thống bị đổ vỡ - L.Johnson và Việt Nam, H.Y. Schandler viết: “Những sự phân hóa và bất đồng ư kiến về việc Hoa Kỳ tham gia vào chiến tranh Việt Nam vẫn chưa phai mờ trong trí nhớ”.

C̣n trên báo chí, cho đến đầu thế kỷ 21, khi chiến tranh qua đă 26 năm, đă bao nhiêu tài liệu, sách, phim ảnh được công bố, giờ đây người ta vẫn c̣n phải bàn căi xem những báo cáo nói trên 100 ngàn cựu binh Mỹ tại Việt Nam đă tự tử khi trở về Mỹ là đúng, hay là 58 ngàn là đúng. Nhưng dù có là con số nào đi nữa th́ một sự thật mang cái tên “Hội chứng Việt Nam” đă là căn bệnh kéo dài cho cả nước Mỹ.

Chẳng thế, mà chỉ riêng những cựu binh Mỹ trở lại Việt Nam, trung b́nh cứ mỗi tháng có một đoàn. Họ đến khắp nơi trên đất nước này, đầu tiên là về nơi họ đă tham chiến xưa kia, rồi làm cái việc lẽ ra phải làm từ trước khi họ đến lần đầu để đánh trận, là t́m hiểu về xứ sở, con người và nền văn hóa Việt Nam, những thứ mà bây giờ đang được nhắc đến như là những nguyên nhân của thắng lợi.

Một cựu binh Mỹ trở lại Charlie-one, một căn cứ pháo binh cũ của Mỹ - ngụy ngày trước thường nă đạn vào Việt Cộng ở khu phi quân sự, chính tại vùng đất này của Quảng Trị, đă diễn ra phần lớn các trận đánh ác liệt của cuộc chiến tranh từ năm 1965 đến 1975. Và vùng này đă được nhà báo Pháp của tờ Liberation mô tả như sau: “Một cánh rừng cây lúp xúp trải dài xa tít tắp, tận chân những quả đồi tṛn như những chiếc bát úp màu đỏ quạch. Một làn mưa bụi và sương mù bao phủ những quả đồi trọc lốc cho đến nay vẫn không có cây mọc v́ chất độc hóa học do máy bay Mỹ rải trong chiến tranh. Hai mươi nhăm năm sau cuộc chiến tranh, mảnh đất dưới chân đồi vẫn c̣n dày đặc bom ḿn chưa nổ và cả những bộ xương người”.

Vẫn trong bài báo này, tác giả Philippe Grangereau nhắc tới số lính Mỹ c̣n mất tích đến nay sau nhiều tích cực t́m kiếm của hai nhà nước, chỉ c̣n 1.500 người th́ số lính Việt Nam mất tích là 300 ngàn người. V́ thế khi đến vùng Quảng Trị, cựu binh Mỹ David Denman nói: “Khi những cựu chiến binh Mỹ đến đây, họ tưởng dân chúng sẽ đón tiếp họ bằng những viên đá. Nhưng họ đă được đón tiếp nồng nhiệt và khi ra đi họ vẫn c̣n ngạc nhiên và như bị thôi miên”. C̣n Suel Jones, một lính Mỹ đă từng chiến đấu tại khu phi quân sự cũ vào năm 1968 nói: “Ngày tôi có thể nói chuyện với những Việt Cộng và gây được cảm t́nh của họ, là một ngày trọng đại trong đời tôi”…

Những chuyện như thế kể ra th́ rất nhiều. Vẫn tác giả cuốn Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ - L. Johnson và Việt Nam cho rằng: “Tất cả các tư liệu lịch sử đều có những hạn chế, g̣ bó cố hữu của chúng. Người viết sử chẳng mấy khi gặp dịp nắm đủ tất cả các tin tức liên quan. Phần lớn những ǵ anh ta nắm được đều đă bị chiến tranh hoặc ảnh hưởng của thời gian làm sai lạc trầm trọng… Thực tế, một người từng tham dự các sự biến có thể cho thấy những hiểu biết tường tận có ích. Ngoài ra không có một tác phẩm soạn thảo nào có thể h́nh thành trong một đầu óc rỗng không, bởi người nào làm việc đó cũng có những ước đoán, hiểu biết và những chính kiến bắt nguồn từ những kinh nghiệm bản thân, văn hóa và thời đại của chính người ấy. Trên phương diện đó, mọi lịch sử chẳng qua chỉ là phản ánh thời đại lúc viết”.

Chỉ riêng ở Mỹ, tính tới năm 1971 đă có 10 quyền sách được viết về việc h́nh thành các quyết định của Mỹ sau Tết Mậu Thân. Sự chuyển hướng chính sách của Hoa Kỳ ở Việt Nam luôn là kết quả của các cuộc tranh căi nội bộ cao cấp nhất…

Công việc tổng kết cuộc chiến tranh không chỉ diễn ra khá đồ sộ ở phía Mỹ. Tại Việt Nam, nhiều bộ sử lớn về chiến tranh đă và đang tiến hành. Hồi kư của các tướng lĩnh là rất quan trọng bởi đời họ thấm đẫm các chi tiết của sự kiện lớn. Nhưng những người lính thường vẫn chưa có nhiều hồi kư và ghi chép vào cuộc. Ngay cả nhân vật của cuốn sách này, thiếu tướng Anh hùng Phạm Xuân Ẩn cũng không có chủ trương công bố tác phẩm nào về phía cá nhân. Đó là một sự khiêm tốn, một cách sống mang tính nguyên tắc cá nhân có thể đang được tôn trọng nhưng đồng thời cũng là một sự lăng phí xót xa v́ những câu chuyện con người cụ thể, mang nhiều phần lịch sử sẽ bị đem đi âm thầm. Đằng sau bức tranh tổng quát nhất về các diễn biến của chiến tranh, sự vĩ đại của chiến công, vẫn c̣n tiềm ẩn câu chuyện đời của những người Việt Nam. Đó là nỗi khát khao của người viết cuốn sách nhỏ này, muốn như những chớp đèn flash chớp vội, vẽ chân dung tản mạn của một người anh hùng.

Ông có mặt ở nơi cần thiết nhất cho việc có tài liệu giá trị chiến lược loại tuyệt mật trong suốt các giai đoạn khác nhau của chiến tranh. Các kỹ thuật, chiến thuật mới của kẻ thù, các cuộc hành quân lớn, các trang bị của quân viễn chinh, các chiến dịch lớn, đều được chuyển đến Bộ chỉ huy của cách mạng, an toàn tuyệt đối tới ngày chiến thắng.

Chính sự an toàn này, nó cũng là  một sự tuyệt mật lớn lao của kỳ tích cách mạng! Sự tuyệt mật này thách đố cả ngọn đèn flash muốn chớp lấy dù chỉ là phần nổi của chân dung con người. C̣n bề ch́m sâu với những vẻ đẹp dữ dội của các t́nh huống gay go ác liệt trong hoàn cảnh đặc biệt của ông, vẻ đẹp tinh thần của các chiến sĩ t́nh báo nữa… Có thể chúng ta sẽ chẳng bao giờ có được hết h́nh ảnh cụ thể những người t́nh báo chiến lược như ông. Tất cả những chuyển động hàng ngày, đ̣i hỏi sự phân tích, đeo bám của người t́nh báo. Giống như một sự đối chiếu tương ứng với diễn biến cuộc chiến tranh, chúng ta đă có nhiều bản tiểu sử cá nhân như của ông Ẩn. Nếu đem lư lịch của các cán bộ lăo thành cách mạng ra khảo sát, chúng ta sẽ thấy như hồ sơ cá nhân người cách mạng Việt Nam, luôn tương quan với lịch sử. Họ luôn ở ngay trong ḷng sự kiện.

1947 - hoạt động ở Sài G̣n.

1948 - xuống Mỹ Tho học tú tài.

1949 - băi khóa, tham gia phong trào học sinh sinh viên.

1950 - đỉnh cao phong trào Trần Văn Ơn.

1951 - làm thư kư kế toán hăng xăng - rồi thư kưhải quan. Được giao nhiệm vụ t́nh báo chiến lược.

1954 - đi lính Pháp, làm bí thư pḥng chiến tranh tâm lư Bộ Tổng tham mưu.

1955 - Mỹ qua thay Pháp, ông làm sĩ quan liên lạc của phía Việt Nam trong cơ quan TRIM (3 bộ Tư lệnh nhập lại: Mỹ - Việt - Pháp) và tiếp theo là phái bộ huấn luyện quân sự Mỹ C.A.T.O (Combined Army Training Organization) cho đến đầu năm 1957.

1957 - đi học Đại học tại Mỹ.

1959 - về nước, làm việc ở Sở nghiên cứu chính trị - văn hóa - xă hội, biệt phái sang Việt Tấn xă đến cuối 1960.

1960 đến giữa 1964 - làm hăng Reuters.

1965 đến 1976 - làm cho Tuần báo Time; Ngoài ra đă từng làm cộng tác viên của hai nhật báo: The New York Herald Tribune, và The Christian Science Monitor.

Nh́n hồ sơ cá nhân tóm lược ấy, mới hiểu ông đă “lặn sâu” vào đầu năo đối phương tới mức hệ thống như  thế nào. Lặn sâu đến mức có hẳn một cuộc đời khác sau tất cả các kỹ nghệ điều tra tân kỳ của thời Mỹ cũng như thời Ngô Đ́nh Diệm.

Vậy nên cũng dễ hiểu khi một tiểu thuyết gia, một nhà văn lớn của Việt Nam, ông Nguyễn Khải đă lấy nguyên mẫu đời ông Ẩn để viết hai cuốn tiểu thuyết. Đó là sau khi đă ngạc nhiên thấy ông mặc quân phục cấp tá trong Đại hội Đảng lần thứ Tư. Trước đó, nhà văn cứ tưởng ông chỉ là một viên sĩ quan ngụy bị “kẹt lại” không di tản kịp.

(c̣n tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

Kỳ 1 Kỳ 6 Kỳ 11 Kỳ 16
Kỳ 2 Kỳ 7 Kỳ 12 Kỳ 17
Kỳ 3 Kỳ 8 Kỳ 13 Kỳ 18
Kỳ 4 Kỳ 9 Kỳ 14 Kỳ 19
Kỳ 5 Kỳ 10 Kỳ 15 Kỳ cuối

Quay lại phần đầu

Bài trong tháng

"Nhà khoa học hoang tưởng"
Ba Giai-Tú Xuất
Biểu t́nh chuyên nghiệp
Bác Hăn lên chùa
Bên thầy Măn Giác_NĐXuân
Bạn đă làm ǵ cho tổ quốc
Ca nhạc hay phường tuồng chính trị
Cam kết của VIỆT NAM gia nhập WTO_English
Chuyện xưa_chuyện nay
Chân dung Phạm Xuân Ẩn
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 1
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 10
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 11
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 12
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 13
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 14
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 15
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 16
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 17
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 18
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 19
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 2
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 20
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 3
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 4
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 5
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 6
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 7
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 8
Chân dung Phạm Xuân Ẩn 9
Cựu tướng Nguyễn Cao Kỳ nhận định
GS Hoàng Tuỵ_Phải quyết liệt
Hai lần ngây thơ
H́nh như là
Lời tỏ t́nh trong ca dao
Media Press_Thủ tướng Úc_APEC
Nghe tiếng hoa khai_TKLan
Nguyễn Đan Quế
Người đẹp Hungary đi t́m cha
Ngựa non háu đá
Nhà thương
Phỏng vấn Dư Thị Hoàn
Tang lễ thầy Măn Giác
Thích Nhất Hạnh_TimeASIA
Thơ: Mùa lá chín
Tưởng niệm một hạt bụi
Tặng em đôi chiếu...
Văn bản WTO_Tiếng Việt
Vạ miệng
Vẽ cây, vẽ chim_Cao Huy Thuần
WTO_Thời cơ mới và tiềm năng của Việt kiều
Đi t́m ḍng họ Lư ở Hàn Quốc
Đêm Trịnh Công Sơn
Ơi cải về đâu_NNTư

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE