|
Bản sắc và toàn cầu hóa
Cao Huy Thuần
TÓM TẮT ĐỀ
TÀI THAM LUẬN
Tác giả bài
này không tách rời những quan tâm của dân tộc với những quan tâm của
Phật giáo trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay. Vấn đề ǵ đặt ra cho
dân tộc cũng đặt ra cho Phật giáo và ngược lại. Hậu quả ǵ có liên
quan đến Phật giáo cũng liên quan đến dân tộc và ngược lại. Dựa vào
nhau mà mạnh lên th́ không sợ bất cứ thử thách nào.
ÁO DÀI, NƯỚC
MẮM, HOA
SEN
Cao Huy
Thuần
Cái ǵ là "mới"
trong thời đại này? Và cái ǵ là đặc điểm nổi bật
của
thời đại gọi là "mới"? Chắc ai cũng trả lời: toàn cầu hóa. Thật ra,
toàn cầu hóa không phải là hiện tượng mới trong lịch sử. Đối với tôn
giáo, chuyện này lại càng cũ rích. Đâu phải ngày hôm nay các nhà
truyền giáo mới vượt biên. Chỉ khác một điều là vượt biên với chân
cứng đá mềm như ngày xưa hay với xe tăng tàu ḅ như gần đây và như
ngày nay. Đối với toàn cầu hóa nói chung, cũng có một điều khác là
bây giờ hiện tượng đó rộng lớn, bao trùm moi lănh thổ và mọi lĩnh
vực, từ kinh tế đến văn hóa, từ vật chất đến tín ngưỡng. Như vậy th́
cũng đáng gọi là mới và cũng đáng được bàn trong hội thảo này.
Hạn chế vấn
đề vào lĩnh vực văn hóa, và thu hẹp văn hóa vào một khía cạnh thôi,
là bản sắc, tôi nêu ra đây hai thử thách, chẳng phải riêng ǵ
đối với Phật giáo mà đối với cả Nhà nước, hơn thế nữa, đối với con
người, đối với chính tự do của con người : đó là tôn giáo cực
đoan và văn hóa thống trị. Từ trong bản chất, Phật giáo
khác như nước với lửa cả hai xu hướng đó: khoan dung th́ tối kỵ với
cực đoan; giải thoát th́ tối kỵ với thống trị. Nhưng tối kỵ là thế
nào? Là thế nào đối với cả Phật giáo lẫn Nhà nước? Là không chấp
nhận được, tất nhiên. Nhưng không chấp nhận bằng cách nào? Xây thành
Cổ Loa?
Tôn giáo
cực đoan
Không hiểu
từ đâu, người ta gán cho văn hào André Malraux câu nói tiên tri chưa
chắc là của ông: "Thế kỷ 21 hoặc là không hiện hữu hoặc là thế kỷ
tôn giáo". Áp dụng vào Âu châu, tiên tri đó trật lất. Tôn giáo
truyền thống ở đấy úa tàn như hoa cuối mùa, cả Cơ Đốc lẫn Tin Lành.
Nhà thờ càng ngày càng trống vắng, người đi tu hiếm, ảnh hưởng nhạt
phai trong xă hội. Làn sóng thế tục hóa, bắt đầu từ Bắc Âu, tràn
xuống Tây Âu, Trung Âu, không tha cả nước Ư của La Mă ở phương Nam,
cũng không chừa cả Tây Ban Nha từ sau khi Franco chết. Nước lũ bây
giờ tràn sang các nước vừa gia nhập Cộng đồng Âu châu, kể cà Ba Lan
gương mẫu. Đắp đê, đạo Thiên chúa Chính thống ở Đông Âu ngăn cũng
không nổi, bằng chứng là Hy Lạp dần dần ngấm nước. Không cần tiên
tri, vài năm nữa, khi Rumani và Bungari gia nhập Cộng đồng Âu châu,
hai nước ấy cũng sẽ không khỏi bơi lội trong nước lụt. Nếu muốn t́m
một tôn giáo sinh động ở Âu châu, chuyện nghe kỳ quặc mà chẳng có ǵ
khó hiểu, phải đi xa hơn chút nữa, vào trong sào huyệt xưa kia của
xă hội chủ nghĩa, vào tận nước Nga, nơi đó, bây giờ mùa xuân của
Thiên chúa Chính thống đang dậy th́ lứa mai nhị độ. Nhưng đó là
chuyện khác rồi ... Vậy th́, ai dám nói thế kỷ 21 là thế kỷ tôn
giáo?
Ấy vậy mà
không chừng Malraux khỏi cải chính: Âu châu là biệt lệ; tất cả mọi
nơi khác tôn giáo bành trướng lên, hoặc từ bên trong hoặc từ bên
ngoài. Đúng hay sai, dư luận cứ nói dai dẳng: người lật nhào xă hội
chủ nghĩa là giáo hoàng John-Paul II. Ngài mất rồi nhưng lời hô hào
của ngài đang thực hiện: bung truyền giáo vào châu Á, châu Phi. Ngài
có bạn đồng hành về phía Tin Lành "mũi nhọn" là tổng thống Bush. Tín
đồ "sinh lần thứ hai" của mũi nhọn "évangélique" như ông đă tăng đến
mức 300 triệu trên Á, Phi và Mỹ la tinh; riêng nước Mỹ đă cung cấp
140.000 thừa sai xung kích trên khắp thế giới. Thủ tướng phe tả,
lănh tụ một quốc gia theo Anh giáo, ông Tony Blair bô bô tuyên bố
ḿnh là người có tôn giáo và đó là tôn giáo của vợ: Cơ Đốc. Một tỷ
người trên thế giới tự nhận ḿnh là tín đồ Hồi giáo và tôn giáo này
đang lớn như thổi, phát triển trong ḷng chính các nước Âu châu. Hồi
giáo là tôn giáo lớn thứ hai tại Pháp.
Nhà văn
Nguyễn Khải nói : "Thượng đế th́ cười". Chắc là cười mếu v́, bây giờ
chẳng khác ǵ xưa, các tôn giáo hữu thần cứ đem ngài ra để làm chiến
tranh. Thế kỷ 21 nh́n máu chảy ở Afghanistan, ở Irak, ở Ấn Độ, ở
Pakistan, ở Philippine, ở Phi châu, ở tận các ngoại ô Âu châu. Trên
đống tro chưa kịp tàn của chiến tranh lạnh, xung khắc tôn giáo, trộn
lẫn với hiềm khích dân tộc, chủng tộc, thổi bùng lên lửa thù hận,
thiêu đốt nước Nam Tư cũ : giữa Chính thống Serbe, Cơ đốc Croate,
Hồi giáo Bosnie. Chính trị nằm sau tôn giáo hay tôn giáo nằm trong
chính trị, nước Hy Lạp chính thống và nước Thổ Nhĩ Kỳ hồi giáo vẫn
chưa chịu thỏa hiệp với nhau trên vận mệnh của đảo Chypre. Sắp tới
đây, nếu vạn nhất chiến tranh nổ ra giữa nước Mỹ và nước Iran về
chuyện nguyên tử, đố ai dám nói tách bạch đây là chiến tranh chính
trị hay chiến tranh với Hồi giáo. Chưa nổ phát súng nào, chỉ vài nét
vẽ biếm họa thôi về chân dung Giáo chủ Mahômét đă làm dấy động cả
thế giới Hồi giáo. Đừng nói chỉ thế giới ấy là bất khoan dung; b́nh
luận gia Mỹ Ann Coulter tuyên bố ǵ sau vụ khủng bố 11-9 ? "Chúng ta
phải xâm chiếm nước chúng nó, giết bọn lănh đạo ấy và cải đạo chúng
nó thành thiên chúa hết thảy". Không mấy ai nghĩ rằng luận thuyết
của Huntington về xung đột tôn giáo trong chiến trận tương lai là
khoa học, nhưng cứ đem Thượng đế ra cười hoài như vậy giữa cực đoan
này với cực đoan kia th́ bỗng dưng thuyết của ông giáo sư nọ cứ sáng
giá trong thế kỷ.
Cực đoan:
đó là hiểm nguy. Nhưng đó lại chính là xu hướng thắng thế trong phát
triển tôn giáo hiện nay. Khắp nơi, khuynh hướng ôn ḥa mất dần ảnh
hưởng. Ngay tại Mỹ, cánh Tin Lành truyền thống thu ḿnh nh́n các nhà
thờ Tin Lành évangélique rần rộ bành trướng. Trào lưu thế tục hoá
càng xâm nhập vào xă hội bên ngoài, vào phong hóa, đạo đức, các nhà
thờ ở bên trong càng ngă theo phe hữu. Rất có thể, thế tục hóa làm
lung lay niềm tin nơi con người; khi niềm tin không vững, tín đồ bám
theo cánh nào ăn nói quả quyết nhất, bốp chác nhất, giản lược nhất,
hứa hẹn dễ dăi nhất. Cực đoan tha hồ thao túng trên thị trường khủng
hoảng niềm tin đó. Từ Mỹ, Tin Lành évangélique gởi thừa sai đi khắp
nơi. Và họ thành công chớp nhoáng, thần tốc. Họ đă bám trụ được ở
các bản xứ, nhất là ở châu Mỹ la tinh; bản xứ không cần phải lệ
thuộc nữa vào hỗ trợ của chính quốc, lại c̣n gởi ngược thừa sai vào
chính quốc để truyền cực đoan vào các cộng đồng dân nhập cư ở Mỹ.
Hay thế! Nhưng cũng phải cố hay như thế ở Trung Quốc, thị trường béo
bở của thừa sai mọi phía. Ở đấy, cũng như ở Nga, niềm tin tôn giáo
đang dậy th́ ...
Cực đoan,
càng rơ hơn nữa, cũng đang thắng thế trong các xă hội Hồi giáo. Về
tín ngưỡng, cũng như về cách sống, phản ứng chống lại tân tiến được
biểu lộ toàn diện: qua cách nh́n mối tương quan giữa tôn giáo và Nhà
nước, qua quan niệm đối với phụ nữ, quan hệ gia đ́nh, cách ăn mặc,
đời sống thường ngày, luân lư đạo đức. Đâu phải chỉ tầng lớp thấp
hèn, lạc hậu là bị ảnh hưởng của cực đoan; các thành phần thượng lưu
nhất ở thành phố, tân học, xuất thân từ các đại học Mỹ, hưởng ứng
không thua. Giàu có, khá giả, công tư chức, các bá các cô cũng khăn
trùm che nửa mặt hoa. Ước mơ của các nhà cầm quyền Âu châu là các
cộng đồng di dân Hồi giáo ở đấy đừng nhiễm vi khuẩn cực đoan, quá
nguy hiểm cho an ninh, lại quá ngon xơi cho luận điệu bài ngoại của
phe cực hữu: ước mơ coi bộ không dễ thực hiện khả quan.
Cái ǵ đă
thúc đẩy con sóng quá khích trong thế giới Hồi giáo? Thất bại. Thất
bại liên tiếp từ sau chiến tranh thế giới thứ hai của tất cả các
kinh nghiệm chính trị. Của chủ trương Tây phương hóa triệt để. Của
phát triển. Của chủ nghĩa dân tộc Hồi giáo. Của chủ nghĩa liên Hồi
giáo. Của chủ nghĩa xă hội. C̣n lại ǵ để tin tưởng? Để sống tiếp?
Chỉ c̣n tôn giáo truyền thống mà thôi. Hiện tại th́ đầy bất măn,
tương lai tối tăm, c̣n lại ǵ ngoài mơ ước mông lung gởi vào một quá
khứ vàng son trong đó tôn giáo là nhựa sống tiếp nối? Bởi vậy, điểm
khác biệt căn bản giữa Hồi giáo cực đoan và Tin Lành cực đoan là ở
chỗ ấy: Hồi giáo quá khích phát triển trước tiên trong cac quốc gia
đă là Hồi giáo hoặc trong các cộng đồng di dân (như ở Âu châu) ; Tin
Lành cực đoan phát triển trên khắp thế giới, trong những nước mà
trước đây hệ tôn giáo này chưa có hoặc chỉ mới lưa thưa ở vành ngoài
xă hội.
Trách người
bao giờ cũng dễ hơn trách ḿnh. Cho nên người Hồi giáo cực đoan đổ
trách nhiệm lên đầu Tây phương. Tất nhiên là không sai. Quá khứ
thuộc địa đă nặng, quá khứ đế quốc cũng chẳng nhẹ hơn. Cả hai đều
bao hàm ư nghĩa khinh miệt.
Ta là kẻ
trên, chúng nó là kẻ dưới. Kẻ trên đă đem bao nhiêu văn minh đến cho
kẻ dưới : đô thị hóa, kinh tế chủ nghĩa, luận lư tự do, cá nhân chủ
nghĩa, hiệu quả kỹ thuật, vật chất chủ nghĩa, tiêu thụ chủ nghĩa ...
Vô t́nh hay cố ư, cách sống, cách suy nghĩ, cách hiện đại hóa đó phá
vỡ quan hệ xă hội tại các bản xứ, nhất là tại các nước Hồi giáo
trong đó tôn giáo không phải chỉ là tín ngưỡng mà c̣n là cách sống.
Vô t́nh hay cố ư, Tây phương đă để mặc cho mô h́nh hiện đại hóa của
ḿnh về kinh tế và về phong tục làm tan vữa gia đ́nh truyền thống,
thay đồi quan hệ nam nữ, xáo trộn tương quan thế hệ. Nếu hiện đại
hóa theo kiểu Tây phương đó mà thành công th́ kẻ dưới của ngày hôm
qua cũng có thể ngẩng đầu lên mà xóa mặc cảm nhược tiểu. Trên thế
giới, có những nước đă ngẩng đầu b́nh đẳng như vậy tuy không hẳn
theo mô h́nh Tây phương. Nhưng dầu hỏa, Palestine, Israel, chiến
tranh lạnh, chính quyền bất lực, thối nát, chia rẻ nội bộ, trấn áp
đế quốc, tất cả nhục nhằn chồng chất qua bao nhiêu thất bại đó chỉ
đưa đến phản ứng bài ngoại mà thôi, bài Tây phương, tuy vẫn tiếp tục
mơ ước thầm thiên đường kỹ thuật, đô la, và đại học Mỹ quốc.
Kẻ dưới hôm
qua càng thất bại, kẻ trên lại càng ngông nghênh rêu rao những giá
trị của ḿnh, nhất là sau khi mô h́nh Liên Xô tan ră. Dân chủ trừu
tượng, kinh tế thị trường phóng túng được kẻ mạnh ngày hôm nay xem
như thuốc thần, ép mọi người, có khi bằng cả chiến tranh, phải uống
thuốc ấy, bất chấp có hạp tỳ vị hay không. Những giá trị ấy được kẻ
chiến thắng tuyên dương là phổ quát, kẻ thất bại t́m đâu ra
những giá trị phổ quát để chống lại nếu không phải nơi tôn
giáo? Hai chủ nghĩa phổ quát (universalisme) đối đầu nhau, một ở thế
công, một ở thế thủ. Kẻ ở thế công nương theo sức mạnh của sóng thần
toàn cầu hóa kinh tế kỹ thuật để thống trị; kẻ ở thế yếu biết toàn
cầu hóa cái ǵ đây bây giờ ngoài chất nổ nịt quanh bụng? Các lư
thuyết gia tân bảo thủ tha hồ lập thuyết mới: sau chiến tranh thế
giới chống phát xít, chiến tranh thế giới chống cộng sản, bây giờ là
chiến tranh thế giới chống khủng bố. Toàn cầu hóa này chống toàn cầu
hóa kia. Lấy khí giới ǵ mà chống? Toàn cầu hóa "dân chủ". Nghĩa là
đĩ hóa ước mơ dân chủ của con người.
Văn hóa
thống trị
Thế là toàn
cầu hóa về kinh tế kỹ thuật lôi cuốn theo toàn cầu hóa về văn hóa.
Đây là thử thách thứ hai.
Văn hóa là
ǵ? Là cái ǵ định nghĩa con người. Cái ǵ mang lại ư nghĩa cho con
người, cho đời sống. Khác với con vật, con người luôn luôn t́m ư
nghĩa, hoặc tự nhiên, hoặc có ư thức. Và bởi v́ con người không sống
riêng rẻ mà tụ họp thành xă hội, mỗi xă hội cung cấp cho con người
những ư nghĩa, những lẽ sống, nghĩa là một nền văn hóa. Nếu tôi chấp
nhận văn hóa của tôi, nếu tôi thấy hạnh phúc trong đó, xin anh ở
ngoài đừng bắt tôi theo văn hóa của anh mà anh cho là cao hơn. Không
nền văn hóa nào cao hơn nền văn hóa nào, không văn minh nào là
thượng đẳng. Vấn đề là hạnh phúc của tôi và khả năng của một nền văn
hóa có mang lại được hạnh phúc cho tôi không. Khốn thay, bởi v́ kinh
tế và kỹ thuật là hai yếu tố quan trọng của văn hóa, và bởi v́ con
người rất dễ định nghĩa hạnh phúc của ḿnh qua những lợi ích mà kinh
tế và kỹ thuật mang lại, nền văn hóa nào có tŕnh độ văn hóa kỹ
thuật cao rất dễ tự cho ḿnh và rất dễ được xem là văn hóa thượng
đẳng. Trên thực tế, đó là văn hóa thống trị. Hăy nói một khí giới
thôi, hiện đại nhất, trong nền văn hóa thống trị đó: cái máy vi
tính.
Cái máy -
nghĩa là kỹ thuật - vốn trung lập: nó hay hay dở là tùy ḿnh sử dụng
nó để làm ǵ. Tự nó, cái máy vi tính đem lại muôn vàn lợi ích cho
tôi. Để viết bài này, tôi đă gơ lên đầu nó và nó đă đưa bao nhiêu
kiến thức vào đầu tôi. Thế th́ ông chính trị cũng gơ lên đầu nó để
thống trị cái đầu thiên hạ. Đây, tuyên bố của một viên chức cao cấp
Mỹ: "Đối với nước Mỹ, mục đích cơ bản của ngoại giao trong thời đại
thông tin là phải thắng trong trận chiến về luồng thông tin thế giới
bằng cách chế ngự các làn sóng, y hệt như nước Anh trước đây đă chế
ngự biển cả". Ông nói thêm: "Quyền lợi kinh tế và chính trị của nước
Mỹ là phải làm thế nào để buộc thế giới phải dùng tiếng Anh nếu thế
giới chấp nhận một ngôn ngữ chung; làm thế nào, nếu thê giới đi đến
chỗ đồng ư trên những nguyên tắc chung về truyền thông, về an ninh,
và chất lượng, th́ nguyên tắc chung đó phải là nguyên tắc của Mỹ;
làm thế nào, nếu mỗi vùng trên thế giới được nối kết với nhau bằng
truyền h́nh, truyền thanh và âm nhạc, các chương tŕnh phải là
chương tŕnh của Mỹ; và làm thế nào, nếu mọi người vạch ra những giá
trị chung, th́ đó phải là những giá trị mà nước Mỹ xem như của
ḿnh". Chuyện đó là dĩ nhiên. Tại sao? Tại v́ "người Mỹ không thể
chối căi sự kiện rằng, trong tất cả mọi quốc gia từ khi có lịch sử
loài người, lịch sử nước Mỹ là công bằng nhất, khoan dung nhất, sẵn
sàng đặt lại vấn đề nhất, và thường xuyên tự ḿnh hoàn hảo, nước Mỹ
là mô h́nh tốt đẹp nhất cho tương lai".
Cái máy vi
tính chứa đựng tất cả khả năng, tất cả yếu tố: nó là một tổng thể
văn hóa, nó là văn hóa. Nó cung cấp toàn bộ ư nghĩa. Không phải chỉ
cho một người: cho cả nhân loại. Trong giấc mơ thống trị của ông
chính trị, sẽ không có ai thiếu vắng được nó; nó sẽ trở thành cần
thiết như không khí, như nước uống. Nếu mỗi nhà đều có cái bàn thờ,
th́ mỗi nhà cũng phải có nó. Thế giới c̣n tranh chấp là v́ nó chưa
vào được mỗi nhà. Chuyện đó là chưa b́nh thường. Trên 6,5 tỷ người
hiện nay trên hoàn cầu, đă có 4,5 tỷ máy thu thanh, 3,5 tỷ máy
truyền h́nh, 1,4 tỷ điện thoại di động, vậy mà chỉ mới có dưới 1 tỷ
máy vi tính. Chưa b́nh thường! Ngày nào máy vi tính lọt vào tổ ấm
của mọi gia đ́nh, ngày ấy thế giới mới chỉ c̣n là một thôn xóm, ai
cũng biết ai, ai cũng quen ai, ai cũng cùng một thứ văn hóa, đâu c̣n
nữa chiến tranh! Đừng lo như Max Weber ngày xưa: "Tàu điện chạy,
nguyên nhân này sẽ đưa đến hậu quả ấy, nhưng chúng ta không c̣n biết
nữa bổn phận chúng ta là thế nào, tại sao chúng ta sống, tại sao
chúng ta chết". Cái máy vi tính sẽ dạy chúng ta sống như thế nào,
chết như thế nào, trong thôn xóm với nhau cả, sống chết giống nhau,
thờ phụng như nhau. Ông thần nào là số một hiện nay?
Đâu cần
hỏi: Bill Gates!
Tất nhiên
sự thật sẽ không là vậy trăm phần trăm; nhưng đâu cần phải chiếm
trọn trăm phần trăm cái đầu mới thống trị được nó?
Lai giống
là được rồi! Ông chính trị nói: tôi không nghiền nát văn hóa của quư
quốc đâu; cái máy vi tính là nguồn suối của đa văn hóa. Có văn hóa
nào là nguyên chất như vàng ṛng đâu, văn hóa bao giờ cũng tiếp xúc
nhau, thâm nhập nhau, lai nhau để sản sinh ra chất mới Đúng quá.
Nhưng trong việc lai giống, có giống yếu giống mạnh, sản phẩm đẻ ra
khó giữ được bản sắc của giống yếu. Ông chính trị biết vậy nên mục
đích ngắn hạn mà ông nhắm không phải là hủy diệt các văn hóa khác:
các văn hóa ấy cứ vẽ bản sắc của ḿnh lên trên một cái phông, miễn
rằng cái phông ấy là văn hóa của ông, nghĩa là văn hóa toàn cầu. Và
như vậy, mỗi dân tộc trên thê giới sẽ có thêm một bản sắc thứ hai,
bản sắc chung, yếu tố đưa đến ḥa b́nh nhân loại.
Cùng là Tây
phương cả, nhưng nước Pháp sợ nhất là cái bản sắc thứ hai đó. Đàng
sau cái thứ hai ấy, người Pháp nói, là cả một bộ máy khổng lồ
nhằm làm loăng đi hết những cái thứ nhất. Nhượng Mỹ ở đâu
cũng được, nhưng Pháp nhất quyết không lùi trước tấn công văn hóa
của Mỹ nhắm vào tự do văn hóa như tự do mậu dịch. Văn hóa không phải
là hàng hóa; sản phẩm văn hóa không được đồng hóa với mọi sản phẩm:
đó là khẩu hiệu có tính nguyên tắc của Pháp. Hàng hóa th́ mặc cả,
thuận mua vừa bán. Văn hóa - nghĩa là niềm tin, giá trị, ngôn ngữ,
gia tài, cách sống – th́ bất khả thương lượng. Văn hóa th́ phải tôn
trọng lẫn nhau; không thể có toàn cầu hóa nếu bản sắc văn hóa của
các dân tộc không được tôn trọng. Tiếp xúc nhau là cần, nhưng trao
đổi là để giữ bản sắc của nhau, không phải để ḥa tan cái khác ḿnh
trong dung dịch của ḿnh. Từ 1980 đến 2000, toàn cầu hóa tự do là
phương châm ư thức hệ của chủ nghĩa tư bản thắng thế ; Porto Alegre
đánh dấu phản ứng của các dân tộc, phản ứng của chính trị tự vệ
chống lại chính trị tấn công. Cái máy là thông tin, được rồi, nhưng
thông tin ǵ, cho ai, để phục vụ quan niệm ǵ về văn hóa, chia sẻ
với nhau thế nào về thông tin, làm thế nào để tôn trọng văn hóa, văn
minh, tôn giáo của các dân tộc khác: đó là những câu hỏi mà Porto
Alegre đặt ra. Làm chủ cái máy là nhiệm vụ của mỗi dân tộc, nhưng
khổ thay, kẻ đánh qua người đánh lại, lửa choảng nhau với tường lửa,
âm binh đánh với âm binh, kẻ lổ đầu chảy máu không có ai khác hơn là
chính tự do.
Riêng đối
với chúng ta, đối với Phật giáo, có nên đề pḥng cái máy không? Nên!
Có nên cảnh giác không? Nên quá! Nhưng có nên sợ cái máy, sợ toàn
cầu hóa không? Không! Vậy th́ sợ cái ǵ? Thứ nhất là sợ cái ngu,
tưởng ma là ḿnh. Thứ hai là sợ co cụm, tưởng thu ḿnh trong vỏ ốc
là thoát. Làm thế nào tránh cả hai? Đâu có mưu thần chước quỷ ǵ! Từ
ngàn xưa đến nay, phép thiêng chỉ có một thôi.
Bản sắc
Biết ḿnh,
biết ḿnh thật rơ, đừng tơ lơ mơ. Hễ tơ lơ mơ là lai ngay. Biết rơ
ḿnh rồi th́ chơi với ai, ai đến chơi, cũng chẳng sợ. Biết ḿnh,
biết rơ giá trị vô song của ḿnh, th́ không co cụm. Một nền văn hóa
co cụm là một nền văn hóa yếu, biết trước ḿnh sẽ thua. Y như một cơ
thể yếu, không dám ra sương gió. Đóng cửa, trùm chăn, th́ yếu vẫn
yếu. Không có cách nào khác hơn là tự tu bổ sức khỏe, tự phát huy
nội lực. Một dân tộc cũng vậy, thấy đâu là nội lực, đâu là ngoại
nhập, đứng vững trên cái thứ nhất th́ không sợ cái thứ hai. Th́ làm
chủ cái máy, làm chủ thông tin, làm chủ toàn cầu hóa. Hăy tin và dựa
vào cái ǵ mà dân chúng thấy là của ḿnh, thấy thân thiết, thấy quen
biết, thấy đó là căn nhà văn hóa của ḿnh, nơi mà ḿnh sống thoải
mái nhất. Đạo đức xă hội, đạo đức chính trị, môi trường sống, trường
học, quan hệ giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, giữa
người dân với chính quyền: nếu gió thuận mưa ḥa trên những quan hệ
đó, người ít học nhất cũng biết phân biệt đâu là thật đâu là giả,
đâu là đáng tin đâu là lừa đảo. Khi một dân tộc đă có ḷng tin từ
trên đến dưới, đố luồng thông tin nào từ bên ngoài làm sứt mẻ nổi
ḷng tin đó ở bên trong. Dựa vào đâu để chống ngoại nhập? Vào nhau!
Vào cái ǵ đă chứng tỏ là bến bỉ nhất của dân tộc! Vào tường ḷng,
thay v́ tường lửa.
Cho nên cái
ǵ vững chắc nhất trong bản sắc, cái ấy không sợ toàn cầu hóa tấn
công mà c̣n tấn công ngược lại. Tôi lấy hai ví dụ: thức ăn, y phục.
Ai cũng
biết McDonald là tiêu biểu của toàn cầu hóa thống trị. Khi nông dân
Pháp nổi dậy chống áp dụng kỹ thuật làm biến chất thực phẩm (OGM),
họ đốt tiệm ăn McDonald. Dưới mắt họ, cũng như dưới mắt dư luận thế
giới, McDonald không phải chỉ là khoanh bánh ḿ và miếng thịt chiên;
đó là cả văn hóa ẩm thực, văn hóa ăn nhanh, kỹ thuật sản xuất, tính
hiệu quả, tính tiên đoán, tài kiểm soát, khả năng sản xuất đồng bộ,
khả năng đánh thức một mùi vị đồng nhất, tóm lại khả năng tạo ra một
bản sắc riêng chiếm hữu không những cái lưỡi mà cả cái đầu của người
tiêu thụ. Một phong cách ăn tràn ngập thế giới bất kể thù bạn. Một
văn hóa chung, "bản sắc thứ hai", quê hương thứ hai của cả nhân
loại.
Nhưng
McDonald có làm tôi kém chung t́nh với chén cơm thường ngày của tôi
không? Thức ăn là một trong những yếu tố then chốt của bản sắc. "Hăy
nói cho tôi biết anh ăn thứ ǵ, tôi sẽ nói cho anh biết anh là ai".
Ăn hoài khoai tây mà không biết chán th́ chẳng cần khai tôi cũng
biết anh là người Đức. Do you speak spaghetti? là - đùa thôi
- anh có nói tiếng Ư không. Cầm khoanh phó mát ngửi cho đả đời rồi
mới ăn th́ anh đích thực là người Pháp biết sống. Thức ăn là bản sắc
nên đi đâu người ta cũng mang nó theo, đâu có di dân th́ đấy có nó,
nó không mất mà c̣n lan ra tứ xứ. Lai giống Mỹ, pizza vẫn là pizza.
Khắp nơi, vịt quay Bắc Kinh treo lủng lẳng, Pa Ri, Luân Đôn, Niu
Óc... bao tử ở đâu cũng hẩu xực ḿ vịt quay. Vậy th́ sá ǵ
McDonald! Hỏi cái bụng, hỏi cái lưỡi, hỏi cái đầu, hỏi từng tế bào
trong cơ thể của tôi: chúng mày nhớ cái ǵ nhất, cơm hay McDonald,
chúng nó đâu cần trả lời! Có nghĩa lư ǵ đâu khi con cái đ̣i vào
McDonald? Hăy vào, như hăy vào pizza, vào vịt quay, vào couscous Bắc
Phi, vào cà ri Ấn Độ! Bản sắc chỉ đích thực là bản sắc khi phải đối
phó với nhiều thách thức, cạnh tranh. Nó chỉ là hoa hậu khi
nó đánh bạt mọi giai nhân khác. C̣n nếu không có đối thủ, cái gọi là
bản sắc cũng không có, bởi v́ bản sắc được định nghĩa là cái ǵ
khác, cái ǵ đặc biệt. Cái đó không mạnh th́ dù co cụm trong
thành tŕ cũng bị đào thải thôi.
Thức ăn là
yếu tố mạnh nhất trong bản sắc, cho nên nó phát triển với toàn cầu
hóa. Suchi của Nhật ngày nay toàn cầu hóa thực đơn khắp năm
châu bốn biển. Mà đơn giản quá: chỉ chút cơm bọc rau câu. Thế giới
nhà giàu càng chán mỡ càng chuộng suchi. Nắm yếu điểm đó,
suchi tiến công trên thị trường chuộng thức ăn nhẹ: nó đùa với
cái bao tử, hư hư thực thực, ăn vào như có như không. Phở của ta bây
giờ cũng thế, cũng toàn cầu hóa trong nhu cầu fast food! Trái
với suchi, nó thực chất, làm một tô bự là giải quyết xong bữa
ăn trưa, mà mùi vị lại đậm đà, kích thích. Chưa nói đến chả gị mà
tiếng quốc tế bây giờ là nem. Nem đi vào các nhà hàng không
phải chỉ của người Việt, đi vào tận căng tin của các trường học.
Nham nham, học tṛ thấy nem, chưa ăn đă nham nham chảy nước miếng.
Nhưng dù là
nem hay phở, dù phở do bếp Tàu nấu hay dù nem đang lai giống với
bánh tráng Thái Lan, cái đặc biệt, cái khác với Tàu, với Thái
của Việt Nam, cái làm cho món ăn Việt Nam được ưa chuộng trên thế
giới, cái làm cho con người Việt Nam muôn đời vẫn tự định nghĩa ḿnh
là Việt Nam bất chấp không gian, bất chấp luật quốc tịch, vẫn là cái
đó, cái mùi thum thủm, cái vị mặn mặn, mà nếu thiếu nó cuộc đời nhạt
nhẽo như thiếu tổ quốc: cái chai nước mắm. Nước mắm là đại nguyên
soái bách chiến bách thắng. Thực dân, đế quốc, bá quyền, Bắc thuộc,
Tây thuôc ... nó chẳng coi ra ǵ. Th́ ra cái thá ǵ McDonald!
Y phục là
yếu tố then chốt thứ hai của bản sắc. Kimono không phải chỉ
là áo Nhật mà là nước Nhật. Sari là nước Ấn Độ.
Hăy xem những người lănh đạo Ấn Độ: có bao giờ họ rời bỏ quốc phục
của họ đâu? Và hăy xem ta: nào đâu quốc phục của ta? Mỗi dân tộc
trên đất nước ta đều có y phục riêng, chỉ có dân tộc Kinh là mất
quốc phục mà thôi.
Nhận xét
này có áp dụng được cho cả Trung Quốc không? Lúc nhỏ, đi vào tiệm
Tàu, tôi thấy tiệm nào cũng treo chân dung Tôn Dật Tiên với bộ áo cổ
cao, không phải áo Tây phương. Sau này, tôi nghe nói Tôn Trung Sơn
chế biến y phục, dung ḥa kiểu Tây với kiểu cổ, để biểu dương một
Trung Hoa hiện đại, Cộng Ḥa, nhưng không mất bản sắc. Áo Mao, cổ
Mao, xuất thân từ đó chăng?
Áo ấy, cổ
ấy, bây giờ chẳng c̣n là lễ phục tiếp khách nữa nơi Hồ Cẩm Đào.
Nhưng áo Tàu truyền thống đâu có biến mất nơi các bà, các cô? Áo ấy,
cổ ấy, len lỏi vào thời trang Âu Mỹ tuy rằng thời trang Âu Mỹ cũng
được gió toàn cầu hóa thổi rất nhanh vào Bắc Kinh. Chẳng mấy chốc
sau khi Đặng Tiểu B́nh tứ hiện đại mèo đen mèo xám, mọc lên ở phố
may mặc Dong An, quận Wang Fu Jing, một tiệm thời
trang mang tên là Mu Zhen Liao dành cho khách sang. Kiểu áo
Qipaus thượng lưu của thời nhà Thanh xuất hiện, mới lạ, làm
khách qua đường phải ngoái cổ nh́n. Báo Mỹ cho rằng Qipaus là
áo Măn Châu, không phải Hán Đường Tống Minh, nhưng Nguyên Thanh
chẳng phải là lịch sử Trung Quốc hay sao?
Nói tới
Qipaus là để trở về với chiếc áo dài của ta. Áo dài cũng không
phải là truyền thống lâu đời, cũng là y phục cải cách từ những năm
1930 thôi, cũng là thời trang chế biến để thích nghi với thời đại
mới. Nhưng nó thành công bao nhiêu, thân thương bao nhiêu, yêu kiều
bao nhiêu, thích hợp bao nhiêu! Nó đi vào ḷng dân tộc như thử nó đă
được khai sinh từ thuở dân tộc c̣n nằm nôi! Và nó hănh diện phất
phới trên thế giới; thế giới thán phục nó. Ngày nay, thời trang tha
hồ vẽ vời, thêm bớt; nó nhân lên nhiều kiểu mới, nhưng nó vẫn là nó,
vẫn là nhan sắc vô địch. Cái ǵ hợp với dân tộc qua bao nhiêu thử
thách, cái ấy là bản sắc, cái ấy không sợ ma nào ám, kẻ cướp nào
lấy.
Bởi vậy,
câu hỏi mà tôi nêu lên để kết luận là: liệu yếu tố căn bản thứ ba mà
ta vốn cho là nằm tận trong thâm sâu của bản sắc dân tộc, đóa hoa
sen tinh khiết trong lịch sử, sen đó có nở được trên bùn, trên bao
nhiêu rác rưởi mà người ngoài và chính ta, chính ta trước tiên,
không ngớt ném tràn lên nó từ bao lâu nay hay không. Câu hỏi đó
không đặt riêng cho chúng ta; bất cứ ai quan tâm đến trường tồn của
dân tộc đều phải đặt. Nhưng trường tồn hay không là tự chúng ta
trước hết. Không ai giết chết được chúng ta ngoài chính chúng ta.
Toàn cầu hóa ngày nay chẳng có ǵ mới hơn cửa bể trong ca dao: đi
qua cửa bể Thần Phù, khéo tu th́ nổi vụng tu th́ ch́m. Phép
thiêng chỉ có một thôi từ ngàn xưa: là tu. Là sống đúng như lời ḿnh
nói, đúng như lời đức Phật dạy. Là nói ít ít. Để tu nhiều nhiều. Như
vậy th́ chẳng sợ ai. Như chén nước mắm. Như chiếc áo dài. Muôn đời
của dân tộc.
Chú
thích:
2. Câu nói của Ann Coulter
cũng như con số tín đồ born again và thừa sai évangélique lấy
trong : André Fontaine, Un XXIè siècle religieux?, Le Monde
5-4-2006.
3. Tín đồ Cơ Đốc ở Phi châu
đă nhân lên gấp ba từ 1978 (55 triệu) đến 2004 (149 triệu). Cũng
trong khoảng thời gian đó, tín đồ Cơ Đốc ở Á châu đă tăng lên 49,5%
và ở châu Mỹ la tinh 79,6%. Năm 2004, tỷ số tín đồ Cơ Đốc ở toàn
châu Mỹ (Bắc và Nam) là 62% và ở Á châu dưới 3%. Số giáo sĩ Cơ Đốc ở
Âu châu năm 1978 là 250.498 , sụt xuống dưới mức 200.000 năm 2004.
Con số đó ở Phi châu là 16.926 năm 1978 và 31.259 năm 2004 (tăng
84%) ; ở Á châu là 32.291 năm 1978 và 48.222 năm 2004 (tăng 74%).
(Thống kê do Vatican
đưa ra. Xem Le
Monde 4-5-2006).
Để cho thấy rằng ḿnh không
đánh mất quyền làm chủ, Trung Quốc chủ động trong việc bổ nhiệm giám
mục. Ngày 30-4-2006, LM MaYingling được bổ nhiệm giám mục Kunming,
và ngày 3-5-2006 LM Liu Xinhong được bổ nhiệm giám mục Anhui mặc dù
Vatican không đồng ư. Xem Le Monde 3-5-2006.
4. Câu của quan chức Mỹ
(David Rothkoft, dưới thời Clinton) nói về máy vi tính, trích từ
Serge Latouche, Universalisme cannibale ou terrorisme identitaire,
http://1libertaire.free.fr/SLatouche23.html
5. Con số máy vi tính trên
thế giới lấy từ diễn văn của Dominique Wolton, thành viên Hội Đồng
các nước nói tiếng Pháp, nghiên cứu sư CNRS: La mondialisation,
une chance pour la francophonie
http://www.senat.fr/evenement/colloque/mondialisation_francophonie/index.html
6. Phụ lục theo đây một tài
liệu bổ ích của Hiệp hội "Quyền của phụ nữ và phát triển" (AWID) có
thể đọc trên mạng của WHRnet (Women's Human Rights net) : Eman
Ahmed, "Dangerous Mix: Religion and Development Aid"
http://www.comminit.com/strategicthinking/st2005/thinking-1340.htm.
7.Về hệ phái Tin Lành
évangélique, xem quyển sách của tôi: Cao Huy Thuần, "Tôn giáo và
xă hội hiện đại", NXB Thuận Hóa, 2006.
http://www.buddhismtoday.com/viet/pgvn/hoithao_bansac&toancauhoa.htm
|
|