|
Thần Tượng Stalin Bị Cải Táng Như Thế Nào?
CÁO
TRẠNG KHRUSHCHEV
Anthony Darlic
Tuần
này cũng là tuần kỷ niệm văn kiện lịch sử được mệnh danh là Báo Cáo
của Khrushchev được 50 tuổi, 1956-2006.
Đây
là văn kiện đă đập tan thần tượng Stalin mở đầu cho sự rạn nứt trong
thành tŕ duy vật sử quan và vô sản chuyên chính là mối dây ư thức
hệ bện buộc khối Xă Hội Chủ Nghĩa Đông Âu lại với nhau.
Phải
đợi 33 năm sau, thành tŕ đó mới sụp đổ theo bức tường ư thức hệ
Berlin năm 1989. Đáng nói là sau đó, nhân loại đă không được hưởng
bao nhiêu ngày an lạc. Bởi v́ thay v́ sụp đổ theo bức tường Berlin
th́ Bức Màn Sắt phân chia hai khối Tây Phương Ky-Tô giáo và Đông
Phương Chính Thống giáo lại đă được chuyển dịch về Phương Đông Hồi
giáo, làm sống lại kư ức đen tối của ngàn năm thánh chiến. Cuộc
thánh chiến tái hồi này đang diễn ra ở Iraq từ ba năm nay có liên hệ
ǵ đến việc giải thể khối Đông Âu và sự tan ră của lưỡng cực ư thức
hệ Tư Bản - Cộng Sản không?
Lịch
sử chính trị không thiếu những bí mật động trời. Như các kim tự tháp
của Ai Cập. Như nghĩa trang những quân nhân bằng đất của Tần Thủy
Hoàng chẳng hạn. Chuyện bí mật kim tự tháp chôn vùi dưới sa mạc c̣n
hiểu được v́ Ai Cập thời đó dù sao chữ viết cũng như liên hệ quốc tế
chưa phát triển, cho nên bí mật cung đ́nh có thể theo vua chúa đ́nh
thần xuống mồ luôn. Nhưng Trung Hoa, thời Tần Thủy Hoàng văn tự đă
phát triển, thế mà không một tài liệu nào như gia phả, thơ văn, ca
dao tục ngữ nhắc đến chuyện mấy ngàn lính đất nung h́nh thù như
người thật được tập trung vào một chỗ để làm ǵ? Số phận những người
phụ trách tạo tác công tŕnh đó ra sao? Sao họ và con cháu họ chẳng
ai nhắc đến một lời về chuyện này?
Cho
nên, cái gọi là lịch sử đúng là một hồ lô không đáy, một lổ đen hun
hút bí ẩn. Nghĩ ḿnh biết hết và mong biết hết chỉ là cuồng vọng.
Những chuyện như Mỹ có biết trước Nhật đột kích Trân Châu Cảng không,
những giờ phút cuối cùng của Hitler, Kennedy bị thảm sát, Nixon
nhúng tay vào vụ Watergate, Mỹ có biết trước Hà Nội sẽ làm vụ Mậu
Thân không, quyết định của Gorbachev giải thể khối Đông Âu... biết
bao nhiêu điều đang được chờ đợi giải mật. Và bản cáo trạng của
Khrushchev...
Bản
cáo trạng K cũng là một trong những bí mật hiện đại loại này. Chỉ
khác một điều, bí mật này chỉ thọ được ba tuần th́ x́ ra và chỉ cần
ba tháng để được phơi bày dưới ánh sáng mặt trời.
Để
đánh dấu cáo trạng K được 50 tuổi, tờ Le Monde ngày 19/3/2006 có
đăng một bài của Benoît Hopquin tựa đề Rapport Khrushchev, 50 ans
de mystère [Báo cáo K, 50 năm bí nhiệm] gợi lại biến cố này dựa
theo lời thuật của một nhân chứng c̣n sống là Sam Russell nay đă 91
tuổi đang dưỡng già ở London.
Năm
1956, Sam Russell là đặc phái viên của tờ Daily Worker của
Đảng CS Anh ở Moscow. Russell cho biết là thời gian đó các đặc phái
viên ngoại quốc ở Nga đều nghe phong thanh về bản cáo trạng động
trời này, nhưng lại không có một bằng chứng cụ thể nào và cũng không
có một lời xác nhận chính thức nào từ chính quyền Nga. Măi cho đến
khi một phóng viên của Reuters ở Thụy Điển được một đảng viên CS Nga
đang nghỉ hè ở Stockholm xác nhận bản cáo trạng đó có thật, nhưng
lại không đưa ra được một văn bản nào cho kư giả ấy xem để làm bằng.
Tuy thế, kư giả của Reuters vẫn chuyển tin đó về ṭa soạn. Thế là
bản tin của Reuters đă đồng loạt xuất hiện cùng bài báo trên tờ New
York Times ngày 17/3/1956. Ngoài ra, để bảo vệ người cho tin, phóng
viên của Reuters c̣n nói trớ ra là tin từ Bonn chứ không phải
Stockholm nữa.
Tờ NY
Times và thông tấn xă Reuters chỉ cho thế giới biết mơ hồ rời rạc
như vậy thôi, nhưng thực tế th́ ba ngày sau buổi họp mật sấm sét của
ĐH XX đó, cáo trạng K đă được phổ biến đến thành phần lănh đạo các
đảng CS anh em cũng như cho nội bộ đảng CS Liên Xô với chỉ thị rơ
ràng là phải bảo mật, không được sao chép, và không được nêu thắc
mắc.
Nạn
nhân đầu tiên của chủ trương bảo mật này chẳng ai khác hơn là Sam
Russell. Thật vậy, trong lúc Reuters và NY Times chỉ mới thu lượm
được những tin tức phong thanh mơ hồ th́ Russell đă có nguyên bản
cáo trạng nhưng lại không t́m ra ai xác nhận xem thật giả và đến khi
Russell luồn lách ṿng vo gửi được văn bản đó về đến ṭa soạn
Daily Worker th́ ṭa soạn quyết định xếp xó. Xếp xó v́ sợ tam
sao thất bổn hay v́ những tay chủ chốt trong ṭa soạn là đảng viên
CS Anh?
Đến
đây, người ta mới thấy rơ cái tác phong và văn hóa của những hội kín,
hội của những người đă thề bảo mật, thề giữ kín những điều được gọi
là mật. Khi cần th́ những bức màn sắt, màn tre mong manh vô h́nh
cũng dày đặc kín bưng như bức tường xi măng cốt sắt Berlin.
Phái
đoàn CS Pháp dự ĐH XX gồm Maurice Thorez, Jacques Duclos, Pierre
Doize, Georges Cogniot dĩ nhiên đều có đọc cáo trạng đó, nhưng khi
trở về Pháp th́ chẳng ai hé ra một lời nào, chẳng thế mà măi đến bao
nhiêu năm sau, Đảng CS Pháp vẫn chỉ mơ hồ lơ lửng nói đến “bản báo
cáo được coi như của đồng chí Khrushchev”. Chính K lại c̣n ĺ lợm
hơn. Thật vậy, tháng 5/1957 nghĩa là gần một năm sau phiên họp mật
lịch sử đó, khi được hỏi có phải ông là tác giả bản cáo trạng đó
không th́ K tỉnh bơ trả lời đó chỉ là một văn kiện do các cơ quan
t́nh báo Mỹ ngụy tạo. K đă nín đợi đến ĐH XXII năm 1961 mới chịu
công khai thừa nhận ḿnh phát động chiến dịch hạ bệ Stalin. Và phải
đợi 28 năm sau, tháng 4/1989, th́ bản cáo trạng này mới được chính
quyền Nga chính thức phổ biến khi quyền lănh đạo Nga đă lọt vào tay
Mikhail Gorbachev. Cũng dễ hiểu thôi.
André Fontaine
tổng biên tập tờ Le Monde kể là đă phong thanh nghe tin cáo trạng đó
hồi tháng 4/1956 trong khi có việc sang Yugoslavia. Ngoài Sam
Russell của tờ Daily Worker, h́nh như CIA là nơi đầu tiên có được
văn bản cáo trạng này theo một nguồn tin từ Poland. CIA có th́ Bộ
Ngoại Giao Mỹ có, dĩ nhiên. Ngày 2/6/1956 tờ NY Times công bố toàn
văn bản cáo trạng, và bốn ngày sau th́ tờ Le Monde theo gót. Chuyện
K hạ bệ thần tượng Stalin trở thành lịch sử. Để làm ǵ?
K hạ bệ Stalin để
cởi trói chính trị cho xă hội Nga và toàn khối Đông Âu để chuẩn bị
sống chung với Mỹ và khối Bắc Đại Tây Dương hay chỉ cởi trói chính
trị cho Nga mà thôi? Thực tế cho thấy, mệt mơi và hao ṃn v́ cuộc
thi đua vũ trang với Mỹ và khối đồng minh Tây Ây, Nga cũng mong muốn
một thời kỳ ḥa dịu xả hơi. Nhưng Nga lại muốn rằng ḿnh phải đích
thân làm việc đó, đàn em của Nga không được lộn xộn và chỉ được rục
rịch khi có lệnh.
Và
hai đàn em đă hiểu lầm đàn anh một cách tai hại đau thương chính là
Hungary và Poland chứ chẳng ai khác. Cuộc nổi dậy Mùa Hạ Budapest
tháng 5/1956 của Imre Nagy để mong đứng ra ngoài tranh chấp lưỡng
cực ư thứ hệ và dân chủ hóa đất nước đă bị nghiền nát dưới những
ṿng xích sắt của chiến xa Nga pḥ Matyas Rakosi về lật đổ Nagy tái
lập nguyên trạng. Cùng thời gian đó, ở Poland, dân chúng Poznan cũng
tưởng bở có thể thừa thắng xông lên đ̣i tự chủ nên đă chịu chung số
phận của người dân Budapest.
Như
vậy th́ K muốn ǵ? Đặc câu hỏi đó để mà tiếc nuối rằng nhân loại đă
bỏ lỡ nhiều cơ hội để sống trong an lành không cần phải kèn cựa, đấm
đá, chém giết.
Trong
khi Khrushchev của Nga nói đến ḥa dịu th́ Kennedy của Mỹ cũng nói
đến “biên cương mới”. Trong khi Nga không muốn cho Bắc Việt đánh
chiếm miền Nam bằng vơ lực và phải tôn trọng nền trung lập ở Lào và
Campuchia th́ Kennedy cũng làm ngơ lời của chính Ngô đ́nh Diệm yêu
cầu Mỹ gửi quân tác chiến đến Việt Nam. Kennedy chỉ hứa sẽ giúp Miền
Nam bằng mọi phương tiện, ngoại trừ việc trực tiếp tham chiến.
Kennedy và Khrushchev cũng từng dự định gặp nhau ở thủ đô Vienna của
Austria nhưng không thành v́ trước ngày họp, chiếc phi cơ do thám
U.2 của Mỹ bất thần bị bắn rơi trên lănh thổ Nga. Phi công chiếc U.2
đó có gài sẵn thuốc độc trong miệng nhưng đă không tuẩn tiết mà để
bị bắt sống rồi khai tùm lum. K của Nga và K của Mỹ cũng từng đụng
độ nảy lửa tại Cuba khi Kennedy chủ trương đổ bộ lật Castro và
Khrushchev đổ hỏa tiễn vào Cuba làm con tẩy để cứu Cuba khỏi trở
thành một đảo quốc của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ. K của Nga vẫn tiếp
tục chính sách ḥa hoăn bằng hiệp định tài giảm vũ khí nguyên tử với
Mỹ và Anh năm 1963.
Nhưng
rồi K của Mỹ bị thảm sát năm 1963. Một năm sau th́ K của Nga v́ cuộc
khủng hoảng Cuba và xung đột ư thức hệ với Trung Hoa mà mất chức.
Chủ
trương ḥa dịu của Khrushchev và chính sách Tân Biên Cương của
Kennedy tuy nhằm đáp ứng những nhu cầu nội địa nhiều hơn, dù sao
cũng là những viên gạch lót đường cho Mikhail Gorbachev đi một bước
dài để làm ră băng Chiến Tranh Lạnh và giải thể khối Cộng Sản quốc
tế năm 1989.
Nhưng
h́nh như con người thích có láng giềng để mà chống đối, để mà thù
ghét hơn là để mà mà thương yêu ḥa hợp. Tờ The Independent ngày
7/8/2004 nhắc lại lời Georgi Arbatov từng hăm he rằng: Chúng tôi sẽ
gây ra cho các anh một điều khủng khiếp. Các anh sẽ không c̣n có kẻ
thù nữa. [We are going to do something terrible to you. You will no
longer have an ennemi.] Nhà ngoại giao Nga Arbatov thực ra cũng chỉ
nói một sự thật. Bởi không có kẻ thù th́ làm sao có ư do để thuyết
phục dân chúng chịu ngoan ngoản để ḿnh cai trị, chịu thắt lưng buộc
bụng để đóng thuế, để tăng năng xuất mà không đ̣i tăng lương, không
có kẻ thù th́ lấy lư do ǵ mà sản xuất súng đạn xe tăng tàu bay, làm
sao có lư do để gửi quân đi ngăn chận đối phương gây bất ổn và đồng
thời bảo vệ thị trường cho ḿnh. Không có kẻ thù th́... đúng là loạn.
Cho nên, Karl Marx râu xồm ác ôn côn đồ Cộng phỉ biến mất để chỉ c̣n
Mikhail Gorbachev tươi cười hiền hậu th́ phải kiếm cho ra một ông
râu xồm ác ôn côn đồ khác. Bin Laden. Cộng Sản tam vô được thay thế
bằng Hồi giáo khủng bố khát máu. Chiến tranh Afghanistan, chiến
tranh Palestine, chiến tranh Iraq I rồi Iraq II, mai đây có thể
Syria, có thể Iran... Ai cũng được, miễn có kẻ thù. Cáo trạng về kẻ
thù hậu Cộng Sản, hậu Chiến Tranh Lạnh này có tựa đề là Những Nền
Văn Minh Húc Nhau và Tái Dựng Trật Tự Thế Giới [The Clash of
Civilisations and the Remaking of World Order] mà tác giả là Samuel
P. Huntington.
Điều
đáng ghi nhận là vô h́nh chung t́nh h́nh Việt Nam thời Khrushchev,
cụ thể là phong trào chiến tranh giải phóng, đă trở thành một công
cụ trong tay Nga cũng như Trung Quốc như một công cụ để khi cần th́
dùng đến làm áp lực mặc cả quyền lợi quốc tế. Điều này giải thích
tại sao cả Bắc Kinh và Moscowa đều không muốn có một Việt Nam thống
nhất nhưng vẫn nai lưng viện trợ cho Hà Nội. Điều này cũng giải
thích tại sao Nixon và Kissinger đă ṿng qua Bắc Kinh và Moscowa
trước khi ngồi vào bàn hội đàm Paris năm 1973.
Nếu
Kennedy và Khrushchev c̣n tại vị thêm thời gian nữa th́ t́nh h́nh
Việt Nam hồi thập niên 60 có đổi khác chút nào không? |