|
GIẢI NGHIỆP - GIẢI THỰC - GIẢI HOẶC
ĐƯỜNG ĐI CỦA PHẬT TỬ VIỆT NAM
Hoàng
Nguyên Nhuận
Nh́n theo quan điểm lư và sự, đâu là
con đường tu hành của Phật tử trong hoàn cảnh hôm nay?
Làm thế nào để tu hành vừa có lợi cho
ḿnh, vừa có lợi cho đồng bào và đồng loại?
Nhưng trước hết, theo đạo Phật, thế
nào là tu?
PHẬT GIÁO KHÔNG PHẢI LÀ TÔN GIÁO
Đạo Phật là con đường Thích Ca Mâu Ni
từng đi để thành Phật, và khuyến khích thế nhân tự thắp đuốc lên mà
đi để t́m ra ư nghĩa của cuộc đời.
Người Tây phương dùng chữ Bouddhisme
hay Buddhism để chỉ đạo Phật, cũng như Judaism hay Judaisme để chỉ
Do Thái giáo, Christianism hay Christianisme để chỉ Ky-Tô giáo,
Catholicism hay Catholicisme để chỉ Công giáo hay Ky-Tô giáo
Vatican, Protestantism hay Protestantisme để chỉ Thệ Phản giáo hay
Tin Lành giáo, Islamism hay Islamisme để chỉ Hồi giáo.Tất cả đều
giống nhau ở tín điều về một Thượng Đế và sự lệ thuộc của con người
vào Thượng Đế đó. Nhưng trong truyền thống Tam giáo, đạo Phật cũng
như đạo Lăo và đạo Khổng không phải là những ISME hay ISM theo nghĩa
đó, nhất là đạo Lăo ráo riết tránh ngôn từ tranh biện và hệ thống
hóa tư tưởng đến độ cực đoan.
Đạo Phật cũng có một vũ trụ quan tuy
đơn sơ nhưng lại rất hiện đại, nhất là quan niệm vô thủy vô chung
của vũ trụ và thời gian, và quan niệm về những chuyển biến chủng
loại, nhưng cơ bản, đạo Phật cũng như đạo Khổng là những nhân sinh
quan về bản chất và ư nghĩa đời người và những quan niệm về cách
thức tổ chức quốc gia xă hội xă hội để thành đạt ư nghĩa hay mục
tiêu nhân sinh đó.
Cho nên, để tránh ngô nhận, có lẽ nên
nói đến Đạo Phật thay v́ Phật giáo. V́ gọi đạo Phật là Phật giáo như
một ISM hay ISME tức là vô t́nh đồng hóa đạo Phật với những tôn giáo
cho rằng vạn vật, kể cả chúng sinh và riêng nhân loại, là do một
đấng tối cao toàn thiện toàn chân toàn mỹ trên thiên đàng tạo ra.
Tín điều này cho rằng đấng toàn năng tạo ra những cái tốt đẹp nhất,
nhưng không giải thích tại sao đấng toàn năng này lại tự dưng bày ra
những cái xấu xa tồi tệ nhất như hỏa ngục, động đất, tsunami, thánh
chiến, tàn phá môi sinh, bom nguyên tử, ḷ hơi ngạt, vi khuẩn HIV,
vi khuẩn cúm gia cầm... và bao nhiêu điều tàn ác khác mà vật thụ tạo
của đấng toàn năng đó có thể tưởng tượng ra. Đại diện của đấng toàn
năng ở trần gian là những giáo chủ với những giáo triều độc quyền
giữ ch́a khóa thiên đàng và mọi định lệ sinh hoạt, kể cả giáo lệnh
thiêng liêng rất thánh về thuốc ngừa thai và bao cao su.
Từ sau vụ 11/9/2001 ở Mỹ đến nay, nhân
loại phát sốt từng cơn v́ nguy cơ thánh chiến giữa Hồi giáo với Do
Thái giáo, Công giáo Vatican và một vài hệ phái Tin Lành. Nguy cơ
này dần dần thế chỗ chiến tranh ư thức hệ tàn lụi khi Bức Tường Sắt
đổ nhào theo Bức Tường Berlin năm 1989. Tôn giáo được dùng để nuôi
dưỡng một thứ chiến tranh lạnh mới có lúc đă nóng sôi lên bằng bom
đạn như ở New York-Washington, ở Madrid, London, Bali, hay ở
Afghanistan và Iraq. Đối diện với thực trạng mắt đổi mắt răng đền
răng mà đi đến cùng không khéo sẽ chỉ c̣n những người mù húp cháo đó,
ai mà không có lúc ân hận là đă theo tôn giáo, hay ít ra ai mà không
có lúc ao ước thà mất đấng tối cao toàn năng c̣n hơn là mất ḥa b́nh
và sinh mạng cá nhân?
Cũng bởi v́ không chấp nhận một đấng
tối cao theo nghĩa tôn giáo nên một thời đạo Phật đă bị tố cáo là vô
thần, theo ngôn ngữ thời thượng ‘vô thần Cộng Sản’, khiến cho một số
Phật tử hoặc không dám nhận là theo đạo Phật mà chỉ nhận là theo đạo
ông bà.
Mặt khác, cũng v́ ngộ nhận đạo Phật là
một tôn giáo tôn thờ một đấng tối cao trên thiên cung như thế nên
một số Phật tử mới loay hoay bắt chước thiên hạ biến chư Phật, chư
Bồ Tát thành Phạm Thiên hay Ngọc Hoàng Thượng Đế với cung vàng điện
ngọc rập theo khuôn mẩu thiên cung theo trí tưởng tượng của các nghệ
sĩ Tây phương để làm vừa ḷng các giáo chủ ham mê xa hoa quyền quư.
Phật từ bỏ địa vị Thái Tử và ngai vàng trong tương lai không phải là
để làm vua, khoan nói là vua của các vua. Trong truyền thống đạo
Phật, cũng như đạo Khổng, đạo Lăo, không hề có chuyện thay v́ gọi kẻ
đứng đầu một tôn giáo là giáo chủ, trưởng lăo, giáo phụ, tổ, tăng
thống... th́ người ta gọi vị đó là ‘giáo hoàng’, nghĩa là hoàng đế
của vương quốc tôn giáo như Công giáo Vatican.
GIẢI
NGHIỆP
Phật tử là người có tâm nguyện theo
đạo Phật, nghĩa là nương theo con đường Phật đă đi qua.
Người Việt đa số vẫn nghĩ ở đời muôn
sự của chung, hay ngàn muôn năm âu cũng thế ni. Hay nói như nhà bác
học Lavoisier, chẳng có ǵ diệt, chẳng có ǵ sinh. Thành trụ hoại
không chỉ là biến tướng của nghiệp. Nghiệp là nguồn của mất c̣n sinh
diệt, nghiệp là nguồn của trầm luân đau khổ. Con đường Phật đi là
con đường dẫn ra khỏi nghiệp đạo. Con đường Phật đi là con đường dứt
nghiệp, chuyển nghiệp để đoạn ĺa tái sinh, để ra khỏi cái ṿng sinh
diệt, cái ṿng mất c̣n có không. Chuyển được nghiệp là thoát được
luân hồi, dứt được nghiệp là dứt được luân hồi.
Hai điểm đặc thù bất nhị của đạo Phật
là thứ nhất, con người có thể tự ḿnh ra khỏi xa lộ một chiều sinh
diệt, và thứ hai, con người có thể làm được chuyện đó ngay trong
kiếp này, ngay trong cuộc đời hiện tại. Bằng cách nào? Bằng 84.000
cách, nghĩa là có đến 84 ngàn bảng chỉ đường, hay 84 ngàn cách đi!
Giữ năm giới nghe đă nặng, huống nữa
là 84 ngàn giới. Cho nên, dù số 84.000 là một con số tượng trưng ví
von chăng nữa th́ cụm từ ‘tám vạn bốn ngàn pháp môn’ cũng đủ làm gây
chới, vừa tạo tuyệt vọng vừa gây hi vọng.
Trong rừng pháp trùng trùng mênh mang
ấy, làm sao khỏi lạc? Cuộc tranh luận cần cù lau gương sáng giữa
Thần Tú và Huệ Năng, hay mẩu đối thoại khai tâm giữa sơ tổ Bồ Đề Đạt
Ma và Huệ Khả đă đem lại một hi vọng cho người đang chới với trước
rừng pháp. Hi vọng của một đồ tễ nháy mắt buông dao. Hi vọng của con
đường trung dung vô cầu, làm mà không bám vào thành quả, tu mà không
bám vào chánh quả, hành mà không bám vào phước đức, giác ngộ bằng
cách cùng giác ngộ với kẻ khác, như người trên thuyền, muốn đến bến
th́ cùng chèo với kẻ khác, chèo cho kẻ khác trên thuyền. Nh́n theo
quan điểm trung dung vô cầu đó th́ trong hoàn cảnh hôm nay, con
đường tu tập và hành đạo của các hàng Phật tử cũng có thể tóm lược
vào ba điểm, đó là giải nghiệp, giải thực và giải hoặc.
Tam giáo
đồng hành. Đạo Phật và đạo Khổng là những hệ thống tư tưởng chuẩn bị
cho con người vào đời và ở đời một cách có ư nghĩa và có trách nhiệm,
trong khi đạo Lăo chuẩn bị cho con người ra khỏi cuộc đời mà không
tiếc nuối hay bất măn oán hận. Quan niệm duyên nghiệp của đạo Phật
chú trọng vào cách con người đến với đời. Quan niệm tam cương ngũ
thường của đạo Khổng chú trọng vào con người ở đời và quan niệm vô
vi của đạo Lăo chỉ cách cách rút lui khỏi cuộc đời.
Dù truyền thống Việt Nam là ‘tu đâu
cho bằng tu nhà’ hay ‘tu nhà tu chợ tu chùa’, nhưng xuất gia là lối
tu hành gắt gao nhất, đ̣i hỏi một quyết tâm cao, được coi là lư
tưởng nhất, chắc ăn nhất. Chính quyết tâm này tạo nên giá trị của
người xuất gia. Chính quyết tâm giữ Ba La Đề Mộc Xoa đă biến hàng
xuất gia thành một trong ba báu vật tối thượng của Phật tử. Và dĩ
nhiên chư tôn túc tăng ni cũng hiểu rơ xuất gia hay tu chùa là tự
nguyện chứ không phải là một t́nh nguyện hi sinh như kiểu đi kháng
chiến, đi làm cách mạng, đi làm việc thiện hoặc đi nghĩa vụ quân sự.
Phải hiểu rơ điều đó để khỏi sai lầm trong sự nghiệp pháp thí, đức
thí cho hàng Phật tử sơ cơ.
Đă tâm nguyện theo Phật không thể
không nhớ nếu Phật cũng ưa nhàn hạ thong dong thanh nhàn th́ xong 49
ngày đêm nhập định thành công, Phật cứ đi tuốt về Niết Bàn cho yên
thân. Hoặc nếu Phật cũng nghĩ ai làm ǵ mặc ai ḿnh lo tu thân ḿnh
trước đă, th́ sau sau khi giác ngộ và tiếp đó là 21 ngày đêm trăn
trở tiến hay lùi, nhập hay xuất, hay ít ra sau thời pháp đầu tiên
cho U Ba Ca về nghiệp lực và giải nghiệp, hay sau thời pháp thứ hai
kế tiếp cho năm anh em đồng chí cũ Kiều Trần Như về Tứ Diệu Đế và
Bát Chánh Đạo, Phật cứ ngồi một chỗ nhờ họ chạy vạy kiếm tiền xây
chùa và chờ đàn na tín thí đến dâng cúng cái ăn, cái mặc, cái ở để
Phật khỏi phải hàng ngày ôm b́nh bát lặn lội t́m về thế nhân để bố
giáo suốt 45 năm? Cho nên, Phật là một kẻ lữ hành nhập thế chứ không
phải lánh xa phồn hoa đô hội để trốn nợ đời. Đă lên đỉnh cao để
‘trường khiếu nhất thanh hàn thái hư’ rồi th́ phải trở về phồn hoa
vinh nhục. Đă nhảy qua bờ giác th́ cũng phải nhảy trở lại bờ mê để
độ những kẻ c̣n mê. Trong cương vị một vị thầy, một tấm gương sáng.
Phật không tu dùm cho ai cả. Phật
không tự nhận là đấng cứu thế và cũng không ra điều kiện cho bất cứ
ai nếu chịu nhận Phật là đấng tối cao th́ sẽ được đương nhiên lên
Niết Bàn. Phật là kẻ đă đi, đă đến, và Phật chỉ đường cho mà đi, chỉ
đích cho mà đến, khéo tu th́ nổi vụng tu th́ ch́m. Phật không có
quyền bắt ai xuống địa ngục v́ không chịu nhận Phật là Phật, v́
không chịu rửa tội theo Phật.
Con đường
Phật đi là con đường t́m đến thế nhân để cho và nhận. Cho giáo pháp
và nhận thực phẩm, áo quần, thuốc men, nơi trú ngụ. Phật là kẻ tay
làm hàm nhai đúng với nguyên tắc bất tác bất thực. Bởi v́ thường
xuyên dấn thân vào đời nên những điều Phật dạy luôn thiết thực, cập
nhật, sống động và rất có lư và rất người. Do đó mà ngay sau khi
Phật niết bàn, kỳ kiết tập thứ nhất do A Nan chủ tŕ chỉ chú trọng
vào luật và kinh. Bao nhiêu năm sau Luận tạng mới được triển khai.
Bởi thánh chúng cũng đă hiểu ư Thầy chú trọng đến những ǵ thiết
thực, cập nhật và sống động, để làm chứ không để nói, ta làm được
ḿnh làm được chứ không phải đợi thành thánh rồi mới làm mới giữ.
Con đường
Phật đi là con đường hành động, chứ không dậm chân tại chỗ. Trên con
đường vừa đi vừa tu, đi không biết bao giờ đến, tu không biết bao
giờ thành đó, những người có tâm nguyện theo Phật chỉ có thể nói
ḿnh đang LÀM Phật tử, chứ không dám chắc ḿnh đă LÀ Phật tử. Làm
đến đâu hay đến đó, quư hồ là quyết chí làm và quyết chí tu. Trên
con đường đó, Phật tử gặp chính ḿnh, gặp tha nhân và có duyên may
th́ gặp được những người đă đến đích, như những đệ tử của chư Phật,
chư Tổ thời quư ngài c̣n tại thế.
Vô cầu là con đường tự giác nhi giác
tha. Bởi lư, có xác thân là có trú sở, có trú sở là có quê hương tổ
quốc. Hành vô hành, tu vô cầu là bí quyết làm Phật tử, quyết sống
cho ra người của Phật tử Việt Nam, nhất là trong những thời kỳ nhiễu
nhương cần chung sức đoàn kết để cứu cá nhân ḿnh, cứu gia đ́nh, cứu
quê hương. Phật tổ cũng là Phật tổ Hồng Bàng thị như thi sĩ cách
mạng Nguyễn Quyền trong phong trào Duy Tân ngày xưa từng nói. Trong
lúc sơn hà nguy biến thời Ngô, Đinh, Lê, Lư, Trần, Hậu Lê hay thời
kháng chiến chống thực dân, người Phật tử, sáng tụng kinh trưa ra
trận, chiều sống sót trở về, cơm nước xong, tối tụng kinh đi ngủ để
ngày mai tiếp tục... Đó là nhịp sống và chiến đấu đặc thù của Phật
tử Lư, Trần, Lê.
Phật tử vẫn tự hào đạo Phật là đạo của
bảy, tám mươi phần trăm công dân và có lúc nào thống tâm tự hỏi sao
bảy, tám mươi phần trăm ấy có thể để cho những vụ như vụ Năm Cam hay
PMU 18 xảy ra không? Chư tôn túc tăng già, thân chính cũng như đối
chính, đă có một cảnh giác nào về những vụ này không hay chỉ đợi cho
Năm Cam bị xử tử rồi làm lễ cầu siêu, và các ṭng phạm ở tù rồi mới
làm lễ cầu an?
GIẢI THỰC
Trong bài Gia Tài Của Mẹ, Trịnh công
Sơn đă tóm lược số phận bang giao quốc tế của Việt Nam bằng câu hát
đơn sơ: Một ngàn năm nô lệ giặc tàu, một trăm năm nô lệ giặc tây...
Người Phật tử Việt sinh ra và lớn lên chỉ c̣n một đường để lựa chọn
đó là góp phần hóa giải số phận bang giao quốc tế đen tối hẩm hiu đó,
là góp phần dứt ách nô lệ và những hăm dọa lệ thuộc đó. Cho nên,
trong tinh thần Phật pháp bất ly thế gian pháp, giải nghiệp cũng
chính là giải thực.
Trong thời hiện đại, cha ông chúng ta
đă phải mất đúng 30 năm để hoàn thành tâm nguyện giải thực. Và nếu
tính từ lời hịch Văn Thân Cần Vương th́ mất đúng 101 năm. Đúng là
không có ǵ quư hơn độc lập tự do.
Năm 1975, người Việt chấm dứt được
thực dân cũ để rồi phải tiếp tục đối phó với nạn thực dân dân mới có
tên là bá quyền, là cấm vận. Thời gian chống thực dân mới này cũng
xấp xỉ bằng thời gian chống thực dân cũ.
Sau ba mươi năm chiến tranh ư thức hệ
hay chiến tranh chính trị để rồi vừa lần ṃ thử thách kinh tế tập
sản, vừa chống đỡ nạn thực dân mới, đất nước đang dấn thân vào vận
hội mới kinh tế thị trường toàn cầu mà WTO, WB, IMF, Quota xuất khẩu...
là những mật ngữ của thần chú hiện đại hóa, hội nhập...
Nguyện ước của Chủ Tịch Hồ chí Minh là
tranh thủ độc lập tự do để xây dựng một tổ quốc giàu đẹp. Nhưng Hồ
Chủ Tịch không hề khẳng định giàu đẹp sẽ được tính bằng số triệu phú,
tỷ phú, số nhà cao tầng hay số xe hơi tính theo đầu người hoặc theo
hộ. Giàu đẹp ở đây là giàu đẹp của tâm thức bầu ơi thương lấy bí
cùng. Giàu đẹp của một xă hội b́nh đẳng trong đó hố ngăn cách giàu
nghèo giữa các cá nhân, hộ, vùng và miền đất nước sẽ được rút ngắn,
những thành phần bất hạnh thiệt tḥi sẽ được chiếu cố, những người
già, phụ nữ, trẻ con và những người có gia đ́nh sẽ được chăm sóc
nâng đỡ. Giàu đẹp của một xă hội trong đó công dân không phải rũ
nhau sắp hàng đăng kư xuất khẩu lao động.
Tiến bộ là đi từ đói cơm rách áo lên
cơm no áo ấm rồi ăn ngon mặc đẹp. Câu hỏi đặt ra không chỉ là làm
thế nào mà c̣n để làm ǵ? Bởi kiếp người đâu chỉ là giá áo túi cơm.
Thế trị trả lời câu hỏi đầu. Đạo, tôn giáo hay sơn môn trả lời câu
hỏi thứ hai. Bởi lư, sống hạnh phúc là mục tiêu của đời người nhưng
sống hạnh phúc cũng là điều kiện để hoàn thành ư nghĩa của đời người
là giác ngộ, là giải thoát. Xem nhẹ mục tiêu hậu cơm áo ấy là lạc
hướng.
Xin hăy nh́n vào trường hợp Australia.
Australia là một trong 10 nước giàu nhất thế giới, và có lúc từng
leo lên hạng nhất hạng nh́ nữa. Và đây là kết quả một cuộc nghiên
cứu kết quả hội nhập và hiện đại hóa của Australia trong mười năm
qua để trả lời câu hỏi hạnh phúc là ǵ và làm ǵ để có hạnh phúc.
Kết quả nghiên cứu này cho thấy mấy điểm sau đây.
1. Người
dân Australia càng ngày càng giàu có về tiền bạc. Lợi tức trung b́nh
theo đầu người 10 năm trước đây là A$26.000, năm 2005 là A$35.000.
Australia có hơn 8 triệu người có cổ phần, nghĩa là hơn ½ công dân
thành niên. Thế giới có 100 tỷ phú có từ 50 tỷ đến 6 tỷ th́
Australia có 8 tỷ phú có từ 8,87 tỷ đến 1,37 tỷ mặc dù dân số
Australia chỉ khoảng 1/300 dân số thế giới.
2. So với
10 năm trước, dân Australia không chỉ càng ngày càng giàu, mà càng
có học hơn và tuổi thọ trung b́nh cũng tăng 3 tuổi cho đàn ông và 2
tuổi cho đàn bà.
3. Hố ngăn
cách giàu-nghèo, chủ-thợ ngày một sâu rộng. Hạng giàu nhất chỉ đông
bằng 1% dân số nhưng chiếm đến 9% lợi tức quốc gia. Trong thập niên
1992-2002, mức lương bổng trung b́nh đồng niên của giới chủ và đại
diện cho chủ tăng 396% [từ A$715.566 lên 3.550.000] trong khi lương
bổng trung b́nh của công nhân chỉ tăng 37%.
4. Tiền bạc
tăng, mức mập ph́ cũng tăng. Số đàn ông phệ tăng từ 52% lên 62%, đàn
bà từ 37% lên 45%. Mức tội ác gia tăng, số phận thổ dân vẫn hẩm hiu,
sông hồ bị ô nhiễm, môi sinh ngột ngạt. Tính theo đầu người,
Australia là quốc gia thải chất độc vào không gian nhiều nhất thế
giới. Số chim muông và thú vật bị tận diệt hay có nguy cơ bị tận
diệt tăng từ 41% lên 169% trong 10 năm qua.
5. Song
song với mức độ bất b́nh đẳng, mức bần tiện cũng gia tăng với cảm
nghĩ chung bốc hốt được ǵ th́ bốc hốt, miễn đừng vượt quá phạm vi
luật pháp. Người giàu nhất Australia là tỷ phú Kerry Packer đă nói
một câu để đời: Ai trong chúng ta không muốn khai bớt lợi tức của
ḿnh đi, nghĩa là trốn thuế. Cả một đội ngũ chuyên viên kinh tế tài
chánh luật gia và truyền thông phục vụ Packer trong mục tiêu tăng
lợi tức và giảm đóng thuế đó. Chính quyền Australia tung ra 300
triệu cho Saddam Hussein để bảo đảm thị trường nông phẩm và không hề
tỏ ra một chút bối rối khi đưa quân qua Baghdad để lật đổ Saddam
Hussein ‘giải phóng’ cho dân Iraq.
6. Giàu có
hơn, sống lâu hơn, béo mập hơn, có học hơn nhưng cảm thức về thoải
mái hạnh phúc th́ không hề thay đổi suốt 50 năm qua, nghĩa là người
dân Australia hôm nay không thấy ḿnh sướng hơn ông bà cha mẹ ḿnh
nửa thế kỷ trước ở chỗ nào.
7. Nói về
t́nh cảm thoải mái hạnh phúc hay sung sướng, cuộc nghiên cứu này đă
dùng 7 tiêu chuẩn để định mức đó là mức sống, sức khoẻ, t́nh nghĩa,
thành tích ở đời, an toàn, quan hệ láng giềng, và tương lai bảo đảm.
Xét theo 7 tiêu chuẩn đó th́ vùng cử tri được xem là hạnh phúc nhất
là vùng có những điều kiện sau đây: mật độ dân số thấp, có tỷ lệ cao
về số người trên 55 tuổi, về số phụ nữ và thành phần có gia đ́nh,
mức lợi tức không quá chênh lệch, tinh thần lân lư láng giềng gắn
bó. [The Sydney Morning Herald ngày 13/2/2006].
Từ kinh
nghiệm và thành quả phát triển của Australia quay về nh́n quê hương
th́ thấy ǵ, và cần nhấn mạnh đến chỗ nào trong quá tŕnh phát triển
xă hội? Nh́n vào những mục tiêu chiến lược như dân giàu nước mạnh,
công bằng, dân chủ, văn minh, như thu hẹp khoảng cách giàu-nghèo,
thành thị-nông thôn, chúng ta đă làm ǵ? Và c̣n phải làm ǵ?
Xin hăy dựa
vào câu trả lời thiết thực, chân chất, không chuyên môn rườm rà của
một bạn đọc của tờ Văn Nghệ strong số 16 ngày 22/4/2006. Người này
cho biết trong giai đoạn 2000-2005, tổng sản lượng quốc nội [GDP]
của Việt Nam tăng theo mức 7,5%, một nhịp độ gần như vô địch. Trong
tổng sản lượng đó, công nghiệp và xây dựng chiếm 40,8%, dịch vụ
38,5% và nông nghiệp 20,7%. Như vậy, 80% dân số là nông dân chỉ
chiếm 20,7% GDP. Nói thế khác, giá trị sản phẩm lao động của nông
dân tính theo đầu người th́ chỉ bằng khoảng 1/16 giá trị lao động
của bộ phận công nghiệp, xây dụng, dịch vụ, nghĩa là mức sống nông
dân thua xa các tầng lớp xă hội khác. Cho nên, trong khi nói đến xóa
đói giảm nghèo, xóa nhà dột nát ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa th́
thành thị xây nhà lầu mua xe hơi. Và v́ không có lợi, thu nhập thấp
để đuổi kịp mức hưởng thủ như đồng bào ḿnh ở thành thị, nên nông
dân chỉ c̣n một đường là bỏ đồng ruộng vào thành thị, trong khi nông
thôn là nguồn nguyên liệu, là nguồn cung cấp nhân công và là thị
trường tiêu thụ cho công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. [Vũ Duy Yên –
Phát Triển Kinh Tế Phải Hướng Vào Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu-Nghèo,
Thành Thị-Nông Thôn, sđd]
Một vài ví
dụ vừa kể không những thiết thực cho những nhà chiến lược phát triển
kinh tế mà cho cả những ai nghĩ rằng Bát Chánh Đạo, Lục Ḥa, Tứ
Nhiếp Pháp là phương thức giảm xóa những bất b́nh đẳng và mâu thuẩn
xă hội để thăng tiến hạnh phúc nhân sinh là điều kiện giác ngộ giải
thoát. Đây là điều sơn môn không thể không biết đến và nếu v́ lư do
nào đó không thể dấn thân vào phồn hoa vinh nhục th́ cũng phải
khuyến thỉnh và tạo điều kiện cho hàng ngũ giảng sư, các thành phần
dấn thân vào Phật sự giáo dục và thiện nguyện, các Phật tử tại gia
đủ các ngành nghề tiếp sức với thế quyền trong mục tiêu lục ḥa đó.
Trước đây,
ở Việt Nam, Mỹ đă Việt hoá chiến tranh để đổi màu da xác chết. Giờ
đây, toàn cầu hóa kinh tế không khéo cũng sẽ là cách đổi màu da cả
những chủ nhân ông lẫn thợ thuyền lao động. Mối nguy này c̣n trở nên
trầm trọng khi đang sẵn có những người Việt xem kinh tế thị trường
như một con ngựa thành Troy để diễn biến ḥa b́nh, và những kẻ tham
lam ngây thơ đang lắp bắp như qủy ám rằng giàu có là vinh quang, làm
giàu cách nào cũng được miễn là giàu.
Đă đến lúc
người Phật tử nh́n vào một thực tế là trong khi thế giới đang nh́n
Phật pháp như một lối thoát cho những bế tắc thời đại th́ một số
quốc gia đại đa số dân chúng là Phật tử cũng đă và đang gặp phải
những tế tắc khủng hoảng dai dẳng hay để cho các tôn giáo khác tung
hoành thao túng như Sri Lanka, Nepal, Myanmar, Thái Lan hiện nay,
hoặc Hàn Quốc sau chiến tranh Nam Bắc 1950-1953, Đài Loan sau khi
chính quyền Tưởng giới Thạch tái phối trí trên ḥn đảo này hay
Campuchia thời Pol Pot. Phật tử và sơn môn tại những quốc gia vừa kể
có trách nhiệm ǵ về t́nh trạng đó không, tại sao đa số công dân của
các nước đó theo đạo từ bi, ḥa b́nh, giác ngộ mà đất nước lại rơi
vào những khủng hoảng đen tối như vậy?
Phật tử Việt Nam có đi
ngược tinh thần nhập thế bố giáo của Phật khi lẩn quẩn ở nơi thị tứ
để làm chùa to Phật nhỏ hay đi show quan hôn tang tế trong đó mỗi
thời kinh, mỗi khóa lễ đều có giá để rồi vô t́nh giao cao nguyên,
giao các vùng ven biển hay nông thôn nghèo khó và Miền Bắc nặng về
tín ngưỡng cho thiên hạ mặc sức bóp méo vo tṛn bằng những tín điều
huyền hoặc huyễn mị. Mặt khác, có những Phật tử viện những lư do thế
trị để trùm chăn đợi cho đến khi có dân chủ tự do đă mới bắt tay vào
Phật sự. Dân chủ là một phương thức hữu hiệu để vận động quần chúng
tham gia đóng góp công sức vào những việc lợi ích cho gia, nhưng
trong khi vận động dân chủ th́ cũng phải biết đặt câu hỏi
tự do dân chủ để làm ǵ?
cho ai?
GIẢI HOẶC
Về phương
diện công quyền cũng như tư doanh, guồng máy càng lớn th́ tội phạm
càng lớn, guồng máy càng lớn th́ vai tṛ ư thức cá nhân càng quan
trọng. Cách chống lại sai trái và tội phạm hữu hiệu là triển khai
đạo đức cá nhân, khuyến thỉnh cá nhân làm tốt, bất chấp ư thức hệ,
bất chấp chính trị.
Trong cơn
sốt hội nhập kinh tế thị trường, người ta có thể lầm tưởng rằng kinh
tế thị trường hay kinh tế toàn cầu là một rừng rú phi đạo đức, chỉ
có năng xuất, tổng sản lượng, lợi nhuận là đáng kể. Nói thế khác,
đạo đức là chuyện lạc hậu. Nước Mỹ là nước giàu nhất thế giới, mang
công mang nợ nhiều nhất thế giới. Nước Mỹ cũng là nước có nhiều tỷ
phú nhất thế giới. Trong 100 người giàu nhất th́ Mỹ chiếm hết 36. Và
hai người giàu nhất nước Mỹ và cũng là giàu nhất nhân loại là
William Gates 50 tuổi của công ty Microsoft với $US50 tỷ, và Warren
Buffett 75 tuổi của công ty bảo hiểm Berkshire Hathaway với $US42 tỷ
tài sản, đă
bỏ ra một
người 29,2 tỷ [Gates] một người 37 tỷ [Buffett] không phải để mua
thị trường kiểu Australia mua thị trường nông phẩm Iraq, hoặc để mua
phiếu vào các cơ quan công quyền, hay để chạy án mà để chống nghèo
đói, chống bệnh tật trong các nước nghèo, nhất là chống HIV, sốt rét
rừng, ho lao, hoặc để cấp học bổng cho học sinh nghèo hiếu học, đẩy
mạnh giáo dục tin học hay phát triển thư viện công cộng ở nội địa
Mỹ. Nước Mỹ mang tiếng là rừng rú tư bản nén bạc đâm toạc tờ giấy
nhưng cũng là nước nuôi dưỡng được những áp lực đạo đức đủ mạnh để
bỏ tù Phó Tổng Thống [Spiro Agnew] và bắt Tổng Thống phải từ chức
[Richard Nixon] hay nửa đường đứt gánh công danh [Lyndon Johnson].
Đứng sau
thế giàu mạnh của Mỹ là Trung Quốc. Chính quyền Trung Quốc đang phải
quay về đạo đức truyền thống để tự cứu, sau gần một phần tư thế kỷ
cất cánh và sau khi đă tử h́nh hàng năm khoảng 10.000 người đa số v́
tội tham nhũng, trốn thuế, ăn cắp xăng dầu [theo báo The Independent
ngày 8/11/2005] nhưng Trung Quốc vẫn lao đao bấn loạn v́ nạn bất
công xă hội, tham nhũng, hối mại quyền thế, cách biệt biệt giữa
thiểu số có quyền có của và đa số tay làm hàm nhai. Thông tấn xă AP
loan tin, ngày 15/3/2006 Chủ Tịch Hồ cẩm Đào đă công bố trước Quốc
dân Đại hội một bảng liệt kê 8 điều nên và không nên làm cho toàn
dân Trung Quốc noi theo. Tám điều đó là:
-Yêu thương
chứ không làm hại tổ quốc,
-Phục vụ
chứ không sách nhiễu nhân dân,
-Đề cao
khoa học, chứ không chịu dốt nát mù quáng
-Hăng say
lao động, chứ không lười biếng, ngại khó ngại khổ
-Tương
thân, giúp đỡ nhau, chứ không v́ lợi mà hại kẻ khác
-Liêm khiết
và tín nghĩa, chứ không để lợi lạc mê ám lương tri
-Kỷ luật và
tôn trọng luật pháp, chứ không hỗn loạn phi pháp
-Sống đạm
bạc và phấn đấu không ngừng, chứ không ngụp lặn trong bùn nhơ xa hoa
khoái lạc.
Bích chương
vĩ đại ghi tám điều này đă được trưng bày chót vót trên quảng trường
Thiên An Môn, không nhắc ǵ đến Khổng Mạnh mà cũng chẳng nói đến
những lời dạy của lănh tụ Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu B́nh như
thường lệ. Ngôn từ chính trị quanh co lắc léo không đi vào ḷng
người, không đi vào tim óc lớp trẻ tương lai của đất nước nữa. Phải
nói thật, nói thẳng, trắng đen rơ ràng.
TẠM KẾT
LUẬN
MỘT VÀI
ĐIỀU CẦN XÉT
Quá tŕnh
hiện đại hóa đạo Phật khởi từ những năm 1930, cụ thể là cuộc vận
động cho b́nh đẳng tôn giáo và bảo vệ tín đồ năm 1963, đạo Phật bất
đắc dĩ tự đặt cho ḿnh một trách nhiệm thế trị nặng nề là góp phần
vận động độc lập quốc gia, ḥa b́nh dân tộc và cách mạng xă hội.
Độc lập,
ḥa b́nh thống nhất đă hiện thực, Phật sự trước mắt là vận dụng tín
đồ gánh vác trách nhiệm thế trị như một công dân để góp phần vào
cuộc cách mạng xă hội đúng với tinh thần Lục Ḥa và Tứ Nhiếp Pháp.
Cho nên, muốn nhắm mắt lo chùa ḿnh thôi, lo cho đệ tử ḿnh thôi
cũng không phải là dễ. Mà mở mắt ra th́ chắc thế nào chư tôn túc
cũng thấy và nghe sáu ước nguyện này.
I. Đổi mới
phương cách truyền đạt Phật pháp và hành Phật đạo. Nếu thành trụ dị
diệt trước sau vẫn là một, th́ cứu cánh giác ngộ trước sau cũng như
một. Nhưng phương thức thấm nhập kinh tạng và tu hành thay đổi theo
thời gian và hoàn cảnh. Ở bầu th́ tṛn, ở ống th́ dài, tu trong bầu
đương nhiên phải khác tu trong ống. Nhu cầu truyền đạt Phật pháp do
đó cũng phải đổi mới, phải nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân.
Đạo Phật Việt Nam hôm nay đă có sẵn
ngôn từ cho thế hệ trai gái chào đời từ khi đất nước ḥa b́nh thống
nhất nghe lọt tai chưa? Đạo Phật Việt Nam hôm nay đă nói được cho
thế hệ trai gái đang ngụp lặn trong ḍng thác toàn cầu hóa phương
thức suy nghĩ và hưởng thụ, trong đó mọi giá trị đều được quy ra
thành lượng, được đo bằng số chưa? Đó là những câu hỏi cấp thiết cho
chư tôn túc, cho các Phật Học Viện và các Viện nghiên cứu Phật giáo.
Trong chiều hướng này, Thầy Nhất Hạnh đă cập nhật hóa Nói Với
Tuổi Hai Mươi thành Nói
Với Tuổi Hai Mươi Thế Kỷ 21.
Đạo Phật đề
cao khế cơ khế lư, nhưng khế cơ khế lư không phải là tu dùm, mà phải
tạo điều kiện và khuyến khích mỗi người tự tu, tự làm tṛn trách
nhiệm công dân, tham gia các sinh hoạt thế trị. Cụm từ ‘làm chính
trị’ không phải là điều húy kỵ. Trong ư thức tự giác nhi giác tha,
chủ trương một người v́ mọi người của Xă Hội chủ nghĩa là một lư
tưởng thế trị, không phải là điều đáng sợ mà là điều đáng có, đáng
xiển dương. Phật tử tại gia cũng như xuất gia có quyền và có trách
nhiệm tham chính hay đối chính quyền tùy cơ duyên. Nhưng hợp tác
phải cho ra hợp tác, đối lập phải cho ra đối lập v́ hai lư do.
1. Chế độ nào cũng cần có một ư thức hệ để cai trị. Việt Nam không
c̣n trông chờ ǵ vào ư thức hệ của Nga hay Trung Quốc, trong khi tư
tưởng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh bắt nguồn từ hứng khởi yêu nước chứ
không phải ư thức hệ. Tinh thần Lục Ḥa và Bát Chánh Đạo cũng như
dân tộc tính của đạo Phật và truyền thống ḥa hợp cộng tồn của Tam
Giáo sẽ là ṇng cốt cho một ư thức hệ Việt Nam. Ư thức hệ đó, hợp
với tinh thần tự giác nhi giác tha hay Phật pháp bất ly thế gian
pháp, không đối nghịch với tinh thần Xă Hội chủ nghĩa mà đề cương
chính yếu là một người v́ mọi người.
2. Hễ khi nào người Việt đi đúng đường hướng dân tộc th́ thành công,
khi nào hấp tấp chạy theo người ngoài th́ thế nào cũng không tránh
khỏi cập lụy tiêu cực. Hồn thiêng sông núi đang c̣n nên trong số
những thành phần hữu trách đương quyền, không thiếu ǵ người thấy
được điều đó, nhờ vậy mới có cởi trói, mở cửa, đổi mới, hiện đại
hóa. Các hàng Phật tử đương nhiên ủng hộ những cố gắng làm cho chính
quyền đến gần với quần chúng, làm cho người Việt lưu vong gần với
quê hương, và làm cho đạo Phật với chính quyền gần nhau hơn trên căn
bản dựng nước và giữ nước và nhắc nhở nhau tránh được những sai
trái, có thể làm giảm hiệu năng của một chính quyền của dân, do dân
và v́ dân.
Đạo Phật
không nhất thiết đ̣i phải được công nhận như quốc giáo. Nhưng đạo
Phật phải cố gắng biến sinh hoạt thành nề nếp toàn quốc. Như nề nếp
ăn chay, hay quan hôn tang tế. Một số ngày trọng đại của đạo Phật
như Phật Đản, Thành Đạo, Vu Lan, ngày HT Quảng Đức tự thiêu... phải
được coi là lễ chung. Phải có một Đại Học, một Viện Nghiên Cứu, một
Đạo Tràng có tầm cỡ quốc gia và quốc tế và một hệ thống thư viện
Phật học toàn quốc...
II . Phật
Học Viện và đào tạo tăng tài. Pḥng bệnh hơn chữa bệnh, công việc
trang nghiêm thanh tịnh sơn môn tùy thuộc phần lớn vào khởi điểm
thường được gọi là thu nhận và đào tạo tăng tài. Gánh vác trách
nhiệm hướng dẫn tu học và đào tạo tăng tài là các Phật Học Viện. Và
sau đây là bốn câu hỏi được đặt ra liên quan đến các Phật Học Viện.
Thứ nhất,
chương tŕnh tu học thiết thực giúp ǵ cho chính cá nhân nhà tu về
giới định huệ?
Thứ hai,
chương tŕnh tu học chuẩn bị ǵ cho nhà tu nhập thế hành đạo?
Thứ ba,
chương tŕnh tu học chuẩn bị được ǵ cho lớp thanh niên Tăng tự lực
để khỏi tùy thuộc đàn na tín thí, và giúp được ǵ cho những người
nửa đường đứt gánh phải hoàn tục có phương tiện mưu sinh?
Thứ tư,
chương tŕnh tu học giúp được ǵ cho hàng bán thế xuất gia đă chán
sự đời và muốn quay về nương cửa Phật để tu tâm và hành Phật sự? Nói
thế khác, đối với hàng bán thế xuất gia này, phải làm ǵ để giúp họ
hấp thu, để huấn luyện, để tận dụng kinh nghiệm và quyết tâm của họ
vào công tác hành đạo. Chương tŕnh này cũng cần cho những Phật tử
tại gia hữu tâm đối với Phật sự nữa.
III. Củng
cố và cải tổ sinh hoạt của Gia Đ́nh Phật Tử cho phù hợp với tâm tư,
nề nếp suy nghĩ cũng như nhu cầu tu học của lớp trẻ hôm nay. Thanh
thiếu niên thế kỷ 21 không phải là thanh thiếu niên của thập niên 30
thế kỷ trước là thời GĐPT được khai sinh. Cải tổ sinh hoạt của GĐPT
cũng là một mục tiêu của đổi mới phương cách truyền đạt Phật pháp và
hành Phật đạo như đă nói trên.
IV. Định
chế hóa sinh hoạt Phật sự của Ni bộ, cư sĩ và thành phần bán thế
xuất gia.
Các tôn
giáo khác đang trăi qua cơn khủng hoảng nữ quyền, các nữ tín hữu
Thiên Chúa giáo đang đ̣i làm Linh Mục, và mai đây sẽ đ̣i làm Giám
Mục, Hồng Y, Giáo Hoàng, trong khi các nữ tín đồ Hồi giáo th́ đ̣i
b́nh quyền với nam giới trong gia đ́nh và ngoài xă hội. Bao giờ th́
phong trào này lan đến các Sư Bà, Sư Cô? Công lao và những hy sinh
đứng đầu gió của các tầng lớp Tỳ Kheo Ni trong bất cứ phong trào,
chiến dịch nào của Phật giáo trước nay là điều không thể quên. Có
nên để cho họ phải mơi ṃn âm thầm chờ một A Nan tái sinh không?
Đóng góp
của thành phần cư sĩ hữu tâm hiếu hoạt và thành phần bán thế xuất
gia trong ngót nửa thế kỷ chấn hưng và dấn thân thế trị của Phật
giáo là điều đáng kể không phải bây giờ mà ngay cả trong thánh chúng
và các giáo đoàn nguyên thủy thời Phật c̣n tại thế.
Anh hùng
đáo vận bán quy Tăng. Có chương tŕnh vận dụng và khuyến khích các
cựu quân nhân, các cán bộ công nhân viên và những người từng hành
nghề tư đă nợ tang bồng trang trắng vổ tay reo tham gia sinh hoạt
Phật sự, cố vấn cho các đoàn thể Phật tử, nhất là Phật sự địa phương
của các Khuôn Hội, các Niệm Phật Đường.
V. Phát
triển và định chế hóa hệ thống Khuôn Hội và các Niệm Phật Đường
trong khuôn khổ sinh hoạt của giáo hội địa phương. Khuôn hội và Niệm
Phật Đường phải thiết thực tham gia quá tŕnh tuyển chọn các cấp
lănh đạo Giáo hội.
VI. Thanh
lư môn hộ, trang nghiêm tăng già. Theo nguyên tắc, đây là việc riêng
của từng tôn phái, từng chùa cũng như riêng của từng cá nhân biết rơ
khéo tu th́ nổi, vụng tu th́ ch́m. Với kẻ xuất gia, nhất là các bậc
trưởng thượng trụ tŕ, lo chuyện chùa ḿnh đă nặng, sức đâu mà lo
chùa khác. Nhưng v́ nhu cầu khế cơ khế lư mà đạo Phật phải hiện tồn
như một định chế quốc gia nên trang nghiêm thanh tịnh cửa chùa trở
thành một trách nhiệm chung của chư tôn lănh đạo cũng như riêng của
mỗi Phật tử được thừa hưởng tăng đức. Trách nhiệm đó đang càng ngày
càng thúc bách, nhất là khi đất nước đă ḥa b́nh thống nhất, nhu cầu
tâm linh luân đạo ngày càng gia tăng.
Tăng già là một trong tam bảo, v́
quyết tâm tu hành, v́ thành quả tu chứng, v́ tác dụng gương sáng cho
đời noi theo. V́ lư do đó, thanh lư môn hộ, trang nghiêm tăng già là
điều phải cảnh tỉnh và bảo trọng. Môn hộ được thanh tịnh trang
nghiêm tức là tạo điều kiện cho lớp trẻ có cơ duyên quay vào để tu
tập, quay ra để gánh vác Phật sự. Để thu hút những Phật tử tại gia
hữu tâm hiếu hoạt, cũng như để tận dụng những thành phần bán thế
xuất gia.
Thanh lư môn hộ và trang nghiêm tăng
già cũng cần thiết v́ hạnh nguyện từ bi và tự giác nhi giác tha nên
Sơn Môn phải ‘phồn hoa ngă bất hoài vinh nhục’ như Thái Hư Đại Sư
từng thú nhận. Nhưng hễ khi nào Sơn Môn đi quá sát với quyền lực thế
trị th́ hàng ngũ sẽ bị hăm dọa vong thân phân hóa. Quyền lực hấp dẫn
quyền lực, thần quyền muốn lấn lướt thế quyền, cha nhà thờ cũng muốn
làm cha thiên hạ. Cách mạng Pháp 1789 là một cố gắng chấm dứt tệ
trạng đó, nhưng chưa hẳn là đă triệt hẳn tệ trạng đó. Sơn môn phải ư
thức rơ điều đó khi tiếp cận với thế quyền để khỏi trở thành nạn
nhân bất đắc dĩ của cả tệ trạng mượn hoa héo để cúng Phật, lẫn tệ
trạng mượn Phật để cúng những tay tổ tham lam, gian manh, tàn ác. Để
tránh t́nh trạng vong thân phân hóa ấy, có lẽ phải chú trọng đến hai
điều.
1. Phân
định lằn mức đạo đời, sơn môn và thế cuộc. Trong phạm vi tự viện,
Tăng già là trưởng tử Như Lai khuôn vàng thước ngọc, ngoài tự viện
th́ mọi người là công dân, mỗi người một phiếu như nhau, chứ không
phải bạ ai cũng kêu con xưng thầy! Sơn môn không phải là kẻ giữ ch́a
khóa niết bàn, cũng như đă đến lúc phải dứt hẳn thành kiến một phiếu
Tăng bằng ba phiếu Ni.
2. Sơn Môn
phải hợp với thành phần cư sĩ hiếu hoạt để tạo điều kiện cho sơn môn
khỏi phải bận tâm về chuyện thế trị và để cho các hàng Phật tử tại
gia b́nh thường theo đuổi tâm nguyện tu chứng tự giác nhi giác tha
hay dấn thân để cùng giác ngộ với đồng bào đồng loại.
Xuống tóc, mặc áo cà sa, treo bảng
hiệu thiền thất, tự viện, am miễu th́ cũng coi như một thành phần
sơn môn. Ai cũng có quyền tu, nhưng nếu tu không ra tu, nếu tu trở
thành một h́nh thức kinh doanh chùa to Phật nhỏ th́ có lẽ đến một
lúc nào đó phải đặc vấn đề dẹp chùa nhỏ tạo dựng chùa lớn, cấp độ
điệp cho hàng xuất gia và xem chuyện cúng vái dâng sao giải hạn bói
toán khai trương cầu an cầu tài của một số thầy cúng có từ bao năm
nay... là những h́nh thức kinh doanh và phải theo đúng những quy
định kinh doanh.
Không có ǵ phải lo ngại, đạo Phật
càng hưng thịnh th́ quốc gia càng ổn định, bởi đạo Phật có lúc bị tố
là cầu an bất lực nhưng chưa bao giờ bị lên án là bán nước hay làm
tay sai cho ngoại nhân.
Chỉ có sư tử trùng thực sư tử nhục.
Hưng thịnh hay suy vong là tùy các hàng Phật tử, nhất là Sơn môn
tăng già, đệ tam Tăng bảo.
Notesa
Source: Dao Phat Ngay Nay |
|