|
Chân
dung Phạm Xuân Ẩn - Kỳ 5: "Có ba nền văn hoá trong tôi"
Quả thật ông
không bao giờ giấu giếm ư nghĩ rằng đă học được rất nhiều điều ở Mỹ
và có thể coi thời gian đi học ở trường báo chí Orange Coast tại
quận Cam, California là những năm quyết định quan trọng đối với ông.
Người dân Mỹ trung thực, công bằng, cởi mở và tử tế. Họ cho thấy
phần nào khái niệm về tự do và ḷng tôn trọng quyền của con người. “Họ
chỉ cho tôi cách nh́n mọi sự theo con mắt của người khác, phê phán
bản thân ḿnh trước hết. Họ dạy các thế hệ biết lao động, biết trở
về thực tế. Tôi mong muốn con cái tôi được giáo dục ở Mỹ”.
Kư giả nước ngoài vẫn thường trích dẫn ư kiến này.
Nhưng họ không
biết rằng việc Ẩn sang Mỹ du học vào cái năm 1957 trên danh nghĩa tự
túc bằng tiền hưu trí thôi việc lúc mới 30 tuổi, có 7 năm làm việc,
có đủ tiền máy bay lúc đó giá 600 đô - cuộc đi đó do Đảng Cộng sản
Việt Nam quyết định. Nếu không quá khó khăn, Đảng muốn Ẩn học từ 4
đến 6 năm để có bằng tiến sĩ. Mục đích của Đảng giao cho Ẩn phải học
thật giỏi, và t́m hiểu nước Mỹ. Chính v́ thế Ẩn đăng kư học lịch sử
- địa lư - kinh tế Mỹ, báo chí, quân sự… Không những thế, Ẩn có ư
thức tích lũy những kỹ thuật, nghiệp vụ, các bài học rút ra từ các
tài liệu của Mỹ, Liên Xô, Nhật. Ông đă kể lại những ngày đi học ở
Mỹ, với bạn ông, nhà báo Hồng Liên như sau:
…
“Chính người Mỹ dạy tôi nhiều bài học bổ ích. Tôi c̣n nhớ, trước khi
đi, bên nhà dặn tôi phải ráng học cho xuất sắc. Tôi vâng lời. Một
hôm, bà giáo dạy môn Anh văn hỏi: Tôi thấy môn này anh đă giỏi rồi,
đâu cần học nữa. Tôi nghi anh qua đây không phải để học mà làm
chuyện khác. Giật ḿnh, tôi ráng trả lời một cách b́nh thản: nước
tôi nghèo, nên tôi phải ráng học, học bất cứ cái ǵ có thể để về
phụng sự quê hương tôi. Bà đáp: Ừ, bây giờ th́ tôi tin anh. Tôi nghi
ngờ anh là v́ hồi Đệ nhị thế chiến, tôi huấn luyện sĩ quan t́nh báo,
nên có bệnh nghề nghiệp (!). Anh bạn học chung lớp cũng thắc mắc tại
sao tôi phải cố học cho giỏi. Hắn nói: Mày học xong sẽ về hay ở lại?
Nếu ở lại, tao khuyên mày nên đi chơi nhiều hơn. Người Mỹ không
thích học quá giỏi, v́ học giỏi khó kiếm được việc làm hơn người học
trung b́nh. Người thuê lao động nếu mướn người có học lực khá, họ
yêu cầu phải làm việc gấp rưỡi hoặc gấp hai người thường. Và họ cũng
không thích mướn những người học giỏi làm chung với người học b́nh
thường.
Từ dạo ấy, tôi bắt
đầu mê chơi. Một bài học khác: Khi học môn nói chuyện trước công
chúng, tôi không hiểu sao bài của ḿnh luôn bị điểm C dù đă gắng hết
sức. Tức quá, tôi hỏi chị bạn ngồi kế bên. Chị nói: Vị giáo sư là
người không ưa Cộng sản. Mà tôi th́ thấy anh ưa dùng từ kiểu Cộng
sản. Anh không được điểm cao là phải. Hóa ra là khi tôi ở Việt Nam,
tôi hay đọc sách báo cách mạng viết bằng tiếng Anh. Tôi quen vốn từ
vựng cách mạng và sử dụng nó trong bài kiểm tra mà không biết. Về
sau, mỗi lần làm bài, tôi lại nhờ chị sửa giúp từ vựng. Và bài đạt
được điểm B. Mặt khác, khi về nước tôi không dám giao hảo với nhiều
người Việt. Tôi làm báo nhưng làng báo Việt Nam tôi hầu như không
quen ai, trừ một vài chủ bút. Ngay cả trong t́nh cảm riêng cũng phải
đè nén lại. Hồi ở Mỹ tôi có yêu một cô gái và định cưới cô ấy. Nhưng
tôi cưới vợ Mỹ th́ công việc của tôi sẽ càng rắc rối thêm. Vậy là
chúng tôi chia tay nhau.”
Sau khi học ở Mỹ
về, ông làm việc ở Việt Tấn xă, cơ quan thông tấn chính thức của
chính quyền Sài G̣n. Một năm sau chuyển sang viết cho Reuters. Bốn
năm sau, ông chuyển về tờ New York Herald Tribune. Từ năm 1965 -
1976 ông là phóng viên Việt Nam duy nhất viết cho Time.
Ngày nay, khi mà
loài người tự nhận thấy sự biến đổi của thế giới một cách rơ ràng
hơn, giao lưu với bên ngoài nhiều hơn, th́ lối sống cũng thay đổi.
Người ta biết rơ có nhiều lối sống khác với bao nhiêu là thách thức:
Thông qua Internet, người ta có thể thấy những luồng thông tin như
thác đổ. Nhân loại biết tự phê phán và mổ xẻ những nghịch lư của
thời đại ḿnh và họ đă viết ra trên Internet: “Chúng ta có nhiều ṭa
nhà cao hơn nhưng tính cách lại nhỏ hơn, đường cao tốc rộng hơn
nhưng quan điểm hẹp ḥi hơn, chúng ta chi xài nhiều hơn nhưng gia
đ́nh lại nhỏ hơn. Nhiều tiện nghi hơn nhưng ít thời gian hơn. Nhiều
bằng cấp hơn nhưng lại kém ư thức hơn. Thời của thức ăn nhanh mà
tiêu hóa chậm, lợi nhuận quá cao nhưng quan hệ hời hợt. Thời của ḥa
b́nh thế giới nhưng nội chiến và thiên tai nhiều hơn”…
Nhân loại tự
nhận thấy ḿnh uống quá nhiều, chi quá lố, giận quá mau, thức quá
muộn, dậy quá mệt, tăng số của cải nhưng lại giảm giá trị của ḿnh…
Một thời kỳ mà nhân loại nh́n lại ḿnh tiến những bước dài để sang
một thiên niên kỷ mới - Trong đó vệ tinh đầu tiên con người đầu tiên
đi lên vũ trụ, bệnh AIDS được phát hiện, có cuộc cách mạng Internet
và có công ty Microsof, và nhân bản được cả con người…
Trong thế giới
ấy, ở khắp nơi có đủ các kiểu sống. Chẳng phải chỉ ở phương Tây xa
lạ mà ngay ở phương Đông, ở nước Nhật, người ta cũng đă thấy được
một lối sống không phải của ít người, có tới 10 triệu “con kư sinh
sống độc thân” . Công thức và h́nh ảnh tiêu biểu thường là: một cô
gái ngủ 9 giờ mới dậy, mẹ đă làm thức ăn sáng. Lao vào đi làm tới 9,
10 giờ đêm mới về. Đi chơi, cưỡi ngựa, đánh golf, mỗi năm nghỉ nước
ngoài tiêu hết 9.000 đô. Thời đại của những kư sinh sống độc thân,
dựa vào cha mẹ, rút vào vỏ ốc, xa rời xă hội. Người ta nói rằng có
cả thế hệ người - chứ không phải số ít - đă lẫn lộn giữa hai chữ
hạnh phúc và tiện nghi vật chất. Rồi người ta lại hy vọng như một vị
giáo sư ở Nhật nhận định: Một xă hội sau thời kỳ nhộn nhịp sẽ đạt
đến thời kỳ trầm lắng và chỉ đến lúc tụt xuống quá mức th́ những nhu
cầu bức bách sẽ giục nó dậy lên…
Nếu như vào thời
hiện đại, th́ suy nghĩ của ông Ẩn về con đường rèn luyện cho một
niên thiếu thành người theo cách ông thấy được ở Mỹ sẽ chẳng có ǵ
đáng ngạc nhiên. Nhưng nếu ta đứng lùi lại nửa thế kỷ khi đất nước
Việt Nam c̣n biệt lập trong nỗi đau bị xâm lược, th́ những mong muốn
của ông Ẩn, cách suy nghĩ của ông cho con cái ḿnh yêu lao động và
thực tế “dễ ḷi ra ḿnh là
Việt Cộng v́ lúc đó ở Miền Nam giới công chức không ai nghĩ và làm
như vậy”. Ông Ẩn nhớ lại cái thời mà ông là phóng viên
của tờ Time, muốn con ḿnh gần đời sống b́nh dân, thấy cảnh cơ cực
để mà thành người. Ông nói:
“Ngày đó tôi c̣n muốn con đi theo các chuyến xuống nông thôn cho nó
thấy cảnh cực. Cho nó biết lội bùn, thấy con nít nhà quê ăn cơm bằng
chén làm từ muỗng dừa đen bóng”. Ông muốn thằng con trai
ḿnh phải tập làm việc, biết giao tiếp, và định xin cho nó tập làm
bồi ở nhà hàng Givral.
“Tôi muốn cho nó
làm trong dịp nghỉ hè, biết làm bồi làm bếp, giao dịch, chạy bàn,
lấy menu. Để sát với dân”.
Ông sợ con ḿnh giống như con cái của gia đ́nh khá giả xa cách với
cuộc sống - lúc đó Ân, con trai ông mới 12 tuổi.
“Ḿnh làm vậy là
bị nghi Việt Cộng. Nhưng tôi là vậy. Con nhà Mỹ nó làm việc nhiều.
Mỹ nó dạy như vậy. Tôi thấy vậy là khôn”.
Người ta ngạc nhiên và cũng ngại không dám nhân cho Ân tập làm bồi.
“Các ông sợ nó lóng ngóng không
biết làm? Hễ nó đập bể cái ǵ, tôi thường”. Nhưng ư định
này chưa kịp thực hiện th́ miền Nam giải phóng, cuộc đời đă thay đổi.
Ông nói: “Cái cách nghĩ như vậy,
giới thượng lưu miền Nam lúc đó cho chỉ có Việt Cộng mới dạy con lao
động cực khổ. Tôi th́ nghĩ điểm này nói là của Việt Cộng cũng được,
mà nói Mỹ hóa cũng được”. Con của tụi Mỹ như ông đă thấy,
“người ta nuôi con, đảm bảo cho con ăn học, có bệnh tật th́ chạy
chữa, đảm bảo những nhu cầu cơ bản. Nếu muốn xài hơn, th́ đi làm
việc kiếm tiền. Rửa xe, cắt cỏ… Dạy nó biết tiền từ lao động mà ra.
Dù gia đ́nh có là tỷ phú cũng vậy. Tôi thấy vậy là khôn”.
Phải lao động
tay chân - lao động bao giờ cũng phát triển nhanh tư duy. Từ lao
động chân tay mới vô trí óc. Phải lao động mới ra sáng kiến. Nhà
trường Mỹ dạy kỹ lắm. Nhỏ xíu đă phải học cả những giờ học về cây
cối. Ông thầy chỉ cách, tṛ tự trồng đậu, bắp, mía, biết cái cây nó
lớn thế nào. Lớn chút ít học thêm nghề mộc, được dạy cách cầm bào,
cưa, tập đóng bàn đóng ghế.
Ông thường dẫn
con trai lên Thủ Đức vào những ngày nghỉ, vạch cả hàm răng trâu cho
con xem để biết con trâu chỉ có một hàm răng. Chẳng ǵ làm cho nó
nhớ liền bằng cái cách nh́n thấy tận mắt như vậy. Về quan niệm lao
động để phát triển con người th́ ông Mác đă dạy - Việt Cộng càng coi
là lối sống căn bản. Vậy mà nếu anh sống theo cách đó, có thể là Mỹ
hóa.
“Có ba nền văn hóa
trong tôi” - lời ông Ẩn tự
nhận, nó bao trùm lên toàn bộ tính cách và cuộc đời hoạt động của
ông. Có lẽ phải hiểu lời ấy trên cách cảm nhận về thời cuộc, sự lựa
chọn con đường dấn thân. Như ông đă từng trả lời phỏng vấn Morley
khi được hỏi là làm thế nào để không bị lộ tung tích trong suốt bấy
nhiêu năm. Ông nói: “Cái đó
không khó bằng sự trung kiên”, sự trung kiên mới thực sự
là vấn đề. Một số kư giả Mỹ cho rằng ông học được ư niệm về sự trung
thành này từ các đại học Mỹ. Cũng có thể ông Ẩn đă được thấy và sống
cùng với những người bạn Mỹ trung thực. Do đó theo ông, ở một mức
nào đó, sự trung thành hoàn toàn là một ư niệm Mỹ.
Những lời như
thế, không rơ thực hư là ông Ẩn có nói như vậy và các kư giả Mỹ có
phần vội vă chăng khi họ có thể thừa nhận sự thấu hiểu triết lư thâm
sâu của văn hóa Việt Nam. Trong ngôi nhà giản dị nhưng không quá
nghèo khổ, cả gia đ́nh ông sống theo tinh thần “xă hội chủ nghĩa” -
chữ dùng của ông, khi tâm sự chút ít về chi tiêu trong nhà:
“Phải có ngân sách, phải biết rơ
kiếm từ đâu ra để chi. Các con nhỏ c̣n đi học, chi tiêu theo mức của
ngân sách cho phép. Phải tiết kiệm”. Ăn thứ ǵ đủ dinh
dưỡng, không cần xài đồ mắc tiền. Xưa người ta mặc đủ ấm, nay đẹp,
tùy con mắt, nhưng phải coi ngân sách mà tính. Đi làm cũng vậy. Phải
đọc sách, phải học. Con trai cũng phải biết chăm con…”
Đó là khái niệm “Việt Cộng” hay khái
niệm Mỹ, ai muốn nói ǵ th́ nói, điều chủ yếu không phải chỉ là lối
sống vụn vặt b́nh thường hàng ngày. Nếu muốn nói đến nguồn cội văn
hóa nào đă làm nên tính cách một người Việt Nam như ông Ẩn, th́ phải
bắt nguồn từ nhiều điều sâu xa hơn. Nó được chứng minh bằng sự lựa
chọn của cá nhân đối với vận mạng gieo neo của đất nước ḿnh. Nó c̣n
là sự khôn ngoan của con người trước mọi biến đổi của pháp tướng vô
thường.
(c̣n tiếp)
NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI
Quay lại phần đầu |
|