|
Chân dung Phạm Xuân Ẩn - Kỳ 12: Chú bé mê chơi
“Những ǵ anh đă làm trong quá khứ - vẫn Morley viết - Cho dù anh là
người thế nào, Ẩn vẫn là con người của nhân cách đáng kính trọng,
vẫn tin tưởng ở sứ mạng vẻ vang của đất nước nhỏ bé của ḿnh.
Tôi không nghĩ anh ta là một
người Cộng sản mặc dù anh vẫn là một Đảng viên trung thành. Tôi cũng
không nghĩ anh như một người quốc gia. Đó là những từ ngữ sai lạc
thường che khuất sự cao cả vĩ đại và cả những t́nh thế xấu xa.
Không, tôi cho rằng Ẩn là một người yêu nước, trong số rất ít những
người như thế mà tôi được biết”.
C̣n
Karnov Stanley cựu phóng viên tờ Washington Post người từng đoạt
giải Pulitzer th́ viết về ông Ẩn như sau: “Ông Ẩn là con người phải
giằng xé giữa hai t́nh cảm. Ḷng trung thành với dân tộc, đất nước
ông và sự tận tụy với nghề nghiệp, t́nh bạn với các đồng nghiệp từ
một nước đă gây chiến với dân tộc ḿnh”. Mc Culloch th́ cho biết:
“Tôi không bao giờ giận ǵ ông Ẩn” (Mc Culloch là trưởng đại diện tờ
Time nơi ông Ẩn làm việc thời đó). Culloch viết: “Bởi nếu như t́nh
thế đảo ngược lại, nếu như hàng trăm ngàn người Việt Nam xâm chiếm
đất nước tôi, tôi cũng sẽ làm như ông Ẩn đă làm. Ông là một người
bạn tốt và đáng kính trọng”.
Một
con người vừa đứng ở đỉnh cao nghề nghiệp, vừa làm trọn công việc mà
đất nước cần, lại cũng giữ được ḷng kính trọng của những người
thuộc phía đối phương. Nhân cách ấy nhiều nơi có thể nhận là “sản
phẩm” của ḿnh: Văn hóa Pháp, nền giáo dục Mỹ. Hơn thế nữa, con
người này đă ứng xử trong những hoàn cảnh thật đặc biệt. Ông không
thể hỏi ư kiến cấp trên trong nhiều t́nh huống hoạt động đơn lẻ, bí
mật tuyệt đối. Phải xử sự hàng ngày và rất nhiều trường hợp, “người
chỉ đường” cho ông chính là cái bản lĩnh sâu sắc của người Việt Nam,
một đặc tính của dân tộc đă từng sống trong những thử thách khốc
liệt nhất. Cái bản lĩnh này chẳng phải có sẵn như chiếc áo mặc vào.
Nó vô h́nh và mỗi con người góp phần ḿnh, bằng cách chọn con đường,
và bằng cảm nhận, bằng sự trải qua, đôi khi rất riêng tư”.
Dưới
mắt một kư giả Mỹ, quá tŕnh đó của ông Ẩn như sau: Năm 13 tuổi, tức
là năm 1940 ông bắt đầu nhận thức về nghịch lư của dân tộc khi Nhật
chiếm Việt Nam sau khi Pháp bại trận phải đầu hàng Hitler. Tại thị
trấn cảng phía nam của Rạch Giá, quê nhà của ông lúc đó, những kẻ
chiến thắng là Nhật vây ráp người Pháp (sau khi Nhật đảo chính Pháp
ở Đông Dương ngày 9 - 3 - 1945) và dùng xích xâu họ lại với nhau
dưới ánh nắng gay gắt tại một băi đất. Mục đích của việc này là tiêu
diệt h́nh ảnh những người cai trị da trắng trong mắt người Việt Nam
và dựng nên viễn cảnh của một Đại Đông Á mới chiến thắng dưới sự bảo
hộ của người châu Á - người Nhật.
Đă có
lần ông Ẩn nói: “Tôi không bao giờ thích người Pháp bởi v́ con cái
những tên thực dân Pháp ngược đăi trẻ em chúng tôi. Nhưng người Nhật
làm tôi ghê tởm. Những người Pháp bị khát. Tôi đến hỏi cha tôi và
ông bảo tôi nấu ít nước mang đến cho họ. Khi tôi làm vậy, người Nhật
tát tai những người Pháp đă nhận nước uống”. Ông Ẩn nói tiếp: “Tôi
vẫn không thích sĩ quan người Nhật. Trước năm 1975 tôi không bao giờ
nhận lời mời của Đại sứ quán Nhật cũng v́ lẽ đó”.
Kư giả
Mỹ đă nhận xét cả vẻ mặt ông Ẩn trong suốt cuộc nói chuyện. Lúc cuộc
nói chuyện này diễn ra, ông Ẩn đă ở tuổi 68. Ông đă qua suốt hai
cuộc kháng chiến và với nghề báo, ông đă hiểu sâu sắc bản chất của
mọi mối quan hệ con người. Có thể nói cách nào đó, ông đă là một
chuyên gia giao tiếp với đủ loại người, với con mắt phân tích của
một kư giả và một nhà t́nh báo chiến lược. Vậy mà, vẻ mặt của ông
như tác giả Henry Kamm nhận xét: “Đó là lần duy nhất trong rất nhiều
cuộc trao đổi về cuộc đời đầy biến động của ông, tôi nhận thấy trên
khuôn mặt trầm tĩnh của ông nét hận thù làm cho giọng nói và sự b́nh
thản của ông đanh lại. Số phận những người Pháp dấy lên ḷng thông
cảm của ông với những người bị thua thiệt. Ông nói rằng một yếu tố
khiến ông tích cực quyết định theo phe nào chính là sự bất công đối
xử giữa người Việt và người Việt. Ông đă thấy một địa chủ, cha của
một bạn học cùng lớp, đối xử thậm tệ với những người tá điền của
ḿnh. “Chúng tra tấn họ. Chúng bắt vợ con họ ngủ với chúng…”
“Đó là
lư do tôi tôn trọng người Mỹ - ông Ẩn nói - Họ dạy cách giúp đỡ
những người yếu thế…”
Cách
nh́n này của Henry Kamm, hay chính lời nói chân thực của vị tướng
Việt Nam? Những ưu việt của thế giới hiện đại tiến bộ ông đă học
được ở Mỹ, dù sao không thể không đặt trên cơ sở tâm hồn và nhân văn
một người Việt Nam biết cảm nhận. Chính cách cư xử trong suốt cuộc
đời trọn vẹn nhiều bề đă làm giảm bớt khó khăn và được sống tự nhiên
trong sự tồn tại khác thường của ông ở cả hai phía trong cuộc chiến
tranh.
Các kư
giả Mỹ kể rằng ông đă thành công trong việc cứu mạng Robert Sam
Anson, một nhà báo trẻ tuổi của tuần báo Time bị bắt tại Campuchia
nơi mà nguyên văn lời của Henry Kamm “nghĩa địa của hầu hết các
phóng viên khi rơi vào tay quân đội của Khmer đỏ”. Đội quân Khmer đỏ
đó hoạt động bất hợp pháp tại biên giới và thích ẩn ḿnh ở lănh thổ
nước ngoài để thoát khỏi sự chú ư của thế giới. Chi tiết này xuất
hiện trên báo nước ngoài, chắc chắn sẽ lại chất thêm những điều
phong phú bí ẩn của đời mà vị tướng này chẳng bao giờ viết ra.
Nhưng
có thật là “cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn với tất cả những chi tiết mập
mờ gây hoang mang có thể là một mẫu cho những người trong thời đại
ngày nay vẫn phải tiếp tục đối diện với vô số lựa chọn gây bối rối”,
như nhận xét của kư giả nước ngoài hay không? Chắc phải t́m về nguồn
cội, nguồn cội của con người mang nhiều dấu ấn và chứng cớ của lịch
sử này, phải có một mở đầu như thế nào chứ? Có đặc biệt không?
Không
có ư thức trả lời phỏng vấn, vào một buổi chiều đến chơi thường lệ,
tôi đến khu vườn nhỏ ấy và thấy ông đang say mê giở túi rắn liu điu
nhỏ xíu: “có chất, nó mới hót” đó là chất bổ dưỡng cho chim. Mọi
ngày ông gọi châu chấu lá bít - tết. Rồi ông than thở: “Trước đây
chim sẻ rất nhiều. Súng hơi người ta bắn riết nay không c̣n nhiều”.
Chuyện vui mà sao nghe như thảm sầu bởi cái giọng đều đều luyến
tiếc: “Chim hót cũng như đứa trẻ nít học nói 3 tuổi trở lại. Chim
nhỏ mà ở rừng nó không hót nữa. Con tương tư th́ mắc lắm. Bên Tàu
có”.
“Ngày
xưa tôi nuôi gà ṇi chọi. Đầu hôm th́ bắt thằn lằn, đêm cho uống
nước, cho ra sương. Có hai cái đại hội. Đại hội tả kê đá gà. 6 tháng
mùa khô. Đá cá ăn tiền lớn. Con nào thua chịu sọc dưa, khi sợ, nó
nhạt màu. Coi miệng, bụng, lỗ mũi… nuôi cực lắm. 4,5 tuổi tôi đă
nuôi, 10 tuổi đă đi “đày”.
Sao
lại đi đày?
Và thế
là có một chú bé hiện ra theo lời ông kể.
“Bị
đày, chơi không. Không học hành ǵ. Lúc nhỏ 2 tuổi ở Huế với bà nội.
Bốn tuổi, bà nội chết, đem vô. Chơi chim chơi cá. Học khúc, nghỉ
khúc. Thôi cho mày về quê học làm điền chủ. Về Rạch Giá. Ông già làm
nghề họa đồ, mua được đất, khẩn đất. Ông buồn lắm. Con người ta học
đàng hoàng. Bà Nguyễn Thị B́nh là con người bạn của ông già tôi, ở
nhà kêu “con Châu Sa”. Bà B́nh học hành giỏi giang chăm chỉ, ăn mặc
đàng hoàng. Con người ta sạch sẽ. Con ḿnh chân bùn không. Đi bắt
cá, xách ná bắn chim. Không tội nào nặng bằng tội đi chơi. Thi cuối
lớp 3, rớt. Mới “bị đày” ra Huế. Ông già đưa ra Truồi, ở với ông
giáo tiểu học, con nuôi của ông nội, nhờ kèm cặp”.
Kể đến
đây, dường như trong ông vẫn c̣n sống y nguyên một cậu bé con cách
nay hơn nửa thế kỷ. Mắt ông có ánh lấp lánh của chú bé ấy: “Đày cũng
lợi. Đâu có chừa. Đợi xe lửa trong Nam ra, tối nghe kêu ú ú là chạy
ra ga, nhảy lên tàu ăn những cúi bánh ḿ ṛn của khách bỏ lại. Tàu
sắp chạy th́ nhảy xuống. Ông giáo dạy rất kỹ càng. Ông c̣n mua lúa
cho giă gạo. Chày một chày hai, chày ba. Khi mùa hè có trăng lên là
giă gạo. Học th́ như cuốc kêu “thiên thời địa đất vân mây - vũ mưa -
phong gió - trú ngày - dạ đêm”. Thiên là trời - Địa là đất - Gia là
nhà - Quốc là nước - Tiền là trước - Hậu là sau - Ngưu là trâu - Mă
là ngựa” v.v… Chỉ thích chơi, giă gạo. Ham bắt cá lắm. C̣n ŕnh bắt
cọp con. Lâu lâu nó rú cái, lại chạy.
Trời
lạnh, mặc áo dài đi học, đem theo ḷ ấp, mặc áo tơi, xắn quần lên.
Khi nước ngập quá, cởi cả quần đi. Học lại rớt nữa. Có học ǵ đâu.
Về Gia Định học trường tư. Năm 1938 xuống Cần Thơ. Khổ quá! Th́ chơi
không! Ba năm cái lớp ba! Chơi nhưng chơi kiểu nhà nghèo. Gia đ́nh
dạy Nho giáo, ḿnh không hợp. Ḿnh kẹt cái đó. Mà cha buồn, thương
cha buồn mà không sao đổi tính được. Ông già cũng thương con nhưng
buồn. Ông biết ḿnh nóng giận, rảnh là đánh nện. Mẹ sắm chiếc roi
nhỏ cho con đỡ đ̣n nặng. Sau này trong đời hoạt động, đi cùng người
Mỹ xuống đồng bằng sông Cửu Long, họ lạ lắm. Thấy tôi chèo xuồng,
chèo ghe như không. Nông thôn trồng cây ǵ, nước lớn, nước ṛng, hoa
lá, cá chim, biết hết”…
Trong
giọng ông kể, có cái cây đắng thương cha, có nỗi cảm thông với chú
bé Ẩn tuổi thơ ṭ ṃ thông minh hiếu động. Đứa trẻ của đời sống ấy
bị nhét vào đầu lối giáo dục Nho giáo không hợp. Có cả sự thú vị của
đứa trẻ nh́n thấy thế giới trong cả trạng thái li ti của nó.
“Đá
kiến nữa: lấy con đen, ngắt râu, không thấy đường, nó chạy đá loạn
xạ. C̣n đàn cá thia lia, ông già giận thói mê chơi, đem đổ xuống
cống. Tôi khóc ra chặn nơi cống lớn chờ cả ngày mới hớt lại được một
con. Khóc như ri. Hồi ở Huế, trên thuyền từ sông Hương ra Cửa Thuận,
ngồi ngoài coi từng cái rong dưới nắng”…Ông kể về những bạn cùng lứa
và bảo: “Mấy người đó đàng hoàng. C̣n tôi vớ vẩn lắm”.
Về cả
một quăng đời trẻ thơ gắn bó với đồng ruộng và thiên nhiên như thế,
dưới mắt các kư giả Mỹ có thể tóm tắt như lời Henry Kamm: Cha của
ông Ẩn - một viên địa chính thời Pháp ở một tỉnh cực Nam của Đồng
bằng Nam Bộ, đă trừng phạt con v́ đă thất bại ở trường vào tuổi lên
9, bằng cách gửi ông về sống với họ hàng ở một làng gần Huế, kinh
thành cũ ở Miền Trung Việt Nam. Thất bại trong học tập ngay cả khi
c̣n nhỏ là một tội nặng trong gia đ́nh truyền thống Nho giáo như gia
đ́nh ông lúc bấy giờ. Cha của Ẩn muốn con trai biết ḿnh đă may mắn
thế nào bằng cách bắt con chịu sự khổ cực của cuộc sống thôn dă ở
một trong những khu nghèo nhất ở Việt Nam. “Cuộc sống ở đó nghèo đến
mức chúng tôi không có dầu thắp đèn và phải dùng bấc đen nhúng trong
mỡ chuột để thắp sáng”.
Có lẽ
v́ thế, mà ông Ẩn tự thấy đời ḿnh luôn đầy nghịch lư. Nhưng mọi sự
việc bi thảm, căng thẳng đầy thử thách đă được ông làm cho nó b́nh
thường đi. Ông đổ cho số phận và đôi khi tự trào ḿnh bằng cách giải
thích theo cuốn sách tử vi Pháp (horozcope) hướng dẫn về điểm mạnh
yếu của con người.
Người
yếu, mắt sâu, táo bón. Loại người quan tâm sức khỏe không dám nguy
hiểm. Ông nói về ḿnh mà như nói ai. Nhát, sợ chết, sợ bệnh. Nhưng
việc phải th́ dám làm. Nghề phù hợp: báo chí. Ai biết sử dụng anh
th́ tốt, không th́ anh chơi. Nhưng rồi anh tự nhận xét: nghề hợp
nhất: làm hề. Đẻ ở nhà thương điên Biên Ḥa! Có máu điên điên. Xưa
có ít bác sĩ, chỉ nhiều y sĩ. Chỉ có một ông bác sĩ ở nhà thương
điên. Vợ các quan chức cao cấp đẻ đều vô đó. Lớn lên ông già làm địa
chính họa đồ đo đạc, hay dắt Ẩn đi theo. Có lẽ v́ thế ông biết rất
nhiều. Như lại bị cái thói mê chơi ngày bé khuyến dụ, ông Ẩn kết hợp
nói chuyện ḿnh đẻ ở nhà thương điên cho tiện.
“Ŕnh bắt cọp con, bắt rắn rít, nhỏ đâu có sợ chết. Cái ngu. Ham
chơi quá. Không chỉ đá kiến, mà bọ cạp cũng cho đá. Mùa ve Huế, tối
tôi đâu có ngủ. Sau mưa, nó như nhộng ḅ lên mới ra cánh. Ve ḅ đi
để xác lại. Nó bay đi rồi ngày sau ve cái mới kêu. Có hai hạt gạo
bên hông, kêu bằng cái đó. Đực không kêu. Đèn đốt bằng mỡ, không có
dầu, dầu lửa mắc. Bắt ve về nhà khi nó lột, lựa ra con cái. Không
kêu, nắm lắc lắc kêu, tiếng không thanh. Có khi sợ quá, nó kêu. Con
đực thả đi. Dân Huế nghèo, bắt ăn. Dế ăn, ve ăn. Dế khôn hơn. Tôi
lên miền Thượng, thả kiến vào cắn, dế ngoi lên…
Con
nào cũng hay trơn!”
Giọng
ông nửa trách móc, nửa hănh diện kiểu trẻ con. Lại như giải thích
cho tính khí của ḿnh.
Có
phải tất cả mọi việc sau này đă bắt đầu từ những việc li ti đó? Có
cái ǵ của thời thơ bé ấy c̣n in dấu làm nên tính cách con người anh
hùng của hôm nay?
(c̣n
tiếp)
NGUYỄN THỊ
NGỌC HẢI
Quay lại phần đầu |