|
Chân dung Phạm Xuân Ẩn - Kỳ 7: Chàng kư giả "nhiều
tít"
Những năm 60, khi ông Phạm Xuân Ẩn
bắt đầu trở thành phóng viên của Việt Nam Press Reuters; 1964-1965
là phóng viên của the New York Herald Tribune, rồi tuần báo Time từ
1965-1976; xă hội miền Nam đầy những biến cố. Hàng chục vạn lính Mỹ
và chư hầu đổ vào. Nạn đĩ điếm “bùng phát” đến nỗi thượng nghị sĩ Mỹ
J. William Fulbright, trưởng ban đối ngoại Thượng viện Quốc hội Hoa
Kỳ đi Nam Việt Nam năm 1966 về nước đă nói rằng: Mỹ đă biến Sài G̣n
thành một nhà chứa khổng lồ.
Trên tờ Le Monde của Pháp có bài viết
về một Sài G̣n ngập ngụa trong ba làn sóng: bán dâm, tham ô và nạn
chợ đen. Người ta nói rằng chính phủ thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ thành
lập một công ty kinh doanh nghề mại dâm. C̣n tổng trưởng Bộ Xă hội
th́ khoe: Nghề gái điếm phát triển tới mức trở thành một trong những
nghề có tổ chức tốt nhất.
Sài G̣n, nơi lương tâm và ḷng yêu
nước không bao giờ lắng, đă có cả một phong trào đấu tranh chống văn
hóa đồi trụy và nô dịch của Mỹ, bảo vệ thuần phong mỹ tục Việt Nam.
Trong t́nh h́nh ấy, riêng chỉ là một nhà báo, ông Ẩn phải “lặn sâu”
vào mọi giới trong xă hội. Ông không chỉ quen với đám x́ ke ma túy
tới độ qua xem họ chích trên đường Lê Lai, chơi với cả ông trùm. Ông
tận mắt quan sát họ trong t́nh trạng ngà ngà hoặc thiếu thuốc, vật
vă. Lâu lâu ông cũng viết những bài điều tra xă hội, mặc dù công
việc chính của ông là một chuyên gia về phân tích chính trị, quân sự
và chuyên viết chiến tranh.
“Tôi
có nhiều tên lắm. Họ gọi tôi là chuyên viên đảo chính v́ luôn viết
về quân sự, về biến cố chính trị và các cuộc đảo chính. Là “tiến sĩ
Cách mạng” cũng v́ chuyên viết về các đổi thay thời cuộc”.
Ông cũng có cái tên giảng viên sinh lư cho các cô “tứ thời” thường
đến ngồi bàn với ông Ẩn tại “đại học Continental” (nhà hàng) chờ
khách. Tên là “bác sĩ chó” v́ Ẩn biết chữa bệnh cho chó của các bà
bạn đầm. “Tôi nhiều tít lắm” - Ông Ẩn c̣n kể ra thêm một cái tên lạ
người ta đặt cho là “giáo sư Sexology”: Lúc chiến sự tạm yên, để
đổi đề tài, ông hay viết về các cô gái điếm, vũ nữ. Thời đó, nhân
viên bảo vệ thuần phong mỹ tục hay bắt các cô vũ nữ lố lăng và họ
thường biết ơn vô cùng “ông nhà báo” hào hiệp, có uy đă quen c̣ mà
xin tha cho các cô. Không chỉ dân x́ ke ma túy có thể nói dóc với
ông ngay bên bàn đèn, khi ông ngồi coi người ta tiêm thuốc, Ẩn c̣n
được các cô vũ nữ giúp kể nhiều chuyện về cuộc sống đưa đón khách để
làm tài liệu viết bài. Ông có thể kể cho bạn đọc cuộc sống các cô ra
sao khi lấy Mỹ, nếu rủi có con không nuôi được th́ cho ở đâu. Cũng
có khi ông đi cùng kư giả Mỹ làm các cuộc phỏng vấn tận Quy Nhơn.
“Những kư giả kiểu đó, an ninh bám theo ngay”, ông Ẩn nhớ lại chuyến
đi cùng một nữ kư giả Mỹ vào đúng thời gian quân Mỹ bị tấn công lẻ ở
bất cứ chỗ nào. Phong trào diệt Mỹ của quân dân ta đang lên cao.
Những ổ gái điếm cũng có lúc gặp khó khăn, ế hàng v́ lính Mỹ được
lệnh cấm vào những chỗ đó nguy hiểm. Việt Cộng thường tận dụng diệt
Mỹ trong các sào huyệt ăn chơi, lơ là mất cảnh giác. Trong chuyến
công tác đó, kư giả Ẩn ở tại nhà tỉnh trưởng c̣n nữ kư giả Mỹ ở nhà
một tướng Mỹ. Khi thâm nhập thực tế, họ đi dọc theo các Snack-bar,
tiệm nước dọc bờ biển, hỏi chuyện các cô nàng đang ế khách. Ngồi
trong tiệm, lâu lâu thấy bóng lính Mỹ, một cô mời gọi: “Come on,
boy, no vi-xi, no vi-đi (V.C - Việt Cộng; V.D - Venereal Diseases).
V.D là tên của bệnh giang mai khó chữa. Lúc đó thuờng được gọi là
bệnh Okinawa do lính Mỹ bên đó mắc phải và đă nhờn với kháng sinh
thường dùng. Kháng sinh chữa không ăn thua. V́ sao kư giả đi kiểu đó
bị an ninh “bám?”
“An
ninh rất sợ kư giả phản ánh thực trạng tồi bại của xă hội. Họ đi
theo giải thích cho kư giả hiểu là đừng có viết những mặt trái đó”.
Chẳng qua là chuyện xă hội b́nh thường, đừng viết nhá! Đời sống khó
khăn. Nông thôn ra. Bị gạt. Nhưng đâu phải vậy. Làm sao lừa được
người kư giả đă biết rơ mọi điều. Ăn chơi của đám có tiền đă lên đến
đỉnh cao: họ phải hoán đổi cả gái nhảy từ Hồng Kông, đổi món. Ở Sài
G̣n, trong các nhà hàng Mỹ Cảnh, Tự Do, Chợ Lớn… dân chơi không c̣n
thích nhảy với vũ nữ quen. Chuyện này một ông bạn của Ẩn đă gặp
trong một chuyến đi Hồng Kông. Người bạn đó không biết nhảy đầm
nhưng được mời vào pḥng khiêu vũ. Đụng một cô vũ nữ không nhớ là
ai, vậy mà cô ta reo lên “Hà, anh Hải ở Xây Cung (tức Sài G̣n) mới
qua hả?” Hỏi cô ta làm ǵ ở đây, cô nói “Đổi qua. Mai mốt chuyển về
Xây Cung lớ”.
Ông
Ẩn hay kể chuyện trào phúng về cái nghề làm báo của ḿnh. Câu chuyện
vui ông nói là của Mỹ hẳn hoi khỏi ai chê trách. Con của kư giả nọ
một hôm đi học, cô giáo hỏi ba làm nghề ǵ? Nhà báo. Báo nào con
không biết. Con về hỏi ba, cô hỏi ba bạn, bạn nào trả lời cô cũng
hiểu. Bác sĩ, biết khám bệnh. Luật sư, giáo sư, lái xe cô đều hiểu
cả, chỉ có nhà báo là con cũng không biết giải thích thế nào. Mẹ
nói: giải thích dễ lắm. Con mẹ nào đó, thằng cha nào đó không làm
được nghề ǵ hết v́ không có bằng cấp. Luật sư, bác sĩ, lái xe phải
có bằng. Thằng này không có bằng cấp nào nên nó không làm được ǵ
hết đành đi làm báo. Viết sao cho người ta đọc được th́ viết. Nó làm
mấy nghề khác không được.
Những chuyện kiểu “tiếu lâm” ấy ông Ẩn nói về nghề ḿnh vừa có chất
tinh nghịch lại như có một chút ǵ đó giải thích cho những ǵ “kỳ
cục” mà ông đă sống qua. Nói như chế giễu vậy nhưng ông yêu nghề báo
lắm, hết ḷng với nghề. Rồi như nó “vận” vào ông thật, đứa con gái
của ông đi học lớp hai, cũng được hỏi rằng ba làm ǵ. Nó giải thích
nghề kư giả của ba như sau: Thấy ba toàn ra tiệm ngồi ăn, tán dóc,
tới tháng mấy ông Mỹ trả lương cho ba đem về cho má đi chợ!
Ông
giải thích thêm: đă là kư giả hồi đó th́ thấy biểu t́nh, có chém
chết nó cũng chụp ảnh viết bài. Thượng vàng hạ cám cái ǵ đám báo
chí cũng t́m biết. V́ thế an ninh nó theo là phải: kư giả tụi tôi có
“mùi hôi tanh” ngửi thấy từ xa. Phải chăng ông đang nhớ lại những
tháng năm lăn lộn với nghề, vừa làm một nhà báo giỏi thực sự cho ṭa
báo của ḿnh, vừa có thể từ vị trí nhà báo được tin cậy mà có nhiều
nguồn trung gian quan trọng lấy được tin tức cho cuộc chiến đấu của
dân tộc mau thắng lợi.
Ngày nay, chúng ta sống ở một thời đại mà thông tin, báo chí phát
triển đến mức con người lại phải đối mặt với sự loạn tin tức, chắc
hẳn có người sẽ mỉm cười khi nh́n về thời gian làm báo của quá khứ.
Nó có vẻ đơn giản? Hay là mọi sự đă tiến lên nhanh quá? Khi các nhà
báo phương Tây đă từng hành nghề ở Sài G̣n nay trở lại chốn xưa, họ
cũng đă phải kinh ngạc miêu tả sự biến đổi của đất nước này. Chi
tiết cỏn con về người con trai một chủ tiệm café ch́a cuốn bài tập
Oxford nhờ chỉ cách dùng điều kiện cách, một thanh niên dọn cây đổ
cũng biết đài VOA đêm qua giảng đến bài số mấy - chi tiết cỏn con đó
khác xa với h́nh ảnh đất nước này khi xưa họ biết.
Tác
giả Edith Lederer lái xe từ Sài G̣n ra Đà Nẵng cố t́m các đài kỷ
niệm chiến tranh xưa và ông đă nhận ra rằng căn cứ quân sự Đà Nẵng
của thủy quân lục chiến năm 1965 đă biến mất trước vẻ nhộn nhịp của
một trung tâm thương mại lớn của thành phố đang mọc lên. “Căn cứ Mỹ
tại Biên Ḥa nay trở thành một đống xà bần to quá xá và The Brinks,
căn cứ Mỹ cuối cùng tại Sài G̣n, nay sắp bị san bằng”.
Họ có thể trở lại đất nước này, ngửi
lại không khí sặc mùi xăng không phải của chiến trận, mà là cái bệnh
ô nhiễm của xứ sở phát triển biến đổi nhanh. Họ có thể thấy sân
thượng của Continental, nơi ngày xưa những phóng viên nước ngoài
viết chiến tranh lui tới, nay ở đó có bán Pizza. Khách sạn Hoàng Gia
chốn tiêu hoang của dân nhà báo xưa, nay là nơi bán kem Ư. Khá nhiều
người Mỹ và phương Tây giờ đây lái xe, du khảo, chạy v́ ḥa b́nh
trên con đường quốc lộ, mà “adrenalin trong cơ thể không c̣n phải
lên từng cơn qua mỗi khúc quẹo như thời chiến tranh không có Việt
Cộng phục kích th́ cũng có Mỹ ném bom”. Thậm chí Peter Arnett c̣n
nhận xét rằng để kinh doanh du lịch, người Việt Nam không thờ ơ với
cảm giác của du khách và đă “thương mại hóa cả các chiến trường” -
đó là các tour đi Khe Sanh…
Th́ nói làm ǵ, khi thời đại đă thay
đổi lớn lao con người cũng gặp cả những thảm họa mới. Từ trước đến
nay các chuyên gia nghĩ rằng các bệnh mới, gay cấn, thách đố nhân
loại, do virus gây ra, đều bắt nguồn từ đột biến gen. Nhưng bây giờ
điều đó không đáng sợ bằng ảnh hưởng của việc xă hội loài người biến
đổi. Người ta lấy thí dụ một con HIV đă có từ lâu ở Châu Phi. Nó
không lộng hành như những năm 70, 80, mà hàng thế kỷ nó không vượt
biên giới để đi đâu cả. Những năm 60 được gọi là những năm “không
vượt qua lũy tre làng”. Chỉ đến khi giao thông vận tải và du lịch
phát triển, nó đă đưa mọi thứ đến.
Trước đó th́ chiến tranh, sau này là
mậu dịch và du lịch khiến con người từ lũy tre làng đi đến tận cùng
cuối đất, nh́n thấy mọi nền văn hóa. Chỉ không đầy một thế kỷ, nhiều
thứ đă thay đổi, và tốc độ của đô thị hóa, của lối sống con người,
của khai thác đất đai, của du hành bằng máy bay đă thu nhanh bước
của virus. Bao nhiêu là vấn nạn, bao nhiêu là lăng quên!
Th́ chàng kư giả trẻ ngày ấy, nay đă
ngoài 70 tuổi rồi c̣n ǵ. Tuổi thanh xuân của ông vật lộn với những
cam go, với sống c̣n, với ḷng can đảm hy sinh, sự lựa chọn con
đường. Nó cũng gay go khủng khiếp, cần sự quật cường. Có thể nh́n
thấy cái bối cảnh mà thế hệ ông đă sống, qua vài con số. Bức tranh
c̣n lại là 15 triệu tấn bom đă ném xuống nay vẫn c̣n 300 ngàn tấn
chưa nổ. 3 triệu người chết, 4 triệu người bị thương, 2 triệu người
nhiễm chất độc hóa học, 170 ngàn người già mất người thân phải sống
nhờ xă hội…
Nếu đứng lùi để nh́n lại
bức tranh ấy, với h́nh ảnh một con người không mang súng đạn phải
đương đầu. Ông đă như mọi người khác ở Việt Nam phải nếm trải. Nhưng
cũng có thể nh́n từ một vị trí khác, góc độ khác sẽ thấy một h́nh
ảnh của cuộc đời lạ lùng.
(c̣n
tiếp)
NGUYỄN THỊ
NGỌC HẢI
Quay lại phần đầu |