|
Giới thiệu ca khúc Da vàng của Trịnh
Công Sơn
Quán Như_Phạm Văn Minh
T́nh yêu là thiên thu. Triết lư là vĩnh cữu và lịch sử chỉ là một
sát na trong ḍng sông vô thường . Nhưng nếu không có Ca Khúc Da
Vàng, TCS cũng chỉ là một trong những nhạc sĩ tài hoa khác trong
lịch sử âm nhạc Việt Nam. Ca Khúc Da Vàng giúp anh chiếm một địa vị
duy nhất trong trái tim của từng người Việt Nam, những người biết
thương xót trước đau thương và phẫn nộ với bất công.
Từ năm 1964 trở đi, khi chiến tranh bắt đầu leo thang, phản ứng của
thế hệ thanh niên thập niên 60 rất rơ ràng. Trong dịp kỹ niệm 10 năm
chia cắt đất nước, Tổng Hội sinh viên Sài G̣n tổ chức một đêm không
ngủ lớn chưa từng thấy. Sau các buổi thuyết tŕnh và hội thảo, sinh
viên lên tiếng yêu cầu chánh phủ hai miền Nam Bắc t́m một biện pháp
thương thuyết để giải quyết chiến tranh và chấp nhận việc chia cắt
đất nuớc tạm thời. Nói như TCS họ kêu gọi hai bên ‘chối từ chém
giết anh em’.
Vào ngày 20 tháng 8 năm 1964, tổng hội sinh viên Huế công khai chống
hiến chương Vũng Tàu của Tướng Khánh và cương quyết bảo vệ quyền
dân tộc tự quyết, tuyên bố là dù chọn con đường chiến tranh hay
ḥa b́nh, nhân dân hai miền sẽ phải đóng vai tṛ quyết định.
Chính chúng
ta phải có mọi quyền
Quyết chối từ
chém giết anh em
Chính chúng
ta phải nói Hoà B́nh
Đứng lên đ̣i
thống nhất anh em
Người đầu tiên phát động văn nghê phản chiến ở miền Nam là Nhất Hạnh.
Khi tháp tùng phái đoàn sinh viên Vạn Hạnh đi cứu trợ các vùng
thượng nguồn sông Thu Bồn vào năm Giáp Th́n, Nhất Hạnh chứng kiến
tận mắt t́nh cảnh khốn khổ của người nông dân sống trong gọng kềm
quốc cộng. Khi được hỏi là họ ủng hộ ‘phe nào’, người nông dân trả
lời:
Tôi không
theo quốc gia
Tôi không
theo giải phóng
Tôi chỉ theo
người cho tôi sự sống
Bài thơ Ruột Đau Chín Khúc của Nhất Hạnh đăng trên tờ Thiện
Mỹ ngày 9 tháng 2 năm 1965, đă mở màn cho những phong trào văn nghệ
hoà b́nh.
H́nh ảnh và ngôn ngữ của văn nghệ phản chiến lúc đó, như trong 10
bài tâm ca của Phạm Duy, c̣n nhẹ nhàng như những ‘Giọt mưa
trên lá, nước mắt mẹ già, lả chả đầm đ́a trên xác con lạnh giá’.
Bài “kẻ thù ta đâu có phải là người; giết người đi th́ ta ở với
ai’ cảm hứng từ bức thư ngỏ của Nhất Hạnh gởi Mục Sư Martin
Luther King có tánh cách triết lư. Ḥa b́nh chỉ là những ước mơ ‘Tôi
sẽ hát to hơn súng nổ bên bờ ruộng già’ hay ‘đến
bao giờ
tôi nói được những điều tôi ước mơ;
Cũng thế, h́nh ảnh trong các bài hát phản chiến đầu tiên của TCS
như bài Đại Bác Ru Đêm vẫn c̣n hiền lành, pha một chút lăng
mạn.
Đại
bác đêm đêm dội vào thành phố
Người phu quét đường dùng chổi đứng nghe
Nhưng đến khi hỏa
châu không c̣n cháy sáng trên núi mà càng ngày càng đến gần ṿng đai
tỉnh lỵ, khi tên của các trận đánh lớn càng lúc càng dồn dập: Chu
Prong, Pleime, Đức Cơ, Đồng Xoài, Binh Giă, chiến khu D. Rồi tết Mậu
Thân, Mùa Hè Đỏ Lửa ở Quảng Trị, Xuân Lộc, h́nh ảnh trong Ca Khúc Da
Vàng càng thêm hăi hùng. Nạn nhân chiến tranh không c̣n là những
người lính bất hạnh bắt buộc phải cầm vũ khí ’nếu không giết đối
phương th́ cũng bị đối phương giết’ mà có xác người c̣n thơ ngây,
có xác người già yếu, nằm chết vội vàng dọc theo
biên giới, dưới mái hiên chùa, trong giáo đường thành
phố.
Nhưng có một biến cố
làm TCS xúc động nhất là Nhất Chi Mai tự thiêu hiến thân làm đuốc
cho Ḥa B́nh trong ngày Phật Đản năm 1967. Hai câu thơ Sống mà
không được nói. Chết mới được ra lời đă làm TCS cảm hứng bài
Hăy Sống Dùm Tôi. Nhất Chi Mai nhắc đến vụ tự thiêu của một
giáo sĩ Quaker người Mỹ, Bill Morrison, vào ngày 2 tháng 11 năm
1965 trước cổng Ngũ Giác Đài. Morrison tẩm xăng đầy người, một tay
bật diêm quẹt, tay bên kia dơ cao đứa con hai tuổi. Đến nay vẫn
chưa ai biết là Morrison cố ư quăng đứa con ra ngoài biển lửa
hay đó chỉ là một phản xạ khi lửa bắt đầu thiêu đốt thân ông.
Ngôn ngữ bài Hăy Sống Dùm Tôi vừa đau đớn, vừa quyết
liệt và phẫn nộ.
Hăy
sống dùm tôi, hăy nói dùm tôi, hăy thở dùm tôi
Thịt da này dành cho thù hận, cho ngông cuồng,
cho tham vọng của một lũ điên.
Cho tham vọng của một
lũ điên là lời
kết án c̣n nặng hơn lời kết án trong Gia Tài của Mẹ, gọi
những người chủ chiến của cả hai miền là ’một
bọn lai căng, một lũ bội t́nh’.
Tuy nhiên, giống như triết lư bất bạo động của Gandhi, TCS không hề
kết án hay nặng lời với ai. Chống đối hành động bạo tàn mà không kết
án người hành động bạo tàn. Cho phép tôi dùng từ ngữ tiếng Anh cho
rơ nghĩa hơn, chống đối the ’DEED’ chớ không oán hận the ’DOER’.
Tôi nghĩ không phải là anh không có những giây phút tuyệt vọng
’Tôi ơi đừng tuyệt vọng’, khi chứng kiến chiến tranh càng ngày
càng khốc liệt, nhưng luôn hy vọng những chủng tử từ bi nơi con
người. Anh luôn mong muốn ’lũ con cùng cha, quên hận thù’,
mong tất cả có một đời sống ’không thù hận’.
Cũng như Nhất Hạnh,
anh bị cả hai bên đối xử tồi tệ. TCS kể là khi Khánh Ly đem bài Gia
Tài Của Mẹ vào các t́nh khúc khác để hát tại một pḥng trà ở Đà Lạt,
Sơn kể: ’các toi biết không, sau bài hát có một người đi lên
sân khấu, chỉ mặt moi và nói: Anh ở ngoài Bắc mới nhảy dù vào
Nam phải không? Sau đó moi mới biết ông ta là Nguyễn Phú Đức, quan
sát viên của VNCH tại LHQ’. Chị Trần Tuyết Hoa, một người bạn trong
phong trào sinh viên Phật Tử tranh đấu, kể lại trong hồi kư ’40
năm âm nhạc TCS’ cho biết là sau khi Ca Khúc Da Vàng được tŕnh
diễn tại trung tâm Quảng Đức , một sinh viên thân MTGP đánh tiếng là
các anh trong mật khu ’không hài ḷng” với hai chữ ’nội chiến’
trong Gia Tài Của Mẹ. Các anh trong mật khu không hài ḷng th́ mặc
các anh, bài Gia Tài của Mẹ đă trở thành Đồng Dao lan tràn hang cùng
ngơ hẻm trên khắp thành phố miền Nam.
Vào khoảng đầu năm
1967, anh Trần Viết Ngạc đến rủ tôi đi gặp TCS. Ngạc có liên hệ với
nhóm Việt Nam Việt Nam của Lê Văn Hảo ở đại học Huế , và nhóm dân
tộc tự quyết với thi sĩ Thái Ngọc San. Anh vừa là đồng nghiệp vừa có
chút liên hệ gia đ́nh. Tôi không tin vào vận may của ḿnh, tự nhiên
có cơ hôi được gặp nhạc sĩ mà những bản t́nh ca như Nh́n Những
Mùa Thu Đi, Diễm Xưa, Mưa Hồng, Như Cánh Vạc Bay đă từng làm say
mê cả thế hệ thanh niên mới lớn như chúng tôi. Chúng tôi hẹn đi ăn
trưa ở một quán ăn b́nh dân trước trường Đại Học Văn Khoa cũ đường
Nguyễn Trung Trực. Trong quán ăn b́nh dân, khách ăn th́ cứ ăn, dưới
sàn chuột chạy th́ cứ chạy. Các sinh viên công chức nghèo đều biết
quán này Sau đó chúng tôi về nhà anh Trần Đại Lộc, người phụ trách
chương tŕnh Sinh Hoạt Nhạc Trẻ của Phong Trào CPS để ngủ trưa.
Chúng tôi nằm trên bộ ván ngựa nghe băng Ca Khúc Da Vàng mà TCS thâu
trong băng nhựa lớn .Khi nghe đến câu ’ Khi đất nước tôi không
c̣n chiến tranh, mẹ già lên núi t́m xương con ḿnh’ tôi c̣n nhớ
cảm giác lạnh lẽo như đang ở trong nhà mồ. Lúc đó tôi ở trong một
pḥng nhỏ ở Trung Tâm Quảng Đức. TCS nhờ tôi xin thầy Thiện Minh tổ
chức đêm nhạc tại trụ sở Tổng Vụ Thanh Niên. Chuyện đó không có ǵ
khó khăn v́ tôi bắt đầu thân thiết với anh Hoàng Văn Giàu, một đệ tử
thân tín của Thầy. Sau đó mọi chuyện xảy ra trở thành lịch sử. Ca
Khúc Da Vàng được hát khắp ngang cùng ngơ hẽm, đă trở thành Đồng
Dao, trở thành nhịp đập của cả thế hệ trẻ ở miền Nam. Tôi là một
trong số ít người may mắn được nghe Ca Khúc Da Vàng đầu tiên và có
được ấn bản đầu tiên in tay và chữ kư của TCS.
Ước vọng của TCS là
tất cả có được ’một đời sống không mang thù hận’. Như trong
kinh Bát Đại Nhân Giác, rất khó mà không ghét kẻ thù của ḿnh. Nhưng
nhớ đến lá thư của Nhất Hạnh gởi cho Martin Luther King: kẻ thù
ta đâu có phải là người!
Để kết
thúc, tôi xin dẫn hai câu thơ của Tô Thùy Yên:
Này
chén rượu hồng xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc bể dâu này./
Bài
giới thiệu Ca Khúc Da Vàng do Thái Ḥa tŕnh diễn tại Sydney vào đêm
30/9/2006 |