|
Chân
dung Phạm Xuân Ẩn - Kỳ 4: Những "đồng chủ nhân" trong vườn
|
 |
|
Phạm Xuân Ẩn
tại Mỹ (1957-1959) |
Chiếc cổng sắt
lúc nào cũng đóng kín, có một cái chuông cũng đặc biệt: không nhấn
nút cho reo, mà giật vào sợi dây dài. Một cái chuông nhỏ ở đâu đó
kêu leng keng lạ tai. Có lẽ v́ vậy mà thỉnh thoảng đám con nít đi
qua cổng “ngứa tay” lại giật chơi. Chúng tưởng rằng chỉ có bầy chó
sẽ xô ra sủa mà không biết rằng mỗi lần như thế, có rất nhiều “nhân
vật” kinh động. Không phải chỉ có chủ nhà...
Thông thường, ở
Sài G̣n thời mở cửa, bắt đầu cuộc làm ăn thị trường sôi động, nhà
mặt tiền trên phố thế này chẳng ai không nghĩ cách tận dụng, xoay ra
tiền bạc. Ngôi nhà của ông là một biệt thự hạng thường mà theo miêu
tả của Henry Kamm th́ “tướng của quân đội Việt Nam cũ không bao giờ
cư ngụ trong căn nhà khiêm nhường đến thế”. Nếu ông bán đi như người
ta thường làm, để lấy số tiền lớn mua một căn nhà nhỏ hơn, dôi ra
được ít tiền. Hoặc nếu ông xây cất thêm chi chít, cho thuê, mở cửa
hàng, hoặc làm quán ăn, café vườn… th́ đó cũng là phương án thông
thường của người Sài G̣n ngày nay. Nhưng ngôi nhà của ông giữ nguyên
một mảnh vườn nhỏ phía trước. Tôi cảm nhận nó giống như một lời thầm
nói lên tính cách của chủ nhân.
Một người từng
trải qua mọi sang, hèn, đă là một kư giả như một chính khách thời
thượng nhất, giờ đây “ông Ẩn c̣n yếu đuối hơn những ngày ông làm
phóng viên” - lại lời của Henry - “Một người yếu đuối cong xuống
nhưng không dễ dàng bị đánh gục giống như cái cây trong giông băo”.
Tôi cũng giật
vào cái chuông đặc biệt trước nhà. Ông ra mở cổng sau khi đă chải
đầu thật gọn gàng. Không rơ là kiểu tóc luôn được chải vậy hay là
vừa mới gội đầu. Có khi ông vẫn mặc áo ba lỗ, ra mở cổng ngay sợ
khách chờ lâu bên ngoài. Nếu mà nghe kể tên những thứ ở khoảnh vườn
nhỏ th́ rất dễ bị h́nh dung ra bài trí của biệt thự sang mà ta hay
gặp. Nhưng khu vườn lại rất b́nh thường với vài ba khóm cây cao, c̣n
lại là các loại hoa cây nhỏ và thấp xuống bên dưới khiến người ta
khó mà nói ngay rằng đó là mảnh vườn trồng rau hay là vườn êm ả của
các bụi cây cho bóng mát và sự yên tĩnh. Một con chó đá đen trùi
trũi ở gần bậc cửa, nơi có một chiếc bàn đá nhỏ có thể ngồi chơi
uống nước hóng mát các buổi chiều. Cái bàn này chỉ cách đường phố ầm
ĩ gầm gào xe cộ suốt ngày đêm bởi vài bụi cây nhỏ. Vậy mà vị trí của
nó đă đem lại ngay sự thanh b́nh rồi.
Mỗi tiếng chuông
giật không chỉ là bầy chó sủa, mà làm kinh động nhiều “nhân vật” nào
vậy? Khách không nhận ra ngay bởi họ đang bước vào khoảnh vườn vắng
trước cửa. Chỉ đến khi quan sát các công việc tỉ mỉ, rất nhẹ nhơm
của ông, mới thấy ở đây được khá nhiều vị khách lạ nḥm ngó lui tới.
Không chỉ ḿnh ta là vị khách bước vào.
Ông Ẩn bắt ổ
chim, đỏ lói mới nở và cho chúng ăn bằng trứng kiến. Ông lấy ra thứ
trứng kiến trắng như gạo, mềm, nhỏ li ti. Đó là trứng mới đẻ. “Kiến
vàng đít chua lắm. Nấu canh chua th́ bắt nguyên ổ, vớt kiến bỏ đi,
c̣n lại nước chua lắm”. Ông giải thích như chia sẻ với một người
cùng sở thích. Lời nói đó nhẹ nhàng “như thi nhân” bởi nó giống lời
th́ thào say sưa của đứa trẻ lúc đang chơi. Một thói chơi hồn nhiên như
trẻ. Không có ǵ to lớn hoặc cầu kỳ theo kiểu dân chơi nhà nghề sành
điệu đưa lên thành nghệ thuật. Thú chơi của ông khác lắm. Chiều theo
thiên nhiên, lặng lẽ và có vẻ ǵ đó hưởng thụ như một cậu bé con ṭ
ṃ, tinh quái.
Chẳng có nhiều
điều kiện để cầu kỳ, nhưng lại khá “oái ăm” bất ngờ. Ai mà có thể
nghĩ ra cái tác dụng nấu canh bằng cái đít chua của bầy kiến! Chắc
chắn vợ ông đi chợ chỉ vài ngàn đồng là có đủ rau, thơm, bạc hà, lá
giang cho nồi canh chua. Nhưng ông biết hết “tính năng” của các loài
vật. C̣n oái ăm hơn cả các món ăn: “Viết thơ t́nh bằng nước xanh
chua chua bóp ra từ kiến. Viết bằng bút học sinh. Ông bồ hơ lửa thấy
chữ. Cái này đi học được. Khổ vậy kia, cái ǵ cũng học!” Ông nói như
than thở, mà mắt lại ánh vui.
“Chú bé Ẩn” chơi
các con vật từ lúc 5 tuổi, chứ không phải kiểu chơi chim chơi thú
của những ông già về hưu nhàn rỗi đỡ buồn. Ông có con khướu đă sống
15 năm ở khu vườn nhỏ này. “Sáo, họa mi, năm con sóc c̣n hai. Nó ở
đâu đó đến! Tôi treo thức ăn lên vỏ trái dừa, ngày ngày nó đến ăn
rồi lại đi. Đất lành chim đậu là vậy. Sẻ rất nhiều. Súng hơi người
ta bắn riết nay không c̣n. Hai con chích cḥe lửa, tôi bắt được ở
đây”. “Chị ngồi chờ, để tôi chỉ cách bẫy sẻ này”.
Ông lấy ra hai
cục gạch, đặt trên cái bàn uống nước: “Lấy ba cái que lớn lớn tí
thôi. Bỏ lúa trong rải vài hột thôi”. Ông say sưa: “Cây trúc cương
trực. Sẻ là tiểu nhân láu lia láu lịa, không bao giờ được người ta
vẽ đậu trên cành trúc. Sẻ xấu, đa nghi. Gạch đè xuống là ra bắt liền,
không nó chết”. Ông hướng dẫn cứ như là tôi cũng hiểu hết, đang muốn
học chơi theo. H́nh như ông muốn tôi cũng nên biết chơi, v́ theo ông
“con nít giờ không biết, giảng không hiểu, không biết chơi”. Ông
dặn tôi: “Rải một ít ở bên ngoài kẻo nó ăn no không vào ăn phía
trong ḥn gạch nữa”. Ngày trước th́ ông bẫy chích cḥe. Bẫy đâu có
như bây giờ! Cây tre có cành buộc như cần câu, một đầu cắm xuống đất.
Có một cái ṿng bằng tre, có cái c̣ để vô cột con dế. Có tḥng lọng,
có chỉ rút. Chim vào mổ cào cào, dế. Cái cần c̣ bật lên siết lấy con
chim. Ông lại dặn: “Đừng treo cao quá siết cổ nó chết”. C̣n bắt chim
én, nó thường bay thấp, ăn ruồi rác. Nó bay sớt qua sớt lại không
đậu. Phải để cái ṿng có con ruồi ở giữa, chim chui đầu vô, bị giật.
Th́ đó, có cả
một “thế giới nhộn nhịp”, thăm ḍ nhau, ngó nghiêng, chim, kiến, sóc…
đủ cả. Nhiều khi chúng sống đâu đó, trên phố xá ta nào thấy được.
Chỉ ở nơi đâu, có những người như ông Ẩn, chờ đón, xem xét nó, lặng
lẽ để thức ăn ra hàng ngày cho nó đến ăn rồi lại đi. Chỉ có kẻ nào
hào phóng, không định sở hữu, bắt nhốt chúng, chúng mới tới “sống
cùng” trong chốc lát, rồi lại là “người của tự do”. Chúng là những
nhân vật đông đúc ở khu vườn nhỏ, khách vào nào có ai biết là chính
họ đang làm kinh động nhiều vị “đồng chủ nhân” cùng với người đàn
ông cao gầy có bộ óc và cuộc đời của một triết gia, suốt đời sống
cận kề với hiểm nguy, sống chết. Thấu hiểu cuộc đời trong cả nghĩa
đen của sự sống.
Những kư giả
phương Tây luôn ngạc nhiên không chỉ v́ ông Ẩn là một kư giả xuất
sắc, săn tin giỏi, mà c̣n v́ óc hài hước, sự thành thạo nhiều mặt
trong đời sống. Trong mảnh sân vườn nhỏ này, có lẽ tôi là nhân vật
xa lạ nhất xâm nhập vào đây, mong mỏi được quan sát t́m hiểu về một
con người đặc biệt. Đôi khi tôi có cảm giác h́nh như con chó đá nó
đang cười tôi phía sau lưng, mỗi khi ông Ẩn tiễn tôi ra cổng. Dường
như cả con kiến ở trong vườn này nó cũng biết rằng tôi không hiểu
ông Ẩn bằng nó.
Cũng công bằng
thôi, một khi mà với con chim huưt cô sầu ông nuôi nó 8 năm, đi chơi
Vũng Tàu cũng mang nó theo. Có cả lồng tắm riêng cho nó. Ông nh́n
cái lồng và bảo: “Lồng không sạch vầy ở Úc nó đuổi đó, không cho
nuôi chim đâu. C̣n nếu khi nào thấy cá lội tung tăng quá th́ đừng có
tưởng là vui tươi khỏe mạnh. Đó là lúc nước bẩn".
Những con chim
ấy biết sắp được ăn “bít tết” như Tây khi ông cầm sâu tươi và những
con rắn liu điu nhỏ xíu ra. Dường như con huưt cô sầu biết ông Ẩn đă
hiểu ra lai lịch v́ sao nó có cái tên buồn rầu đó: Có đứa con gái
nhỏ mồ côi được cô nuôi. Khi cô chết, nó ra mả khóc không ăn uống
đến chết biến thành con chim huưt cô sầu. Cái sự tích chuyện đời con
hoàng anh cũng được ông Ẩn kể: Cô nương kia chờ chồng chinh chiến.
Chờ đến kiệt sức th́ chim bay về báo tin cô ráng sống v́ chồng sắp
về. Cô ráng sống, được gặp chồng là nhờ chim hoàng anh.
Ông c̣n b́nh
luận vui: Nhà nào mà có con gái, lại trồng cây liễu rủ buồn, thêm
con chim huưt cô sầu nữa th́ con gái đến là tự tử thôi. Phải cấm
con gái trồng liễu và nuôi chim huưt cô. Thêm ông nội này kêu th́
chết con nhà người ta.
(c̣n tiếp)
NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI
Quay lại phần đầu |