|
Alexandre de Rhodes - Đối luận với tác giả Hoàng Hưng
Bùi
Kha
Tác giả Hoàng
Hưng, trong bài viết “Những
băn khoăn từ lá thư trả lời của ông Nguyễn Hoà”
trên talawas ngày 1.4.2006, đă đề cập nhiều chi tiết thú vị và oái
oăm về t́nh trạng dịch thuật ở Việt Nam hiện nay.
Tuy nhiên, trong bài viết đó, có một đoạn văn không những liên quan
đến vấn đề trích dịch mà c̣n mở lại một vấn đề học thuật tưởng đă
chấm dứt: Vấn đề “Công và tội” của linh mục Alexandre de Rhodes.
Ông Hoàng Hưng viết nguyên văn như sau:
“Chuyện thứ nhất: Một sai lầm nghiêm trọng đă xảy
ra trong lịch sử văn hoá Việt Nam mà nguyên do chỉ tại một trích dẫn
có nguồn gốc hồ đồ.
Chuyện này xin kể đại khái, không đảm bảo chính xác về lời dẫn
hay năm tháng, v́ tôi đang ở rất xa nhà, không có trong tay tư liệu
để trích lục, song đảm bảo chính xác về nội dung. Số là khoảng năm
1992 (1993?) trong khi làm công việc biên tập trang văn hoá văn nghệ
của báo Lao động Chủ nhật, tôi nhận được một bài viết đặt vấn
đề hoài nghi tính xác thực của một câu trích dẫn Alexandre de Rhodes
đă lưu hành suốt mấy chục năm trời ở miền Bắc trong hầu hết công
tŕnh viết về lịch sử xâm chiếm Việt Nam của thực dân Pháp. Các nhà
nghiên cứu lịch sử của ta khẳng định Alexandre de Rhodes đă viết (đại
ư): Chúng ta là những người lính... chúng ta có bổn phận đi mở
mang bờ cơi. Quả là một dẫn chứng tuyệt vời cho nhận định các nhà
truyền giáo Gia tô là những kẻ mở đường cho các đạo quân xâm lăng!
Câu trích này thậm chí đă được kẻ lên bảng treo trong Bảo tàng Lịch
sử ở Hà Nội. Và ác thay, nó là lư do chính khiến cho tượng, bia kỷ
niệm, tên phố của vị công thần với văn hoá Việt Nam (người góp phần
quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữ) đă bị xoá bỏ. Từ bài viết trên, anh
em trong ban văn hoá văn nghệ báo Lao động đă bỏ công sưu tầm
tài liệu, cuối cùng biết được rằng câu trích tai hại kia là rút từ
cuốn hồi kư của một thuyền trưởng người Pháp nào đó, trong khi t́m
mỏi mắt không thấy có trong bất kỳ bản viết nào của chính Alexandre
de Rhodes! Và người có công phát hiện câu trích ấy là một nhà nghiên
cứu tên tuổi, các "nhà" khác sau đó cứ "ôtômatích" trích lại như một
sự thật hiển nhiên. Được biết về sau vị có công đó lên tới chức Viện
trưởng Viện Tôn giáo! Tôi cho công bố bài viết trên, bản thân lại
viết một bài phân tích rơ việc trích dẫn hồ đồ đă nêu (đồng thời
chứng minh câu trích đă dỏm lại c̣n bị dịch sai nữa chứ!), rồi viết
thư đề nghị Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Nghiên cứu Lịch sử,
cho ư kiến. Ít lâu sau, báo Lao động đă đăng bài viết của
Giáo sư nêu công lao của Alexandre de Rhodes (mà không hề nêu tội).
Đó có lẽ là văn bản chính thức đầu tiên "phục hồi nhân phẩm" cho ông
cố đạo này. Tiếp đó, ông phó tổng biên tập của tôi thông báo Ban Bí
thư Trung ương Đảng yêu cầu cung cấp toàn bộ tư liệu liên quan đến
Alexandre de Rhodes. Chúng tôi đă gửi lên gần 1000 trang photocopy
khổ A4, trong đó phần quan trọng do các đồng nghiệp ở báo Công
giáo và Dân tộc cung cấp.”
Trước khi góp ư với ông Hoàng Hưng, tôi xin có hai nhận xét và một
đề nghị nhỏ sau đây:
V́ tác giả đă cẩn thận cho biết
rằng “Chuyện này xin kể đại khái, không đảm bảo chính xác về lời
dẫn hay năm tháng, v́ tôi đang ở rất xa nhà, không có trong tay tư
liệu để trích lục, song đảm bảo chính xác về nội dung”, nên
những góp ư của chúng tôi hôm nay cũng xin “được” nằm trong cái
khung đó. Và sẽ được ông Hoàng Hưng điều chỉnh hay bổ sung phần viết
của ông sau này.
Theo ông Hoàng Hưng, sau khi nhận
được bài viết của một “độc giả” báo Lao động hoài nghi về
tính trung thực của một câu trích (và dịch) được gán cho Alexandre
de Rhodes, “anh em trong ban văn hoá văn nghệ báo Lao động
đă bỏ công sưu tầm tài liệu” và “t́m mỏi mắt không thấy có
trong bất kỳ bản viết nào của chính Alexandre de Rhodes!”. Ông
cũng cho biết rằng “người có công phát hiện câu trích ấy là một
nhà nghiên cứu tên tuổi”, và sau nầy, “vị có công đó lên tới
chức Viện trưởng Viện Tôn giáo!”. Tôi tự hỏi sao báo Lao động
(và riêng cá nhân ông Hoàng Hưng), ngay từ đầu, không liên lạc thẳng
với tác giả (hay nhiều tác giả) của câu trích (và dịch) đó để được
xác nhận nguồn gốc trích dịch, trước khi... bỏ công sưu tầm
và t́m mỏi mắt! (nhưng có t́m trong cuốn Hành tŕnh và
truyền giáo của A. de Rhodes không?) Như vậy, vừa khỏi lăng phí
th́ giờ và tiền bạc, nhưng quan trọng hơn cả, vừa tôn trọng và chứng
tỏ được thái độ công bằng và khách quan với cả hai đương sự, “người
dịch thuật” lẫn “kẻ hoài nghi”.
Trong đoạn trích dẫn ở trên, ông
Hoàng Hưng có cho biết “Câu trích này thậm chí đă được kẻ lên
bảng treo trong Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội” và “cuối cùng biết
được rằng câu trích tai hại kia là rút từ cuốn hồi kư của một thuyền
trưởng người Pháp nào đó”. Là một người quan tâm đến cố đạo
Alexandre de Rhodes và chữ Việt La-tinh hoá (mà rất nhiều người Việt
chúng ta từ lâu quen gọi là Quốc ngữ), tôi đề nghị ông Hoàng
Hưng, khi về lại nhà để có trong tay tư liệu để trích lục,
công bố nguyên văn câu ở Bảo tàng Lịch sử Hà Nội và nguồn gốc cuốn
hồi kư cũng như tên ông thuyền trưởng người Pháp nào đó. Xin nói rơ:
đề nghị này hoàn toàn v́ nhu cầu học thuật chứ không v́ nghi ngờ
tính trung thực của tác giả Hoàng Hưng.
Bây giờ tôi xin góp ư:
1. Tạm thời, về mặt trích dẫn, tôi xin tiếp cận bằng hai giả
thuyết: (a) Có hai câu viết khác nhau đến từ hai tác giả khác nhau,
nhưng nội dung th́ hao hao giống nhau. Một của cố đạo A. de Rhodes,
và một của ông thuyền trưởng người Pháp. Và (b), chỉ có một câu của
cố đạo A. de Rhodes mà thôi. Giả thuyết nào đúng có lẽ phải chờ ông
Hoàng Hưng công bố tài liệu chúng ta mới đối chiếu và kết luận được
tính chính xác của câu trích và dịch ở Bảo tàng Viện Hà Nội?
Sở dĩ cố đạo A. de Rhodes hiện diện trong cả hai giả thuyết (giống
ông thuyền trưởng hay chính A. de Rhodes), mà từ và do đó ông Hoàng
Hưng đă mỉa mai gọi là “lưu hành suốt mấy chục năm trời ở miền
Bắc trong hầu hết công tŕnh viết về lịch sử xâm chiếm Việt Nam của
thực dân Pháp” và “là một dẫn chứng tuyệt vời cho nhận định
các nhà truyền giáo Gia tô là những kẻ mở đường cho các đạo quân xâm
lăng!” là v́ chính ông cố đạo này chứ không phải ai khác,
đă là tác giả của một câu viết trong cuốn Divers voyages et
missions (Hành tŕnh và truyền giáo, bản dịch của linh
mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Ủy ban Đoàn kết Công giáo Thành phố
Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1994). Nguyên văn câu viết ở trang 263 như
sau:
“Tôi tưởng nước Pháp là một nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp
có thể cung cấp cho tôi mấy chiến sĩ đi chinh phục toàn
cơi Đông phương, đưa về qui phục Chúa Kitô và nhất là tôi sẽ t́m
được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo
đoàn. Với ư đó, tôi rời bỏ Rôma ngày 11 tháng 9 năm 1652 sau khi tới
hôn chân Đức Giáo hoàng.”
Ngoài ra, ở trang 264, A. de Rhodes c̣n viết tiếp:
“Trên đường từ Lyon tới Paris tôi nghiệm thấy có sự quan pḥng
rất đặc biệt của Chúa tôi vẫn coi như kim chỉ nam và mẫu mực. Để ra
mắt ở Pháp tôi cần có thiên thần hộ vực để đưa tôi lọt vào triều
đ́nh vua cao cả nhất hoàn cầu. Thế là tôi gặp ở Roanne đức Henri
de Maupa, giám mục thành Puy, tu viện trưởng Saint Denis, đệ nhất
tuyên úy của Hoàng Hậu. Ngài có nhă ư cùng đi với tôi trong cuộc
hành tŕnh nhỏ bé nầy.” (Chữ đậm là của BK.)
Ngoài chuyện linh mục Hồng Nhuệ, theo tôi, có thể v́ t́nh cảm tôn
giáo mà cố t́nh dịch sai nguyên bản hai chữ “plusieurs soldats” của
A. de Rhodes thành “mấy chiến sĩ” (thay v́ “nhiều lính chiến”)
tại v́ trong tiếng Pháp, “plusieurs” được hiểu là nhiều, c̣n
muốn hiểu là mấy th́ A. de Rhodes đă dùng chữ “quelque”, và
cụm từ “la conquête de tout l’Orient” Hồng Nhuệ cũng cố ư dịch và
chú thích sai là “Nước cha trị đến” mà đúng nghĩa phải dịch
là “Thống trị toàn cơi Đông phương”. Chúng ta c̣n thấy thêm hai điều:
Câu “mấy chiến sĩ đi chinh phục
toàn cơi Đông phương” của A. de Rhodes có vẻ... hao hao giống
câu “Chúng ta là những người lính... chúng ta có bổn phận đi mở
mang bờ cơi” mà ông Hoàng Hưng nhớ mang máng khi đọc tại Bảo
tàng Lịch sử Hà Nội.
Nội dung của phần trích dẫn ở trang
264 của A. de Rhodes (nhờ đệ nhất tuyên úy của Hoàng Hậu
vận động để đưa tôi lọt vào triều đ́nh vua) th́
hoàn toàn phù hợp với nhận định đúng đắn rằng “truyền giáo đưa
đến xâm lăng”, nhưng ông Hoàng Hưng th́ lại mỉa mai rằng “là
một dẫn chứng tuyệt vời cho nhận định các nhà truyền giáo Gia tô là
những kẻ mở đường cho các đạo quân xâm lăng."
2. Theo ông Hoàng Hưng, v́ xác định sai nguồn trích dẫn (đáng
lẽ là từ hồi kư của thuyền trưởng Pháp nào đó th́ lại nhầm thành của
A. de Rhodes) nên “ác thay, nó là lư do chính khiến cho tượng,
bia kỷ niệm, tên phố của vị công thần với văn hoá Việt Nam (người
góp phần quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữ) đă bị xoá bỏ”.
Tuy nhiên, A. de Rhodes có phải là người góp phần quan trọng tạo
ra chữ Quốc ngữ không? Ta hăy để chính A. de Rhodes tự cải chính
lấy điều mà hậu thế chúng ta, v́ vô t́nh hay có hậu ư nào đó, cứ sai
lầm gán cho ông. Trong mấy ḍng đầu của cuốn Từ điển Việt-Bồ-La
(Nhà xuất bản Khoa học Xă hội, Thành phố Hồ Chí Minh, 1991, trang 3,
phần Việt ngữ), ông viết như sau:
“Quyển từ điển tam ngữ này, gồm tiếng An Nam, Bồ Đào Nha và La
tinh tôi đặt nó vào trong tay và để trước mắt bạn được, là nhờ vào
sự tài trợ của Thánh bộ Truyền bá Đức tin...
Tuy nhiên trong công việc nầy (soạn chữ quốc ngữ, BK)
ngoài những điều mà tôi học được nhờ chính người bản xứ trong
suốt gần mười hai năm thời gian mà tôi lưu trú lại hai xứ Cô-sinh
(Đàng Trong, BK) và Đông Kinh (Đàng Ngoài, BK) th́
ngay từ đầu tôi đă học với Cha Francisco de Pina người Bồ
Đào, thuộc Hội Ḍng Giê-su rất nhỏ bé chúng tôi, là thầy dạy tiếng,
người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng nầy, và
cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng phương ngữ đó mà
không dùng thông ngôn, tôi cũng sử dụng những công tŕnh của nhiều
Cha khác cùng một Hội Ḍng, nhất là của Cha Gaspar de Amaral và
Cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đă biên soạn mỗi ông một cuốn từ
điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam, ông sau bằng tiếng Bồ Đào,
nhưng cả hai ông đều chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông tôi
c̣n thêm tiếng La-tinh theo lệnh các Hồng y rất đáng tôn...”
(phần nhấn mạnh là của BK).
Rơ ràng A. de Rhodes không phải là người sáng chế ra chữ Việt La-tinh
hoá, lại càng không phải là tác giả hoàn toàn của cuốn Từ điển
Việt-Bồ-La (được Vatican xuất bản năm 1651), v́ ông chỉ thêm
tiếng La-tinh mà thôi.
Cho nên, dựng tượng, xây bia, đặt tên phố cho Alexandre de Rhodes,
người góp phần quan trọng như ông Hoàng Hưng đánh giá, theo
tôi, là phản học thuật, không có sử liệu. Nếu cần phải xác nhận
người có công với chữ Việt La-tinh hoá, th́ đó là Francisco de Pina,
người thật sự có công nghĩ ra một văn tự hoàn toàn mới bằng mẫu tự
La-tinh. Tiếp sau đó là Gaspar de Amaral (Từ điển An Nam – Bồ Đào
Nha) và Antonio Barbosa (Từ điển Bồ Đào Nha–An Nam và
Nhập môn Tiếng Đàng Ngoài – Munuducio Ad Linguam Tunkinensem),
hai người có công kiện toàn văn tự này. C̣n A. de Rhodes chỉ dựa vào
đó để góp công bồi đắp thêm mà thôi.
Ngoài ra, để làm rơ thêm, tôi xin đặt một giả thuyết lịch sử phản
diện: Nếu gần 200 năm sau khi các vị này chế ra chữ Việt La-tinh hoá
đó, không phải là thực dân Pháp mà “thực dân Bồ Đào Nha” xâm chiếm
và đặt ách đô hộ lên nước ta, th́ ông Hoàng Hưng nghĩ chính quyền
thực dân Bồ Đào Nha sẽ dựng tượng, xây bia, đặt tên phố cho ai? Hỏi
như thế để ông Hoàng Hưng thấy rằng việc Pháp vinh danh A. de Rhodes
như người sáng chế ra một văn tự mới th́ không phải lúc nào cũng
thuần văn hoá, thuần lịch sử đâu.
Tôi ngờ rằng chính quyền thực dân Pháp lúc bấy giờ vinh danh A. de
Rhodes là c̣n v́ hai lư do: Một là để ghi ơn vai tṛ vận động đặc
biệt của vị cố đạo này trong quá tŕnh khai sinh chế độ thực dân tại
Việt Nam. Và hai là biểu diễn một chiến thắng văn hoá trong cuộc
tranh giành ảnh hưởng bá quyền và thần quyền giữa hai nước Pháp và
Bồ trong thế kỷ thứ XVI.
3. Tuy nhiên, phần góp ư số 2 ở trên là chỉ để tranh biện với
ông Hoàng Hưng về “công” của A. de Rhodes mà thôi. Tại v́ về mặt học
thuật, ít nhất là cho đến nay (2006), người đầu tiên thật sự sáng
nghĩ ra chữ Việt la-tinh hoá một cách quy mô th́ đă được xác định rơ
ràng: Không phải là hai ông Gaspar de Amaral và Antonio Marbosa nói
trên, lại càng không phải là Alexandre de Rhodes, mà là một giáo sĩ
Bồ Đào Nha khác tên là Francisco de Pina mà A. de Rhodes đă
có nhắc đến nhưng người Việt ta th́ lại... cố t́nh quên.
Tôi xin trích đăng một phần bài viết “Ai là người thật sự sáng chế
ra chữ Quốc ngữ” (Tạp chí Huế, Xưa & Nay số 62 tháng
3-4/2004) của nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương mà chúng tôi, trong
giới hạn của ḿnh, đă kiểm chứng tính trung thực của các dữ kiện:
“Thời Pháp thuộc, người Pháp tuyên truyền rằng giáo sĩ Alexandre
de Rhodes đă có công sáng chế chữ Quốc ngữ. Nhưng theo nghiên cứu
của nhà ngôn ngữ học người Pháp Roland Jacques th́ người có công đầu
nầy chính là giáo sĩ Bồ Đào Nha Francisco de Pina.
Roland Jacques đă bỏ ra hàng chục năm để nghiên cứu vấn đề nầy và
đến cuối năm 1995. ông đă công bố chuyên luận “Công tŕnh của
một số nhà tiên phong Bồ Đào Nha trong lĩnh vực ngôn ngữ học Việt
Nam cho đến năm 1650”. Đến năm 2002, công tŕnh được tái bản có
bổ sung bằng song ngữ Pháp-Anh.
Sau nhiều năm t́m kiếm trong hàng vạn trang viết về Đàng Trong ở
thế kỷ 17-18 c̣n được lưu trữ tại Thư viện Hoàng gia của cung điện
Ajuda ở thủ đô Lisbonne, ông may mắn phát hiện được một bức thư viết
dở, dài 7 trang, của giáo sĩ Francisco de Pina vào đầu năm 1623 gửi
cho khâm sai Jéromino Rodriquez ở Macao, báo cáo về công việc truyền
giáo và Latinh hoá tiếng Việt.
Giáo sĩ Francisco de Pina đến Đàng Trong vào đầu năm 1617, đặt
chân đầu tiên ở Đà Nẵng, sau đó vào giữa năm này, đến truyền đạo ở
cảng thị Hội An. Đầu năm 1618, ông chuyển đến Nước Mặn, Quy Nhơn.
Đến đầu năm 1621, ông quay lại truyền đạo ở Hội An cho đến đầu năm
1625. Giáo sĩ A. de Rhodes đến Hội An năm 1624 và học tiếng Việt
với ông tại đây.
... Trong bức thư viết vào đầu năm 1623 nói trên, Francisco de
Pina đă viết: “Về phần tôi, tôi đă biên soạn một chuyên luận nhỏ về
từ vựng và các thanh của ngôn ngữ này (tức tiếng Việt) và tôi đang
bắt tay viết về ngữ pháp. Tuy nhiên, tôi cũng đă tập hợp được những
cổ tích, thuộc nhiều loại khác nhau, nhằm cung cấp các trích dẫn của
các tác giả để xác minh nghĩa của các từ và các quy tắc của ngữ
pháp, cho đến nay tôi có thể yêu cầu một người nào đó đọc để tôi
phiên dịch sang các chữ Bồ Đào Nha (tức chữ La tinh)... Ngoài ra,
tôi đă có ba bốn cuốn tập hợp các bài viết có lư luận trong số các
bài viết hay nhất mà tôi t́m thấy được ở Vương quốc nầy.”
Những điều Francisco de Pina đă viết trước khi Alexandre de
Rhodes đến Đàng Trong một năm cho thấy ông đă tiến hành việc La tinh
hoá tiếng Việt chậm nhất là vào năm 1622, và đă tạo ra những cuốn
sách viết bằng chữ Quốc ngữ sớm hơn bất kỳ một giáo sĩ Tây phương
nào đến Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài.
... Sau khi người Thầy Francisco de Pina qua đời, các công tŕnh
La tinh hoá tiếng Việt đầu tiên của ông đă vào tay người học tṛ
Alexandre de Rhodes và ông nầy đă mang theo khi ra Đàng Ngoài năm
1627.
... Về việc người Việt có tham gia trong sự phát minh chữ
Quốc ngữ, theo Roland Jacques, gồm hai nhóm: Thứ nhất là giới trí
thức gồm có các thầy đồ, sư săi, các trưởng tông phái (đạo Lăo, đạo
Khổng,...), quan lại hưu trí và sĩ tử là những người giỏi tiếng mẹ
đẻ, am hiểu nền văn hoá dân tộc. Nhóm thứ hai gồm các phiên dịch là
thanh niên giáo dân biết tiếng Bồ Đào Nha. La tinh giúp giáo sĩ
truyền đạo. Và số người Việt nầy phải đông hơn gấp nhiều lần so với
số các giáo sĩ.
... Ngày nay, các nhà ngôn ngữ học hiểu rất rơ nếu các giáo sĩ
phương Tây không được sự hợp tác của người Việt th́ không thể
La tinh hoá tiếng Việt được. Bởi vậy Roland Jacques đă viết: “Chính
cả Pina và các đồng nghiệp đă tập hợp được những người hợp tác có
chất lượng mà nếu không có họ, mọi công tŕnh ngôn ngữ học nghiêm
túc sẽ không thể có được”. Và ông đề nghị: “Cần thiết phải đặt
đúng vị trí việc làm của cá nhân Alexandre de Rhodes trong một công
tŕnh tập thể mà ông chỉ là một trong số nghệ nhân thứ yếu,
trong đó người Bồ Đào Nha và những người cạnh tranh ngang hàng Việt
Nam của họ đă giữ vai tṛ hàng đầu”.
Bài viết nầy của tác giả Nguyễn Phước Tương làm tôi suy nghĩ 2 điều:
Vai tṛ góp phần quan trọng tạo
ra chữ Quốc ngữ của A. de Rhodes mà những người như ông Hoàng
Hưng đang muốn nỗ lực xiển dương th́ cần phải được đánh giá lại cho
đúng. Nhất là nỗ lực đó nhằm "phục hồi nhân phẩm" cho ông cố đạo
này như ông Hoàng Hưng viết, và lại c̣n (hàm ư) muốn dựng tượng,
xây bia, đặt tên phố cho ông ta nữa.
Những khám phá mới của nhà ngôn ngữ
học Roland Jacques được công bố năm 2002 trên toàn thế giới, sau đó
được tác giả Nguyễn Phước Tương thông báo trong nước trễ nhất là năm
2004, thế mà đến năm 2006 (nghĩa là 2 năm sau), ông Hoàng Hưng có vẻ
vẫn lập luận và mang tâm cảnh (mindset) dựa trên những thông tin lỗi
thời của ông từ năm 1992.
4. Như đă viết ở trong phần dẫn nhập và trong góp ư 1, về mặt
học thuật, chúng ta đang chờ đợi ông Hoàng Hưng cho biết xuất xứ của
các tài liệu, và c̣n vấn đề ǵ cần thảo luận thêm không? Tuy nhiên,
dù là giả thuyết nào đúng, th́ bàng bạc khắp bài viết ông Hoàng Hưng
có vẻ như đă đóng chốt một kết luận về công và tội của ông cố đạo
Alexandre de Rhodes này rồi.
Thật vậy, ông đưa ra 4 sự kiện có thật mà ông có vẻ mỉa mai không
bằng ḷng:
a. … tính xác thực của một câu trích dẫn Alexandre de Rhodes đă
lưu hành suốt mấy chục năm trời ở miền Bắc trong hầu hết công tŕnh
viết về lịch sử xâm chiếm Việt Nam của thực dân Pháp
b. ... Quả là một dẫn chứng tuyệt vời cho nhận định các nhà
truyền giáo Gia tô là những kẻ mở đường cho các đạo quân xâm lăng!
c. ... Câu trích này thậm chí đă được kẻ lên bảng treo trong Bảo
tàng Lịch sử ở Hà Nội. Và ác thay, nó là lư do chính khiến cho
tượng, bia kỷ niệm, tên phố của vị công thần với văn hoá Việt Nam
(người góp phần quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữ) đă bị xoá bỏ.
d. ... Và người có công phát hiện câu trích ấy là một nhà nghiên
cứu tên tuổi, các "nhà" khác sau đó cứ "ôtômatích" trích lại như một
sự thật hiển nhiên. Được biết về sau vị có công đó lên tới chức Viện
trưởng Viện Tôn giáo!
Qua 4 câu đó, tôi có thể hiểu rằng, theo ông Hoàng Hưng, ông cố đạo
Alexandre de Rhodes là người có công lớn với dân tộc ta (chí ít cũng
là công thần với văn hoá Việt Nam), xứng đáng vinh danh trên
toàn nước (thế mà tượng, bia kỷ niệm, tên phố của vị công thần
với văn hoá Việt Nam... đă bị xoá bỏ).
Chắc không ai có thể đồng ư với một kết luận tùy tiện và đơn giản
như thế được. Lịch sử cần ṣng phẳng. Công th́ khen, tội th́ phạt.
Công ít th́ khen ít, tội nhiều th́ phạt nhiều, không thể mập mờ
được.
Công của ông cố đạo nầy th́ đă quá
rơ: Ông A. de Rhodes dứt khoát không phải là người đầu tiên sáng chế
ra chữ Việt La-tinh hoá, nhưng ông đă cùng với các ông cố đạo Bồ Đào
Nha khác, cùng như cùng với những trí thức Việt Nam khác (thầy đồ,
sư săi, quan lại,...), góp phần chỉnh trang, hệ thống hoá và đặt nền
móng cho tiếng Việt của chúng ta ngày nay. Và cái công tập thể đó
th́ chỉ giới hạn trong lănh vực ngôn ngữ mà thôi, rơ ràng chưa xứng
đáng để v́ đó mà ta nâng chỉ mỗi ḿnh ông cố đạo này lên
thành công thần văn hoá, lại càng không xứng đáng để xây
bia, đúc tượng, đặt tên đường như những vị danh nhân văn hoá
khác của Việt Nam.
Huống ǵ khi mở rộng ra trên b́nh
diện lịch sử dân tộc, tội của ông th́ cũng đă quá rơ, và quá nặng:
Ông Alexandre de Rhodes là ông cố đạo Pháp đầu tiên đă vận động
chính quyền Pháp xâm chiếm nước ta với ư đồ làm cho hai chính sách
truyền đạo của nhà thờ và đô hộ của nhà nước
quấn quyện vào nhau trong một thế hỗ tương quyền lợi, dù ư đồ đó
không thành tựu ngày ông nhắm mắt. Tuy nhiên chính v́ “tiền lệ” đó
mà sau này, những giáo sĩ Pháp như Pallu, De la Motte, Huc, Pellerin,
Puginier,... đă triển khai để thành công trong việc thuyết phục, kế
hoạch, và tiến hành cuộc xâm lăng nước ta và áp đặt nền đô hộ trên
dân ta.
Xin giới
thiệu với ông Hoàng Hưng một vài đầu sách xuất bản tại nước ngoài,
để ông tham khảo thêm về chủ đề nầy: Histoire moderne du pays
d’Annam, Charles Maybon; Vietnam: History, Documents and
Opinions, Marvin Gettleman; L’Empire Vietnamien face à la
France et à la Chine, Yoshiharu Tsuboi; La place du
Catholicisme dans les relations entre la France et le Vietnam de
1851 à 1870, Etienne Vũ Đức Hạnh; Fire in the Lake,
Francis Fitzgerald; Vietnam’s Will to Live, Helen Lamb;
The New Face of the War, Malcolm Browne; Vietnam A History,
Stanley Karnow; Vietnam, A Political History, Josepph
Buttinger –– Rhodes đă làm ǵ cho Việt Nam, Trần Quư -
Việt sử toàn thư, Phạm Văn Sơn; Việt Nam thời Pháp đô hộ,
Nguyễn Thế Anh; Việt Nam Pháp thuộc sử, Phan Khoang; Đạo
Thiên chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam, Cao Huy Thuần;
Thập giá và lưỡi gươm, Trần Tam Tỉnh; Lịch sử nội chiến Việt
Nam, Tạ Chí Đại Trường; T́m về dân tộc và Tôn giáo và
Dân tộc, Lư Chánh Trung; Histoire de la pénétration Francaise
au Vietnam (1858-1897), Nguyễn Xuân Thọ, ...
Ngoài ra, cũng để xác định với ông Hoàng Hưng rằng quy luật “thập
giá đi trước, lưỡi gươm theo sau” của giáo hội Vatican là nhất quán
và có tính toàn cầu, xin lại giới thiệu với ông một số đầu sách khác
để ông có một cái nh́n tổng thể hơn: The Vatican Empire, Nino
Lo Bello; American Freedom and Catholic Power, Paul Blanshard;
Pope, Premier, President, Roland Flamini; Catholicisme et
sociétés asiatiques, Alain Forest & Yoshiharu Tsuboi; The
Roman Catholic Church in Colonial Latin America, Richard E.
Greenleaf; The Catholic Church in World Politics, Eric O.
Hanson;The Missionaries: God Against the Indians, Norman
Lewis; Catholic Imperialism and World Freedom và The
Vatican's Holocaust, Avro Manhattan; Công giáo chính sử: 2000,
Trần Chung Ngọc; The Politics of the Vatican, Peter Nichols;
Christ or Evil? The Corrupt Face of Christianity in Africa,
Anene Obianyido; The Holy Humbugs, Padchi; Missionaries,
Julian Pettifer & Clive Prince; The Roman Catholic Church in
Modern Latin America, Karl M. Schmit; Công giáo trên bờ vực
thẳm, Charlie Nguyễn; The Keys of This Blood, Malachi
Martin...
Cuối cùng, để kết thúc bài viết này, tôi cho rằng việc đặt lại tên
đường và dựng tượng Alexandre de Rhodes cách đây mấy năm là một
quyết định hoàn toàn sai lầm của những người trách nhiệm về văn hoá
và sử học của nước ta, cả trong lẫn ngoài nhà nước. Như hàng ngàn
sai lầm khác trong quá khứ mà nhà nước và nhân dân đang từ từ sửa
sai. Sự thật dù có bị chôn vùi hay bóp méo bằng những lớp bụi chính
trị nhất thời và quyền lợi tôn giáo, th́ cuối cùng vẫn là sự thật.
Nguồn:
Talawas - 20.4.2006
|
|