|
Chân dung Phạm Xuân Ẩn - Kỳ 10: Ẩn giữa cuộc chiến
tranh
Nhà báo Phạm Xuân Ẩn kết thân với
nhiều người có thế lực. Đỗ Cao Trí là một trong số đó. Thân đến nỗi
Trí là tư lệnh vùng 3 có lần rủ nhà báo Ẩn viếng tiền đồn đang bị
bao vây ở Tây Ninh. Trí hỏi có sợ chết không, nhà báo đi trực tiếp
chiến trường? Ḿnh như người lính dù treo tọng teng trên trời,
thằng nào nó ngắm bắn cũng chết. Chết là hết. Vô quân đội là đă chấp
nhận ḥn tên mũi đạn c̣n ǵ. Đạn tránh anh chứ anh tránh được đạn
đâu.
Với ư nghĩ đó, ông Ẩn hành nghề báo
chí, hay ông là một sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, hai cái ḥa
làm một. Ông đă từng mượn xe của Phủ Tổng thống thời Ngô Đ́nh Diệm
đi thăm các khu trù mật, trên xe mang biển số ẩn tế, đề pḥng bị
phát hiện và V.C phục kích. Tuyến đường xấu lắm. Sau Mỹ qua mới có
sửa lại, mở rộng, không c̣n quang cảnh đường đi Buôn Mê Thuột nhỏ
xíu. Ẩn cũng đă từng lái xe ra tận Vĩ tuyến 17.
Sau
này, ông theo cả trực thăng Mỹ đi hành quân. Đă có lúc ông tính phải
tập nhảy dù, chỉ huy của ta ngăn lại, sợ nguy hiểm quá. Trong trận
mạc, quân đội và du kích ta thường bắn tỉa bọn nhảy dù và đó là cách
diệt địch khá hiệu quả. Cũng đă có lần trực thăng chở ông bị lửa đạn
nhắm bắn. Sau một ngày ta thắng lớn trận Ấp Bắc, Ẩn đă theo trực
thăng Mỹ lên tận nơi. Sự lừa
dối hào nhoáng của Neil Sheehan miêu tả chủ yếu về trận
Ấp Bắc này. Không một đồng nghiệp nước ngoài nào ngờ cái người đi
cùng với họ với tư cách kư giả đi viết tin chiến trường ấy - Phạm
Xuân Ẩn - là người góp công lớn cho chiến thắng Ấp Bắc với tư cách
một chiến sĩ điệp báo Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chính ông Ẩn và
người tiểu đoàn trưởng quân ta chỉ huy trận đánh này được thưởng
Huân chương Chiến công hạng Nh́.
Những cuộc hành quân nơi xa như Cà Mau, Tây Ninh, ông đều đi theo
với tư cách kư giả chiến trường bằng trực thăng Mỹ.
Trong chuyến đi Đỗ Cao Trí tổ chức, ông suưt gặp nguy hiểm mất mạng.
Nếu không nhường chỗ cho kư giả Franscoi’s Sully của tạp chí
Newsweek th́ ông đă chết trong chuyến ấy rồi. Chiếc máy bay đó bị
bắn rớt và nhà báo Franscoi’s Sully đă chết trong chuyến đi đó.
Trong các chuyến đi viết tin chiến trường như thế, với nhiệm vụ kư
giả, chưa bao giờ ông đưa tin thất thiệt hoặc tin “đầu độc” theo
kiểu t́nh báo. Ông chỉ đứng ở vị trí phóng viên để mở quan hệ rộng,
thu thập tin tức chứ không dùng tờ báo làm công cụ. Không có một bài
viết nào của Ẩn làm hại cho tờ báo hoặc viết điều ǵ không đúng.
Chắc chắn là tờ Time đă kiểm tra toàn bộ những bài viết của ông sau
khi Việt Nam thống nhất, ông Ẩn được biết tới là một anh hùng, một
vị tướng t́nh báo Cộng sản.
Các
nhà báo phương Tây trở lại Sài G̣n sau giải phóng, vào những dịp kỷ
niệm 30-4 của các năm chẵn, họ vẫn nhớ đến thăm người đồng nghiệp
cũ. Ngoài t́nh cảm kính trọng mang tính chất cá nhân, họ vẫn luôn
khổ v́ phải t́m cho ra câu trả lời v́ sao nước Mỹ thua cuộc tại xứ
sở nhỏ bé lạc hậu này. Họ càng mong mỏi hơn nữa t́m được lời giải,
thuyết phục từ con người, từ chiều sâu truyền thống văn hóa. Mà hơn
ai hết, người mẫu của họ cần nghiên cứu chính là anh bạn đồng nghiệp
Ẩn.
Ẩn
có thể trả lời cho họ hiểu nhiều điều, ông có tư duy phân tích khách
quan của nghề báo, có tính chất sâu sắc và nghiêm cẩn của người sĩ
quan t́nh báo, bản thân ông lại mang nhiều đặc trưng của cuộc sống
Việt Nam. C̣n ǵ hơn thế! Không chỉ là chuyện nhận định những ǵ đă
xảy ra, mà chính ông có thể nói về hôm nay, về đường hướng phát
triển của đất nước này, có thể giải thích các nghịch lư từ dưới tầng
sâu của sự kiện.
Đến
ngôi nhà của ông hôm nay, bạn bè thấy người chiến binh kỳ cựu ấy
không nghỉ. Không phải v́ ông c̣n giúp ích rất nhiều cho nghiên cứu,
giảng dạy, soạn tài liệu, mà v́ đó là một lối sống: ung dung tự tại,
không tham dự nhiều nhưng lại luôn hiểu biết. Ông vào nghề t́nh báo
từ lúc 25 tuổi - như tất cả những người yêu nước phải làm một công
việc của Cách mạng, không thể có lựa chọn nào khác, khi dân tộc mất
Độc lập - Tự do, dân nước nô lệ.
Nh́n vào nét lớn của những bước phát triển kháng chiến ta sẽ thấy
đời ông Phạm Xuân Ẩn trải qua tất cả các giai đoạn. Từ thời chống
Pháp 1945-1954; từ 1954-1960 miền Nam dưới chế độ Ngô Đ́nh Diệm; từ
1961-1965 giai đoạn Chiến tranh đặc biệt, dùng quân ngụy với viện
trợ Mỹ càn quét, dồn ấp chiến lược 10 triệu đồng bào. Những chương
tŕnh và kế hoạch lớn do Staley - Taylor (giáo sư kinh tế Eugene
Staley và Đại tướng Maxwell D. Taylor) xây dựng nhằm b́nh định Miền
Nam trong một tháng và kế hoạch bổ sung của Johnson - Mac Namara
b́nh định Miền Nam trong 2 năm 1963-1964 hoàn thành 16 ngàn trong
tổng số 17 ngàn ấp xă Miền Nam.
Chính thời gian đó, Mỹ thay Diệm và quân ta chiến thắng Ấp Bắc và
B́nh Giă vang dội - kết quả của ba mũi giáp công của quân dân Miền
Nam. Giai đoạn Chiến tranh cục bộ 1965-1968 Mỹ đưa quân ồ ạt vào với
ư đồ giải quyết nhanh trong 4 năm, hơn một triệu quân, trong đó 50
vạn lính Mỹ đổ vào. Đây cũng là giai đoạn các chiến thắng Vạn Tường,
Playme, Bầu Bàng, Núi Thành, Chu Lai, Đường 9. Mỹ điên cuồng ném bom
hủy diệt Miền Bắc hậu phương lớn. Những chiến dịch khét tiếng quy mô
tàn k hốc và do đó cũng thành lẫy lừng chiến công của quân dân ta
như: Chiến dịch Xêđa phôn (Cedar Fall), Birmingham, Giônxôn City
(Johnson City) với những cuộc hành quân lớn kinh khủng, tới 45 ngàn
quân đổ xuống một huyện.
Đây
chính là giai đoạn mà Tổng chỉ huy quân sự Đại tướng William
Westmoreland bị cách chức và Bộ trưởng Quốc pḥng Robert S. Mac
Namara từ chức sau Tết Mậu Thân. Từ 1969-1973 Mỹ rút quân, thực hiện
học thuyết Nixon, mở rộng chiến tranh Đông Dương. Ta lại có chiến
công Đường 9 Nam Lào. Mỹ điên cuồng phong tỏa Hải Pḥng và đem B.52
rải thảm bom vào Hà Nội. Sau 1973-1975 là giai đoạn cuối cùng Việt
Nam hóa chiến tranh và dẫn tới chiến thắng đỉnh cao 30-4-1975 đất
nước Việt Nam hoàn toàn độc lập.
Những sự phân chia giai đoạn chiến lược của kháng chiến ấy, như một
cuốn sử tóm tắt, người Việt Nam đă thuộc. C̣n những con số khủng
khiếp cũng được tổng kết: Mỹ chi 720 tỷ đô la cho chiến tranh ở Việt
Nam và đă huy động 70% lực lượng lục quân, 60% lính thủy đánh bộ,
60% không quân và 40% hải quân, cùng với 22 ngàn xí nghiệp phục vụ
chiến tranh.
Các
hăng truyền h́nh nước ngoài cho những con số khác nữa. 1 kilômét
vuông ở Việt Nam đă phải chịu 6 tấn bom Mỹ ném xuống. 1/3 rừng Việt
Nam bị tàn phá do bom đạn và chất độc rải xuống. Bom Napalm là một
trong những thứ vũ khí tai tiếng nhất với sức nóng 2.000 độ và những
chiếc máy bay chiến đấu C.47 có súng máy, đại liên và 600 quả bom,
mỗi quả bung ra 300 viên bi giết người. Kư giả Mỹ đă thốt lên “năm
1968 làm bầm dập một thế hệ chúng ta”. Năm 1969 có hơn 54 vạn lính
Mỹ tới Việt Nam và có 50 ngàn trẻ lai Mỹ sau chiến tranh. Có tới 2
triệu cuộc hành quân t́m diệt trong suốt cuộc chiến và 36 triệu phi
vụ chiến thuật bằng trực thăng. Cuối năm 1969 kư giả nước ngoài gọi
Việt Nam là một nấm mồ tập thể của đội quân nước ngoài đă mất hết lư
trí. 58 ngàn lính Mỹ đă chết trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
Trong giáo tŕnh dạy về nghiệp vụ báo chí của các Đại học Mỹ, người
ta dạy các sinh viên, các nhà báo tương lai rằng không nên làm báo
theo kiểu “nhồi banh” (mush ball) la liệt con số, sự kiện. Nhưng có
thể nào người ta lại quên đi được những con số - đă rất tóm lược,
trên đây?
Tất
cả cuộc chiến tranh dài đau thương và anh dũng ấy, Ẩn thực sự ẩn
ḿnh trong một vị trí chiến đấu lạ lùng và cam go không biết có thể
so sánh với hàng triệu triệu số phận và câu chuyện đặc biệt của dân
Việt Nam không? Chỉ biết rằng hôm nay, con người ấy vẫn tiếp tục một
cuộc sống mới cùng dân tộc. Nguyên tắc sống và tính chất con người
của ông vẫn là của “mùa thu cũ” như thơ Xuân Quỳnh đă nói về t́nh
yêu. Mùa thu đă vàng hoa cúc, đă ra biển cả với ḍng nước trôi, đă
đi theo lá về rừng. Tất cả đă trôi qua, chỉ c̣n em và anh, là của
mùa thu cũ thủy chung. Chỉ có t́nh yêu là không thay đổi. Vậy là nó
mới hay cũ? So sánh với t́nh yêu như thế không hề sai về sự thủy
chung của con người đă được miêu tả là “người yếu ớt cong xuống
nhưng không dễ bị đánh gục giống cái cây trong giông băo”. Không dễ
bị đánh gục, hay là con người trung kiên không dễ đổi thay?
Vài
lần, khi đến nhà, tôi thấy ông đang nhặt nhạnh đống đồ chơi mà đứa
cháu nội để vương văi. Chú bé đă đi nhà trẻ mẫu giáo. C̣n người ông,
không giống những người ông chỉ vui với cháu chốc lát chứ không chịu
được nhịp sống động của trẻ nhỏ. Ông Ẩn tự nhận ḿnh là “vú em” v́
tham gia rất nhiều vào việc nuôi nấng đứa cháu thiệt tḥi v́ xa mẹ.
Ông như chính chú bé rất thạo “Đồ chơi Đức mắc nhất nhưng bền và
chính xác”. Ông cầm lên chiếc ô tô nhỏ. Giờ đây ông thuộc đồ chơi
hơn bất cứ ông già và người lớn tuổi nào. Tàu họ làm cả quỷ sống…
khôn lắm, một năm thu lợi một tỷ đô. Tàu bắt chước nhanh, bán rẻ
thôi, do tiếp cận thị trường. Thằng Macao bắt chước. Đây, cây sáp
đốt h́nh con khỉ tuổi Thân. Ông cầm chiếc xe lửa: bị đập lên đập
xuống hoài vẫn chạy. “Đồ chơi th́ Nhật vẫn là số một. Bán cùng thế
giới hết. Rẻ nhất, mề đay giả, dây chuyền. Rẻ, mau hư. Đức, Anh, Mỹ
làm đồ bền chặt. Tàu bắt chước, bán chiếc xe lửa, 7,80 ngàn. Nó kiếm
tiền từ những người như tôi. Nhật thua đồ Tàu v́ đắt hơn”. Ông cười
như nhận lỗi: “Tôi hay để ư lắm. Làm báo phải biết những ǵ con
người quan tâm. Độc giả thường thích cái lạ, cái chưa quen thuộc. Có
ba loại đề tài luôn được người ta đón đọc, đó là viết về các vấn đề
xă hội, việc gia đ́nh, và viết về bản thân ḿnh, câu chuyện cuộc đời
cá nhân…”
Ông
đang nghiên cứu những vấn đề mới của kinh tế thị trường, cho nên
“cái nh́n đồ chơi” của ông cũng có màu sắc t́m hiểu thương trường
theo cái liên tưởng mọi vật một cách tự nhiên. Phải xây dựng một
tầng lớp người mới qua kinh tế thị trường. Có những người dị ứng khi
dùng chữ Tư bản. Nhưng thật ra thị trường là sản xuất theo nhu cầu
con người, không đặt cao giá trị sản xuất mà chú trọng vào giá trị
sử dụng và thị hiếu. C̣n tư bản th́ một xu nó cũng tính, lợi nhuận
là trên hết.
Ông
nói chơi chơi như tâm sự với bạn bè về những điều quan tâm chung.
Phải xây dựng những lớp người mới có tŕnh độ khoa học - kỹ thuật.
C̣n tác giả Thăng trầm quyền
lực nói tiếng Tàu giỏi, nó bảo tài nguyên cũng lớn nhưng
tài nguyên lớn nhất vẫn là con người. Việt Nam nh́n lại cũng sẽ rơ:
Hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ vừa qua đă thắng lợi trong
các điều kiện không ai làm nổi. Không có một nước thuộc địa nào
giành được độc lập theo cách như vậy. Toàn là chịu thuộc địa kiểu
mới. Đánh thiện chiến như chúng ta là phải có con người. Hậu cần
theo kiểu đường ṃn Hồ Chí Minh, xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, chỉ
có Việt Nam làm. Do con người sáng tạo.
Bây
giờ cứ thử ḍm trên ti vi là sợ liền: mâu thuẫn ly khai, sắc tộc các
nơi triền miên. Việt Nam vẫn làm theo cách của ḿnh. Theo ông, phải
vận động tinh thần đường ṃn Hồ Chí Minh vào kinh tế xây dựng đất
nước th́ không thế lực nào “ăn” nổi. Kinh tế thị trường là khách
quan, có từ trước Chủ nghĩa tư bản. Bây giờ thị trường là chiến
trường, chúng ta xây dựng Chủ nghĩa xă hội trên nó. C̣n Tư bản xây
dựng Chủ nghĩa tư bản bảo vệ quyền lợi đại tư bản. Đấu tranh này
cực, cực vô giới hạn. Những suy nghĩ có tính “vĩ mô” này, ông nói ra
rất tâm t́nh, như là đang tự nghĩ.
Ông
vẫn thường bị kư giả phương Tây phỏng vấn về dân chủ, tự do, với tư
cách là một người đă nếm trải cả những cay đắng ngay trong chế độ mà
ông đă hết ḷng.
Thật ra bọn họ không hiểu - Morley đă
viết: “Ẩn chẳng phải là người biện hộ cho những nguyên do mà anh
phục vụ… không giống Athur - Koestler và những người say mê chủ
nghĩa Mác, tôi nghĩ Ẩn chưa bao giờ sùng tín… Điều mà tôi nghi ngờ
là anh đă không phân biệt rơ ràng đâu là chính bản thân, đâu là
chính trị và xứ sở anh. Tôi nghĩ rằng anh đă hành xử một cách tự
nhiên, chứ không chỉ v́ can đảm. Không phải tính chất thánh thần mà
chính v́ chất con người đă khiến anh thất bại”. Cái nh́n riêng biệt
ấy đă cho rằng Ẩn đă không được tin cậy do việc ông Ẩn đă đi “học
tập cải tạo” dành cho những người của Đảng cần được uốn nắn về tư
tưởng.
Ông cũng không suy xét về việc đó lâu.
Ông lư giải về dân chủ một cách sáng sủa như một sự hợp lư hiển
nhiên. Ông nói với kư giả Mỹ rằng dân chủ kiểu Mỹ chỉ là dân chủ cấp
thấp: cơ chế để kiểm soát đa nguyên chỉ là cơ chế giúp không nổi
loạn. La hét kệ, cả triệu người cũng không sao. Cho nó la mà biết để
sửa. Công đoàn Mỹ cũng biểu t́nh la hét mạnh mẽ nhưng họ không bao
giờ được tham gia vào đường lối chính sách. Dân chủ chỉ là đường lối
để cai trị dân. C̣n dân chủ xă hội chủ nghĩa mới là dân chủ cấp cao.
“Cứ lấy cái thí dụ kinh tế chia phần cái bánh - Dân chủ xă hội chủ
nghĩa v́ đa số dân chia phần bánh lớn. Chứ tư bản: chia đều th́ tao
đi ăn mày à. Chuyện đó không có”. Vẫn giọng hài hước và diễn giải lư
luận cao siêu ra thành h́nh ảnh đơn giản. Ông Ẩn thường chinh phục
người khác bằng sự uyên bác nhưng rất giản dị và hóm hỉnh.
Chắc phải sửa lại câu nói của Morley:
không phải chất cao siêu thánh thần mà chính v́ chất người, chính
chất người đậm chất khôn ngoan, chân thành của người Việt đă giúp
ông thành công.
(c̣n
tiếp)
NGUYỄN THỊ
NGỌC HẢI
Quay lại phần đầu |