|
SỰ H̀NH THÀNH PHONG TRÀO QUỐC GIA MỚI:
TỪ “TRUNG QUÂN” SANG “ÁI QUỐC”
Vũ Ngự Chiêu
I. GIAI ĐOẠN 1897-1907:
Là một dân tộc đă có ít nhất ngàn năm lịch sử thành văn, từng
nhiều phen đổ xương máu để bảo vệ chủ quyền của ḿnh và đồng thời mở
mang bờ cơi về phía Nam, từ đầu thế kỷ XX, người Việt bắt đầu chiêm
nghiệm lư do thất bại của các phong trào Cần Vương, Văn Thân v...
v... Kết luận mà đại đa số đều đồng ư là t́nh trạng chậm tiến của
nước Việt, và nhu cầu canh tân, nâng cao dân trí trở nên cấp bách.
Tuy nhiên, họ chỉ đồng ư đến đó. Câu hỏi “Cách nào để canh tân?”
mang lại nhiều đáp án.
Trong số những nhà ái quốc chủ trương duy tân có hai khuynh hướng
chính:
- Một số nghĩ rằng trước hết phải giành được độc lập, rồi sẽ canh
tân. Nhật Bản, v́ sao đang lên ở Á Châu, được coi như mẫu mực. Cuộc
chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905) càng khiến họ thêm nể phục nước
“đồng văn” này. Bởi thế, họ t́m đường sang Nhật cầu viện, và chủ
trương “quân chủ lập hiến.”
- Số khác, dù cũng ngưỡng mộ Nhật Bản, muốn Âu hóa hoàn toàn. Họ
chủ trương nên hợp tác với Pháp để canh tân xứ sở, kể cả việc đổi
sang chế độ dân chủ, sau đó mới lo được việc giành độc lập.
Hai khuynh hướng này chi phối hầu hết các phong trào “duy tân”
trong nước vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
A. PHONG TRÀO “ĐÔNG ĐỘ” HAY “ĐÔNG DU”:
Khuynh hướng thứ nhất–tức giành độc lập trước, duy tân sau–do Cử
Nhân Phan Bội Châu (1868-1940) và các đồng chí đề xướng. Hoàng thân
Cường Để (1882-1951) ḍng dơi Hoàng tử Cảnh được chọn làm Minh Chủ.
1. Sơ lược thân thế Phan Bội Châu (1868-1940):
Phan Bội Châu, tức Phan Đ́nh San, theo lời tự thuật, sinh tháng
12 năm Đinh Măo (đầu 1868 hoặc cuối 1867) tại quê ngoại là làng Sa
Nam, xă Đông Liệt, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tài liệu mật thám
Pháp ghi Phan Bội Châu sinh năm 1868 tại làng Đan Nhiễm, tổng Xuân
Liễu, huyện Nam Đàn, tức quê nội, nơi thực ra Phan Bội Châu chỉ trở
lại khi đă ba tuổi. Trong đời hoạt động, Phan Bội Châu c̣n có nhiều
tên khác như Bả Mệ, Sào Nam Tử, Vơ Lang, Phan Đ́nh Hân, Trần Tá Hoa,
Mễ Điền (do chữ Phan tách ra: Mễ và Điền).(1)
Phan Bội Châu nổi tiếng học giỏi từ nhỏ, nhưng đường thi cử lận
đận. Khóa Đinh Dậu (1897), can tội mang tài liệu vào trường thi, và
bị cấm thi trọn đời. Từ đó lưu lạc ra Bắc Kỳ, rồi vào Huế làm thày
đồ trong nhà Cử Nhân Vơ Bá Hạp. Tại kinh đô, Phan Bội Châu giao du
với nhiều nhân vật nổi danh và được Hoàng Giáp Tiến Sĩ Nguyễn Thượng
Hiền (1865-1925) “điểm nhăn” qua nhiều tác phẩm giá trị cũng như
giới thiệu với Tăng Bạt Hổ.(2)
Năm Canh Tư (1900), nhờ sự can thiệp của Tổng Đốc Nghệ An là Đào
Tiến, Phan Bội Châu được dự thi Hương, và đậu đầu trường Nghệ. Nhưng
v́ tang cha, không được dự kỳ thi Hội 1901. Trong hai năm 1901-1902,
ông mở trường dạy học ở quê nhà, đồng thời liên kết với sĩ phu địa
phương để nổi dạy chống Pháp. May nhờ Tổng đốc Trần Đ́nh Phát (con
Trần Đ́nh Túc) và Thượng thư Đào Tiến che chở nên được b́nh yên. Năm
1903, Đào Tiến cân nhắc Phan Bội Châu vào “tọa giám”–tức ăn lương
trường Quốc Tử Giám để chuẩn bị khóa thi Hội năm 1904.
Theo Phan Bội Châu, chuyến vào Huế nhằm mưu t́m minh chủ và liên
kết đồng chí. Trong hai năm kế tiếp, mục tiêu của ông đă đạt. Năm
1903, Tăng Bạt Hổ giới thiệu Cử nhân Châu với Nam Tinh Nguyễn Hàm [tức
Thành], Sơn Tẩu Đỗ Tuyển, hai cựu thủ lĩnh nghĩa hội, và một số nhân
sĩ Nam-Ngăi khác. Tháng 4/1903, qua trung gian một đại thần, Phan
Bội Châu tiếp xúc và được Cường Để nhận làm minh chủ.(3)
Thừa lệnh Cường Để, tháng 9/1903, Phan Bội Châu ra đồn điền Phồn
Xương, Bắc Giang, xin gặp Hoàng Hoa Thám, nhưng thủ lĩnh Yên Thế
không tiếp. Tháng 2/1904, Phan Bội Châu vào Nam gần ba tháng, chu du
khắp nơi, nhưng chỉ kết nạp được ông đạo Trần Nhật Thị ở Thất Sơn (Châu
Đốc). Nhờ chiêu bài Cường Để, một số giáo mục và giáo dân từ Quảng
B́nh tới Nghệ An cũng ủng hộ. Đa số giáo mục và giáo dân đều thuộc
địa phận Bắc Đàng Trong của Giám mục Louis Pineau. Sau này, c̣n có
những cộng đồng Ki-tô ở
Xiêm La.(4)
2. Duy Tân Hội & Phong Trào Đông Độ:
Trở lại Huế, Phan Bội Châu soạn tập Lưu Cầu huyết lệ tân thư
gửi các quan triều, gây được tiếng vang. Nhưng kỳ thi Hội năm ấy
ông không đỗ. Tháng 12/1904, Phan Bội Châu cùng các đồng chí họp ở
Quảng Nam, chính thức thành lập Duy Tân Hội.(5) Mọi người đề cử Phan
Bội Châu qua Trung Hoa và Nhật mua khí giới.
Tháng 2/1905, Phan Bội Châu được Tăng Bạt Hổ (Lư Tuệ) dẫn đường
vượt biên sang Hoa Nam. Sau khi tiếp xúc với một số lănh tụ lưu vong
như Tôn Thất Thuyết, Đề Đốc Trần Xuân Soạn, Tán tương Nguyễn Thiện
Thuật v.. v... ở Sa Hà, Triều Châu, Phan Bội Châu qua Nhật vào tháng
5/1905. Lương Khải Siêu (1875-1929)–đă trốn khỏi Trung Hoa sau biến
cố 1898, đang chủ biên tờ Dân Báo [Ming Pao] ở Yokohama (Hoành
Tân)–giúp Phan Bội Châu ấn hành tập Việt Nam Vong Quốc Sử để
quảng bá tinh thần kháng Pháp. Lương c̣n giới thiệu Cử nhân Châu với
một số nhân sĩ Nhật. Các giới chức Nhật không hứa giúp việc đánh
Pháp, chỉ muốn gặp mặt lănh tụ của tổ chức.(6)
Đầu tháng 8/1905, Phan Bội Châu về nước, với ư định đón Cường Để
xuất ngoại. V́ mật thám Pháp kiểm soát gắt gao, Cử nhân Châu chỉ bí
mật gặp Đặng Nguyên Cẩn (1867-1923) và Ngô Đức Kế (1878-1929) tại Hà
Tĩnh, rồi sai học tṛ vào Huế báo cáo với Cường Để. Sau đó, lại vội
vă vượt biên.(7)
Phần Cường Để, thoạt tiên, dự trù vào Nam để vận động và tổ chức
thân hào nhân sĩ. Nhưng v́ tập Việt Nam Vong Quốc Sử sắp ấn
hành ở Thượng Hải, các đồng chí thúc dục Hoàng thân xuất ngoại càng
sớm càng tốt. Từ ngày này, một số triều thần bắt đầu hướng về Cường
Để, dù ngoài mặt ra vẻ trung thành với Bảo hộ và Thành Thái.(8)
Tháng 2/1906, Cường Để trốn qua Trung Hoa, theo ngả Hải Pḥng.
Hoàng thân ghé thăm Tôn Thất Thuyết ở Triều Châu, rồi sang Quảng
Châu gặp Phan Bội Châu. Tại đây, ngày
15/1/1906,
báo Ling Sao đă đăng Hải Ngoại Huyết Thư của Phan Bội
Châu. Một báo khác cũng loan tin một Hoàng tử Việt trốn khỏi nước.
Tháng 5/1906, Phan Bội Châu đưa Cường Để sang Nhật. Tại Huế, măi tới
ngày 22/3/1906, Tôn Nhơn Phủ mới báo cáo lên Khâm sứ việc Cường Để
xuất ngoại.(9)
Việc cầu viện vẫn thất bại. Các chính khách Nhật chỉ chấp thuận
đón nhận du học sinh Việt. Phan Bội Châu và Cường Để chẳng c̣n cách
nào khác hơn phát động Phong trào “Đông Độ” (hay Đông Du) theo lời
khuyên của Lương Khải Siêu. Phong trào này kéo dài khoảng ba năm, từ
1906 tới 1908. Số du học sinh, từ 8 đến 20 tuổi, được khoảng hơn 100
người. Đại đa số gốc miền Nam, do Đặng Bỉnh Thành (Huỳnh Nghi, tức
Hoàng Hưng) cầm đầu. Phan Bội Châu chịu trách nhiệm khoảng 50 học
sinh Bắc và Trung, kể cả Cường Để, Phan Bá Ngọc, Đặng Tử Kính,
Nguyễn Thúc Canh (Trần Trọng Khắc tức Trần Hữu Công), Nguyễn Thái
Bạt (con nuôi Nguyễn Thượng Hiền), Lương Ngọc Quyến (con Cử Nhân
Lương [Văn] Can, đă qua Nhật từ trước).
Để quảng bá đường lối đấu tranh, Phan Bội Châu gửi về nội địa
nhiều tài liệu như Hải Ngoại Huyết Thư, Khuyến Du Học v..
v... Ông cũng soạn thảo một tài liệu kư tên Cường Để với tựa Kinh
Cáo Toàn Quốc Phụ Lăo Văn. Những tài liệu tuyên truyền này gây
tiếng vang rộng lớn trong giới sĩ phu.
Song song với phong trào Đông Du, nhiều cơ sở kinh tài của tổ
chức Duy Tân được thiết lập. Tại Hà Nội, Cử Nhân Can và Tú Tài
Nguyễn Quyền xin phép mở Đông Kinh Nghĩa Thục với mục đích giúp các
thiếu niên nghèo có cơ hội học quốc ngữ mới miễn phí. Thực tế học
viện trở thành nơi tuyển mộ nhân tài gửi qua Nhật, và đồng thời là
trung tâm phổ biến tư tưởng canh tân trong khuôn khổ “đồng văn”
(h́nh thái đầu tiên của chủ thuyết Đại Đông Á). Nhóm chủ trương c̣n
xuất bản tờ Đăng Cổ Tùng Báo. Ngoài số tiền quốc dân đóng góp,
Đông Kinh Nghĩa Thục liên hệ với các cơ sở thương mại như nhà thuốc
Đồng Lợi Tế, và tiệm tạp hoá Đông Thành Xương ở Hà Nội. Hoàng Tăng
Bí, một trong bốn người chủ trương, là chủ nhân Đông Thành Xương.
Sau khi Pháp đóng cửa học viện vào tháng 11/1907, Nguyễn Quyền xoay
sang điều khiển tiệm thuốc Đồng Lợi Tế. Tại vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh,
Tiến sĩ Kế và Đốc học Cẩn mở công ty Triêu Dương ở Vinh (Nghệ An),
và Giải nguyên Lê Văn Huân (1875-1929) làm chủ cơ sở thương mại ở
chợ Trổ (Hà Tĩnh). Nam-Ngăi có Hiệp Thương ở Faifo. Tại Sài G̣n,
Gilbert Trần Chánh Chiếu mở Minh Tân khách sạn và xuất bản tờ Lục
Tỉnh Tân Văn (tức Tin Sáu Tỉnh Nam Kỳ, số ra mắt ngày
2/11/1907).(10)
Cuối năm 1906, Phan Bội Châu về nước lần thứ hai. Ông liên kết
được với Đề Thám. Đề Thám đồng ư cho mượn đất để làm căn cứ. Ngoài
ra Phan Bội Châu c̣n bí mật gặp các đồng chí thân tín như Đặng Thái
Thân (1874-1911), Lê Vơ, Ngô Đức Kế, Nguyễn Cẩm Giang (tức Vũ Hải
Thu hay Nguyễn Hải Thần, 1878-1959) v.. v... trước khi trở lại Nhật.
Sau đó, tại nội địa, Đặng Thái Thân chịu trách nhiệm tổng quát,
Nguyễn Cẩm Giang đặc trách Bắc Kỳ, Đặng Tử Kính (?-1928) đặc trách
Trung Kỳ.
Phong trào Đông Độ khiến người Pháp đặc biệt quan tâm. Tại nội
địa, một mặt, để rút gió đang làm căng cánh buồm Đông Du, Toàn quyền
Beau phát động nhiều cải cách về giáo dục. Mặt khác, Beau ra lệnh
các địa phương gây áp lực những gia đ́nh có con em Đông độ, bắt họ
phải kêu gọi du học sinh hồi hương. Ngoài ra, Beau cũng yêu cầu các
nơi âm thầm giám thị hoạt động của những nhóm duy tân.
Mùa Thu 1907, người Pháp bắt đầu ra tay đàn áp. Tại Hà Nội, Đông
Kinh Nghĩa Thục bị rút giấy phép sau 8 tháng hoạt động. Tại
Nghệ-Tĩnh, Tiến Sĩ Kế, Cử nhân Đặng Văn Bá, Giải nguyên Huân cùng
một số người bị tạm giam để tra cứu. Triêu Dương thương cuộc
phải đóng cửa. Đặng Thái Thân cùng một số đồng chí trốn vào
núi. Đốc học Cẩn bị thuyên chuyển vào B́nh Thuận. Tại Quảng Nam,
Hiệp Thương ở Faifo (Hội An) bị giải tán. Giáo thụ Trần Quí Cáp bị
chuyển vào Ninh Ḥa (Khánh Ḥa). Trường Dục Thanh ở Phan Thiết cũng
tự động đóng cửa. Qua năm 1908, xử lư Thường Vụ Toàn Quyền Louis
Bonhoure c̣n xuống tay mạnh hơn. Đích thân Khâm sứ Levecque chỉ thị
cho các quan Việt ở Huế và Hà Tĩnh phải làm cho bằng được một bản án
khép tội nhóm Tiến sĩ Kế.(11)
Mặt khác,
Paris
sử dụng đường lối ngoại giao, can thiệp mạnh mẽ với Nhật Bản, đ̣i
trục xuất Cường Để, Phan Bội Châu cùng các du học sinh. Năm 1907,
Nhật bắt đầu đáp ứng yêu sách của Pháp. Phong trào Đông Du hay Đông
Độ tàn lụn dần. Cuối cùng, năm 1909, Phan Bội Châu và Cường Để cũng
phải rời Nhật. Mọi nỗ lực của Cử Nhân Châu và các đồng chí sau đó
chỉ lưu danh thiên cổ hơn hy vọng thành công. Hầu hết những du học
sinh đều mai một dần ở Trung Hoa hay Xiêm La. Một số đầu hàng Pháp
như Lê Dư, Nguyễn Thái Bạt, Phan Bá Ngọc, Nguyễn Bá Trác. Chỉ c̣n
Nguyễn Hải Thần, Cường Để cùng đôi ba người trẻ tuổi như Trần Phước
An, Huỳnh Chi, Đỗ Văn Y, v.. v... có cơ hội tái xuất hiện trong thời
Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945).
B. PHONG TRÀO “CẢI LƯƠNG/TIẾN HOÁ” HAY ÂU HOÁ:
Mặc dù có thiện cảm với phong trào “Đông Độ” và đồng một chủ
trương nâng cao dân trí, một số nhà nho yêu nước muốn hợp tác với
người Pháp để “lănh hội văn minh,” chờ ngày giành độc lập. Phất cờ
tiên phong cho khuynh hướng này có Phó Bảng Phan Châu Trinh và Tiến
Sĩ Trần Quư Cáp (1869-1908).
Phan Châu Trinh sinh năm 1872 (ngày 9/9/1872 trong hồ sơ xin nhập
tịch Pháp) hoặc 1874 (ngày 10/10/1874) tại Tây Lộc, Tam Kỳ, Quảng
Nam.(12) Cha là Phan Văn Bằng, mẹ là Lê Thị Trung. Thân phụ ông từng
theo lănh tụ Cần vương Nguyễn Duy Hiệu (Hường Hiệu) lên núi lập
chiến khu kháng Pháp. Hai năm sau, v́ nghi Bằng tiếp xúc với Nguyễn
Thân, Hường Hiệu cho lệnh xử tử. Năm 1887, Phan Châu Trinh trở lại
quê nhà, bắt đầu nghiên bút. Sau hai lần thi hỏng, năm 1900, đậu cử
nhân. Qua năm sau, đậu Phó Bảng. Sau đó, được học bổng theo chương
tŕnh Hậu bổ tại Quốc Học Huế, chờ ngày bổ nhậm. Năm 1905, giữ chức
Hành Tẩu Bộ Lễ một thời gian ngắn, rồi từ quan.
Thời gian ở Huế, Phan Châu Trinh có dịp làm quen với Phan Bội
Châu. Trong kỳ thi Hội 1904, một số học tṛ Cử nhân Can và nho sĩ
địa phương, kể cả Phan Châu Trinh, tổ chức nhiều buổi hội thảo cổ
súy thuyết Cộng Ḥa. Bắt đầu ảnh hưởng “tân thư” của Trung Hoa–tức
sách vở nghiên cứu về Tây phương và chủ trương Cộng Ḥa–Phan Châu
Trinh hơn một lần công kích chế độ quân chủ, và từng kết án vua là
“giặc của dân” (dân tặc độc phu). Những lời chỉ trích này khiến giới
quan lại cực kỳ bất măn.(13)
Đầu năm 1906, Phan Châu Trinh bí mật qua Trung Hoa. Gặp Cường Để
và Phan Bội Châu ở nhà Lưu Vĩnh Phúc tại Quảng Đông, nhưng khi được
mời gia nhập Duy Tân Hội, Phó bảng Trinh từ chối. Trong những cuộc
mạn đàm, Phó bảng Trinh cũng bộc lộ ư chống đối quân chủ qua việc
công kích các tài liệu kư tên Cường Để. Sau khi thăm Tokyo (Đông
Kinh), Phó bảng Trinh trở lại Hong Kong, rồi về nước.(14)
Về tới Quảng
Nam,
Phan Châu Trinh nhờ một giáo sĩ giới thiệu với Công sứ Jean Charles
ở Faifo, tŕnh bày rơ chuyến đi của ḿnh. Đầu tháng 11/1906, Phan
Châu Trinh c̣n gửi cho Toàn Quyền Beau một lá thư xin hợp tác, tức
“Đầu Pháp Chính Phủ Thư.” Trong thư, Phan Châu Trinh cực lực đả kích
tệ nạn tham nhũng, thối nát của quan lại Việt đương thời, và nền
giáo dục hiện hành, quảng bá chủ trương “thờ người Pháp như bậc thày
để cầu tiến bộ.” Beau sai Edouard Huber dịch qua Pháp ngữ, đăng trên
tờ Thành Tích Pháp Quốc Viễn Đông Học Viện (Bulletin de L'Ecole
Francaise d'Extrême-Orient), thường được được biết như Kỷ Yếu
Của Trường Viễn Đông Bác Cổ. (15)
Cũng trong năm 1906, một bạn học của Phan Châu Trinh là Tiến Sĩ
Trần Quí Cáp được cử làm Giáo thụ phủ Thăng B́nh (Quảng Nam). Hai
người bèn cùng thân sĩ đồng hương như Tiến Sĩ Huỳnh Thúc Kháng
(1876-1947), Cử Nhân Phan Thúc Diện, Lê Bá Thuần (tự Trinh) v.. v...
hô hào việc mở mang hương học. Năm 1907, Tiến Sĩ Cáp bị thuyên
chuyển vào Ninh Ḥa. Nhân dịp này Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc
Kháng đưa bạn tới nhiệm sở, và ghé thăm Phan Thiết, dừng chân tại
hăng nước mắm Liên Thành của Hồ Tá Bang.(16)
Từ Phan Thiết, Phan Châu Trinh đi thẳng ra Bắc. Ông xuất hiện ở
Đông Kinh Nghĩa Thục, cổ vơ chế độ “dân trị” và lập trường “ỷ Pháp
cầu tiến bộ.” Phó bảng Trinh cũng làm quen với Ernest Babut, một cựu
binh sĩ Pháp đă giải ngũ, lúc ấy đang làm chủ Đại Việt Tân Báo
ở Hà Nội.(17)
Một số viên chức thuộc địa Pháp không dấu sự hoài nghi về những
lời hô hào hợp tác của Phan Châu Trinh. Họ cho rằng Phó bảng Trinh
cũng như những nhà nho bất măn, thất nghiệp muốn lập một đảng quốc
gia để giành độc lập. Việc tấn công những tệ hại của giới quan
trường hay kêu gọi Pháp trực trị chỉ nhắm “phá không cho cai trị”–mà
một thông ngôn dịch thành “briser administration”–hầu tạo nên
một t́nh trạng vô chính quyền. (18) Bởi thế, Toàn quyền Beau cũng
như Khâm sứ Levecque cho lệnh bí mật giám thị. Phần các quan lại
Việt cũng ngấm ngầm oán ghét. Nhân dịp bắt được Lê Văn Hạ–một thủ hạ
cũ của Phan Đ́nh Phùng–quan chức Pháp-Việt có trong tay tài liệu để
hăm hại Phó bảng Trinh là đồng đảng với Phan Bội Châu, muốn dựa vào
Nhật để lật đổ Pháp. Tuy nhiên, Thống sứ Joseph de Miribel chỉ gọi
Phan Châu Trinh đến cảnh cáo.
Tại Quảng
Nam,
sau khi Beau đă về nước, Công sứ Charles bắt đầu xuống tay với nhóm
Duy tân. Tiệm Hiệp Thương ở Faifo bị giải tán. Rồi đến lượt trường
hương học do Phan Châu Trinh và các đồng chí thiết lập phải đóng cửa
v́ “tiếng trống nhập học làm phiền các nông dân.” Nhưng cơ hội bằng
vàng cho Levecque và Charles là vụ biểu t́nh chống sưu thuế vào mùa
Xuân 1908 sẽ đề cập đến trong chương sau.
C. SỰ CHUYỂN HƯỚNG CỦA HỘI TRUYỀN GIÁO:
Từ năm 1890, nếu không phải sớm hơn, một hiện tượng đặc thù xảy
ra là sự rạn nứt giữa Hội truyền giáo và chính quyền thực dân Pháp,
đưa đến những tranh chấp không ngừng, có thể gọi là “chiến tranh
lạnh.”
Cuộc chiến tranh lạnh này đă khởi đầu từ ngày chủ nghĩa Cộng Ḥa
và khuynh tả thống trị chính giới Pháp, và chỉ tạm ḥa hoăn trong
giai đoạn 1895-1899, thường được biết như thời kỳ “ralliement”–tức
chiêu hồi hay liên kết giữa hai phe Ki-tô và Cộng Ḥa trung dung, để
ngăn chặn ảnh hưởng phe tả khuynh. Từ năm 1899, Quốc Hội Pháp trực
diện tấn công Giáo hội bằng các Sắc luật năm 1901, 1904 và 1905,
chính thức giải thoát xă hội Pháp khỏi sự kềm tỏa của thần quyền
Ki-tô từ nhiều thế kỷ. Dưới thời chính phủ Emile Combes (1902-1904)
của Khối Tả phái (Bloc des Gauches), tinh thần chống Giáo hội ngày
càng mạnh.(19)
Tại Đông Dương, những nhân vật Cộng Ḥa hay tả khuynh cũng không
ngừng đả kích Hội truyền giáo cùng chủ trương thống trị, “Ki-tô hoá
và đồng hoá.” Đối lại, Hội truyền giáo, giới quân sự và các nhóm
viên chức thuộc địa bảo thủ cũng tạo thành một liên minh đánh phá
Jean de Lanessan, đưa đến việc triệu hồi viên Toàn quyền này, dù
thái độ của de Lanessan với Hội Truyền giáo khá thân mật. Năm 1893,
chẳng hạn, khi tờ Le Courrier d'Haiphong cho đăng một loạt
bài có vẻ đả kích chủ trương thống trị và đồng hoá mà Hội truyền
giáo theo đuổi, các giáo sĩ không chịu yếu thế. Họ quyết dùng báo
chí để phản công, xuất vốn mua tờ L'Avenir du Tonkin (Tương
lai Bắc Kỳ) ở Hà Nội. Ngày 18/7/1893, de Lanessan phải viết thư cho
Giám mục P. Gendreau–mới thay Puginier ở Tây Đàng Ngoài–khuyên
Gendreau đừng nên dính líu vào những cuộc bút chiến trên báo chí.
Trong thư trả lời ngày 23/7/1893, Gendreau khẳng định rằng báo chí
là phương tiện duy nhất để tự vệ.(20)
Ít lâu sau, tới cuộc bút chiến giữa Linh mục J. B. Guerlach và
Camille Pâris, một cựu viên chức bưu điện ở Tourane, sau chuyển sang
khai thác đồn điền ở cao nguyên Trung Kỳ thuộc khu vực dân Sê-đăng.
Pâris tố cáo Hội truyền giáo đă che chở cho tay phiêu lưu “Hầu tước
de Mayréna” chiếm đoạt đất của dân Sê-đăng để thành lập một vương
quốc với Giáo sĩ Ki-tô làm quốc sư.(118) Guerlach–một trong những
cựu thủ lănh “thập tự quân”–truy tố Pâris ra ṭa về tội mạ lÿ. Tuy
nhiên, Pâris được trắng án. Cuộc tranh chấp chỉ chấm dứt sau cái
chết bí ẩn năm 1908 của Pâris tại đồn điền.
Các báo thuộc nhóm “Radical” (Cấp tiến) hay “Lodge” (Tam Điểm)
khác như L'Indépendence tonkinoise (Độc Lập của Bắc Kỳ) của
Alfred Levasseur, và Le Mékong (Cửu Long) của Ulysse Leriche
cũng mở nhiều đợt tấn kích Hội truyền giáo. Trong số báo ra ngày
22/5/1897, chẳng hạn, Le Mékong loan tin một trong 10 nữ tu y
tá đă bỏ tu hành nghề măi dâm. Ngày 12/6/1897, Jean Marie Depierre,
Giám mục Tây Đàng Trong–người đă tổ chức quyên góp dựng tượng
Pigneau de Béhaine ở Sài G̣n–khởi tố với Tổng Biện lư Assaud ở Sài
G̣n. Trước đó, ngày
25/5/1897,
Depierre c̣n viết thư cho Leriche, cáo buộc Le Mékong dối trá
khi b́nh luận rằng Hội truyền giáo là “ổ chống đối sự thống trị của
Pháp.”(21)
Ngoài ra, các nhà in Rey, Curiol, và Francois H. Schneider cũng
có lập trường chống Hội truyền giáo, đặc biệt hai tờ L'Univers
(Vũ Trụ) và La Croix (Thập Tự Giá), cơ quan ngôn luận của
Giáo hội.
Các nhóm tả khuynh c̣n vận động việc ban hành nghị định áp dụng
ba đạo luật 1901, 1904 và 1905 tại Đông Dương; nhưng Beau–trước sự
đe dọa của các Giáo sĩ, và v́ quyền lợi thuộc địa–không dám trực
diện Hội truyền giáo. Thời gian này Hội truyền giáo đă phát triển và
củng cố tổ chức chặt chẽ theo hàng dọc, từ các giáo phận xuống giáo
xứ, họ đạo. Hầu hết các họ đạo tại các xă thôn đều do các giáo mục (curé)
bản xứ trông nom. Mỗi giáo phận là một tiểu vương triều tự trị, với
những luật lệ riêng. Dưới sự hướng dẫn của các linh mục, giáo dân
trở thành kiêu dân, hoành hành bất kể luật pháp. Alphonse Louis
Klingler ở Nghệ An và Martin ở Thanh Hoá chỉ là những thí dụ tiêu
biểu.(22)
Không những chỉ lấn áp dân chúng, đập phá chùa chiền, cướp đoạt
ruộng đất, công điền công thổ tại các xă lẫn lộn người Lương và giáo
dân, “thập tự quân” c̣n kéo nhau đi làm tiền cả thân nhân Từ Dụ Thái
Hoàng Thái hậu, hay cựu Phụ chính Đại thần Trương Quang Đăn, v́ tư
gia họ đă dùng gỗ lim, mới bị ra lệnh cấm đẵn để dành độc quyền cho
các nhà khai thác.(23)
Các quan lại chẳng ai dám phản ứng, v́ phạm lỗi với các giáo sĩ
hay linh mục bản xứ sẽ lập tức bị cách chức, hay quở phạt.(24)
Trước viễn ảnh rạn nứt khó tránh giữa chế độ Bảo hộ Pháp và Hội
truyền giáo–đồng thời, để tạo áp lực với các viên chức “rối đạo”–
các giáo sĩ t́m cách móc nối, ăn rễ vào Hoàng tộc và những phong
trào kháng Pháp. Một mặt, giới quan lại xuất thân thông ngôn được
yểm trợ ngày một thăng tiến nhanh trong triều đ́nh, hầu gây ảnh
hưởng với vua và Hoàng tộc. Mặt khác, một số t́m cách liên kết với
tổ chức Duy Tân Hội của Phan Bội Châu và Cường Để, ḍng dơi duy nhất
của Hoàng tử Cảnh. Sự ủng hộ của số giáo sĩ, giáo dân từ Vinh tới
Quảng Nam–kể cả nhóm Ngô Đ́nh Khả, Nguyễn Hữu Bài, Mai Lăo Bạng, v..
v...– liên hệ không nhỏ với bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh giữa Giáo
hội và phe tả khuynh Pháp.(25)
Tuy nhiên, tưởng cũng cần nhấn mạnh, khối giáo dân–hoặc ít nữa
các nhóm thiểu số giáo sĩ và giáo dân tham vọng–không đoàn kết, nhất
trí như có thể ngộ nhận. Đường nứt rạn lớn nhất là giữa hai giáo
phận gốc Espania–có liên hệ chặt chẽ với
Manila
(Philippines),
và Roma–và các giáo phận của Hội Truyền giáo Pháp. Thêm nữa, ư thức
chủng tộc cũng tách biệt dần giáo dân Việt và giáo sĩ ngoại quốc–đặc
biệt là các giáo sĩ Pháp. Sau gần nửa thế kỷ được Pháp “giải phóng”
(nói theo ngôn ngữ của Petrus Key năm 1859), giáo mục và giáo dân
Việt vẫn bị xếp loại tín hữu hạng nh́. Triều đ́nh Ki-tô Đông Dương
vẫn do các “cha triều” Pháp thống trị. Chưa một “linh mục triều”
người Việt nào được lên chức Giám mục. Nói cách khác, Hội truyền
giáo Pháp tự nó cũng là một tiểu vương triều “trắng” bảo hộ tiểu
vương quốc Ki-tô “vàng.” Hội truyền giáo cũng không chỉ có con chiên
người Việt. Các giáo sĩ bắt đầu mở mang họ đạo tới những vùng sơn
cước ở Trung và Bắc Kỳ. Từ thập niên 1900, toàn thể Đông Dương đă
chia làm 7 giáo phận. Tại Bắc Kỳ, thêm giáo phận “Haut Tonkin” (Đàng
Ngoài Cao), để lo việc Ki-tô hoá dân thiểu số. Tại Trung Kỳ, hai
giáo phận Đông Đàng Trong và Tây Đàng Trong nỗ lực Ki-tô hoá các sắc
tộc Ê-đê, Gia-rai, Sê-đăng, v.. v... trên cao nguyên.(26)
II. AN
NAM, 1907-1914:
1. Toàn Quyền Paul Beau (1902-1908):
Như đă lược nhắc, Beau là người đă đặt Vĩnh San lên ngôi [tưc vua
Duy Tân]. Những tháng cuối năm 1907, Beau tập trung vào kế hoạch
“chinh phục tinh thần” của ḿnh. Ngày 14/11/1907, Beau chủ tọa lễ
khai mạc Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ, tại Đại Giảng đường Đại học Đông
Dương. (27bis) Đích thân Beau c̣n tới Sài G̣n tham dự lễ khai mạc
phiên họp thứ hai của Hội đồng Hoàn Thiện Giáo Dục Bản Xứ (Conseil
de perfectionnement de l'Enseignement indigène) từ ngày mồng 4
tới 9/12/1907. Henri Gourdon, Tổng Giám đốc Học chính, đọc diễn văn
loan báo kết quả trong khóa (session) 1, đặc biệt là tại Bắc và
Trung Kỳ.
Tại Huế, để đáp ứng nhu cầu “chinh phục tinh thần,” ngày
23/9/1907,
Levecque thay Hoàng Hữu Xứng ở Bộ Công bằng Vương Duy Trinh, cựu
Tổng đốc Quảng
Nam; và ba ngày sau,
26/9/1907,
cử Cao Xuân Dục cầm đầu Bộ Học.(28)
Tuy nhiên, kết quả việc truyền bá Quốc ngữ c̣n khiêm nhượng,
chẳng có dấu hiệu nào sẽ tạo nên những mầm mống tạo loạn; và, quan
trọng hơn, chỉ nặng tính chất tuyên truyền, nhằm đáp ứng nhu cầu
thông ngôn, thư kư, hơn thực hiện một nền quốc học cho thanh thiếu
niên Việt. Vào tháng 1/1908, trên khắp ba kỳ chỉ có 9 trường Tiểu
học “bổ túc” (hay Cao đẳng tiểu học) với 956 học sinh, 11 trường
chuyên nghiệp với 782 học sinh, và 110 trường tiểu học, với 23,921
học sinh. Việc phân phối theo các địa phương không đồng đều. Bậc Cao
đẳng tiểu học, Bắc Kỳ có 5 trường với 487 học sinh, Trung Kỳ chỉ có
1 trường với 94 học sinh, và Nam Kỳ, 3 trường với 375 học sinh.
Trường dạy nghề, Nam Kỳ có 8 trường, thu nhận 443 học sinh (kể cả
trường Mỹ nghệ Thủ Dầu Một, khai giảng năm 1901, và trường Mỹ nghệ
Biên Ḥa, khai giảng 1907), trong khi Bắc Kỳ chỉ có 2 trường (Nam
Định và Hưng Hoá), 189 học sinh, và Trung Kỳ, 1 trường, 150 học
sinh. Nam Kỳ cũng dẫn đầu số trường và học sinh Tiểu học cùng ấu học
với 230 trường, thu nhận 17,155 học sinh; trong khi Bắc Kỳ chỉ có 67
trường, với 5344 tṛ, và Trung Kỳ, 20 trường, thu nhận 1422 học
sinh. (29)
Những bài diễn văn cùng việc làm của Beau có mục đích xa là Nhật
Bản, một cường quốc đang lên, thường bị dư luận Pháp lên án là “họa
da vàng.” Trên nguyên tắc, Nhật và Đông Dương có liên hệ b́nh thường.
Ngày 4/8/1896, Nhật và Pháp đă kư một Hiệp ước Thương mại và Hàng
hải. Mới nhất, ngày 10/6/1907 hai bên kư thêm một Hiệp ước, theo đó
Nhật được mượn một số tiền lớn để phục hồi kinh tế sau cuộc chiến
tranh Nga-Nhật (1904-1905), và rồi ngày 19/8/1907 Nhật và Pháp kư
tuyên cáo chung tại Paris hứa sẽ bảo vệ ḥa b́nh và an ninh tại lục
địa Á châu. Sau đó,
Tokyo
bắt đầu trục xuất du học sinh Việt. Chỉ riêng Cường Để và Phan Bội
Châu vẫn nấn ná ở Nhật. Dẫu vậy, tham vọng đế quốc của Nhật quá hiển
lộ khiến Pháp khó thể không dự pḥng. Cuộc chiến tranh Nga-Nhật, kết
thúc bằng cuộc hải chiến ở Tsuchima năm 1905, khiến các cường quốc
thuộc địa Âu Mỹ bắt đầu quan tâm đến “những người Mỹ da vàng” của xứ
Mặt trời.
Năm 1908, trong khi Beau đang ở Pháp, hai biến cố xảy ra ở Quảng
Nam và Hà Nội cho phép Xử lư thường vụ Toàn quyền Louis Bonhoure
xuống tay mạnh. Đó là cuộc biểu t́nh đ̣i giảm sưu thuế vào mùa Xuân
1908, và vụ đầu độc ở trại lính Hà Nội mùa Hè cùng năm.
a. Cuộc “Dân Biến” 1908:
Đầu năm Mậu Thân (2/1908), ba hương chức làng Phiên Ai, huyện Đại
Lộc, tỉnh Quảng Nam, thu thập chữ kư hương dịch để xin giảm số ngày
sưu dịch (corvée, tức lao động bắt buộc) hàng năm.(30) Huyện quan
bắt giữ ba hương chức trên.
Thỉnh nguyện của dân chúng là phản ứng đầu tiên với Nghị định
ngày 31/12/1907 mới ban hành, theo đó số ngày sưu dành cho công ích
tỉnh sẽ tăng từ 6 lên 8 ngày, hiệu lực tức khắc. Nguyên từ năm 1898,
số ngày sưu dịch mỗi năm là 30 ngày; 10 ngày dùng cho việc công ích
của xă, và 20 ngày khác của thể mua bằng tiền (Dụ ngày 14/8/1898).
Trong đợt cải cách tài chính năm 1904, nông dân phải mua lại 20 ngày
sưu dịch với giá 2 hào (0.20 đồng), và số tiền này phải trả chung
với thuế thân (2 đồng); tức mỗi xuất đinh phải trả thuế hàng năm tới
2 đồng 20 xu. Phần 10 ngày sưu c̣n lại, 6 ngày dành cho việc công
ích của tỉnh (Dụ ngày 9/1/1904). Trong nỗ lực tận thu và do nhu cầu
nhân công làm đường xá, Khâm sứ Levecque cho phép mua lại 2 ngày sưu
dùng cho việc làng xă, và dành 8 ngày cho tỉnh.( 31) Ngoài ra, điều
kiện làm việc thực vất vả, lại c̣n bị hành hạ, ngược đăi.
Đ̣i hỏi của dân Phiên Ai càng có ư nghĩa và dễ hiểu là từ năm
1881, Nam Kỳ đă băi bỏ chế độ sưu dịch qua Nghị định ngày 10/5/1881
của Tổng thống Jules Grévy. Để có nhân lực làm việc công ích, các
tỉnh trưởng có quyền trưng dụng mỗi xuất đinh không quá 5 ngày. Một
nghị định khác ngày
24/3/1884
của Thống đốc Nam Kỳ cũng miễn sưu dịch cho người trên 55 tuổi. Năm
năm sau, nghị quyết hành chính ngày
5/3/1889
cho phép mua lại số ngày bị trưng dụng. Nhưng ngày 20/6/1891, Thống
đốc Nam Kỳ lại ra một thông tư (circulaire) cho phép mua 3 ngày sưu
tỉnh, và 2 ngày c̣n lại dành cho việc công ích xă.(32)
Nhằm phản ứng lại thái độ cửa quyền của huyện quan, ngày
9/3/1908, khoảng hơn 300 nông dân kéo tới huyện lÿ Đại Lộc xin giảm
sưu dịch và trả tự do những người bị bắt. Theo báo cáo của Công sứ
Charles, huyện quan đồng ư thả 3 người trên. Hai ngày sau, 11/3,
khoảng 300 tới 400 dân Đại Lộc và Điện Bàn lại kéo tới Ṭa Công Sứ
Pháp ở Faifo (Hội An), đưa kiến nghị xin giảm sưu và thuế thân.
Charles ra thuyết phục, nhưng các đại diện cương quyết sẽ chỉ trở
lại làng xóm sau khi yêu sách được thỏa măn. Đêm đó, đoàn biểu t́nh
ngủ lại trước Dinh Công Sứ. Số người tham dự biểu t́nh ngày một đông.
Ngày 13/3, Charles bắt hai người cầm đầu. Đoàn biểu t́nh bèn đ̣i trả
tự do ngay cho hai người trên, nhưng Charles từ chối. Đám đông tràn
vào các pḥng sở và nội vi Dinh Công Sứ làm áp lực. Charles cho lệnh
lính tập đàn áp bằng côn và gậy, đẩy lui đoàn biểu t́nh, rồi đặt
chướng ngại vật trên trục lộ dẫn vào toà Công sứ. Nông dân vẫn chiếm
giữ chợ và các đường phố trong tỉnh lÿ. Họ lùng bắt những người thu
thuế chợ, hành hung, đập phá cơ sở và đe dọa đến tính mạng của các
hoa chi này.
Ngày 21/3, đoàn biểu t́nh tràn vào Dinh Tổng Đốc ở Điện Bàn (ngă
ba Quốc lộ 1 và đường dẫn vào Faifo), định bắt Hồ Đắc Trung phải lên
xe theo họ lên Hội An xin giảm sưu thuế. Charles vội sai một toán 30
lính tập tới bảo vệ Dinh Tổng Đốc và an ninh các quan lại. (33) Hôm
sau, 22/3, dân chúng lại tràn vào Dinh Tri phủ Điện Bàn, hành hung
lính lệ, rồi bắt giải Tri phủ lên Faifo. Được tin, Charles sai Thiếu
Úy (Lănh binh) Léonard Sogny (người sau này trở thành Giám đốc Mật
thám Trung Kỳ) đem 20 lính tập tới giải vây. Sogny cứu được viên Tri
phủ giữa đường từ Điện Bàn tới Faifo, bắt giữ 5 người; 3 người khác
bị chết đuối khi bơi qua sông trốn chạy. Sau đó, Charles phái 15
lính bảo an tới lập một đồn ở Điện Bàợn để bảo vệ an ninh.
Bốn ngày sau nữa, 26/3, hỗn loạn diễn ra ở phủ Thăng B́nh (phía
Nam Điện Bàợn). Tia lửa điện có lẽ là việc Tri phủ Thăng B́nh và
Sogny dẫn lính đến bắt Ấm Hàm [Nguyễn Thành] (một đồng chí của Phan
Bội Châu), người bị coi như chủ xướng cuộc dân biến. Khoảng 1,000
nông dân tràn vào phủ lÿ, phá hủy ṿng thành, đập phá pḥng ốc.
Sogny, chỉ biết tin trên khi đă về tới chợ Được để chờ sà-lúp dẫn
giải Ấm Hàm về Faifo, bèn sai một tiểu đội lính tập xuống giải cứu
Tri phủ Thăng B́nh. Bị tấn công bằng gạch và gậy gộc, toán lính này
bắn 9 phát súng vào đám đông, khiến 1 người chết, 4 người khác bị
thương. Đoàn biểu t́nh vẫn chưa chịu giải tán, tụ tập ở những thửa
ruộng gần phủ lÿ. Măi tới khi thám tử Breugnot dẫn thêm 20 lính tập
tới tăng viện, dân mới rút lui. Breugnot lập một đồn lính với 10 tay
súng ở phủ lÿ để bảo vệ Tri phủ.
Tại Tam Kỳợ hàng ngàn dân chúng cũng kéo tới vây quanh phủ lÿ sau
khi một lănh tụ duy tân quan trọng bị bắt. Tri phủ và viên Đề đốc
phụ trách việc đắp đường từ Tam Kỳợ vào Nông Sơn bị cô lập trong phủ
đường. Măi tới khi Thiếu Úy Salvant từ Faifo trở về mới giải cứu
được hai quan chức trên. Viên Đề Đốc bị chết sau đó.
Những ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4/1908, cuộc biểu t́nh ở Faifo
đă bớt khí thế. Số người tham dự giảm dần. Ngày 1/4, không c̣n ai
tiến vào Faifo nữa mà chỉ tuần hành quanh Dinh Tổng đốc, và phủ lÿ
Điện Bàợn. Lư do chính là Levecque đă tăng phái cho Quảng
Nam
220 lính khố đỏ từ Huế,
Tourane,
Đồng Hới, Hà Tĩnh, Thanh Hóa và Vinh. Charles cũng đích thân tới Hội
An ngày 28/3, mang theo Trương Như Cương và Thượng thư Bộ Binh (Vương
Duy Trinh). Hàng trăm người cầm đầu biểu t́nh, kể cả các “thân sĩ”
Duy tân, bị bắt giữ. Charles c̣n chia đạo quân tăng viện làm 4 đội
tuần tiễu bốn khu vực Tam Kỳ, Thăng B́nh, Duy Xuyên/Đại Lộc và Điện
Bàn/Ḥa Vang. Bởi thế, sau khi 3 nông dân bị xử tử v́ đă d́m chết
một chánh tổng, t́nh h́nh Quảng
Nam
lắng dịu dần. (34)
Quảng
Nam
chưa êm, đă đến lượt Quảng Ngăi. Từ ngày 30/3 tới 12/4/1908, nông
dân biểu t́nh trước dinh Tuần Vũ Lê Từ. Ngày 3/4, Công sứ Ch. Dodey
[Dodez] bắt giữ cựu Bố chính Lê Tựu Khiết, một cựu thủ hạ đắc lực
của Nguyễn Thân nhưng bắt đầu có ư hướng khác, và Ấm Nguyễn Bá
Loan–con trai cựu Thượng thư Nguyễn Bá Nghi, một cựu lănh tụ Cần
Vương đă về hàng–với tội cầm đầu cuộc nổi dạy. Tuy nhiên, những đoàn
biểu t́nh vẫn chưa chịu giải tán. Họ nằm dài trên đường, ngăn cản
không cho bất cứ ai rời thành, bất chấp roi vọt hay những lời hứa
hẹn, thuyết phục của quan chức Pháp-Việt. T́nh h́nh chỉ êm dịu dần
sau khi Levecque tăng viện cho Quảng Ngăi một số lính tập. Ngày
12/4, đại diện dân chúng mới tuyên bố sẽ rời thành, với điều kiện
được giảm thuế cho người nghèo. Hôm sau, 13/4, giữa lúc hầu hết nông
dân đă giải tán, bỗng có tin dân B́nh Định và Thừa Thiên đă nổi dậy
và được đồng ư giảm sưu dịch. Buổi chiều, khoảng 1,000 người lại kéo
tới tụ họp trước dinh tỉnh. Một số định đốt trại lính gần đó; khiến
hai người bị bắn chết tại chỗ. Tại hướng khác, một toán lính Pháp
bắn chết hoặc bị thương 13 người. Nổi giận, đoàn biểu t́nh bắt giữ
gia đ́nh của một phó lănh binh và các lính tập, cùng 6 lính dơng. Họ
c̣n nhận sông chết hàng chục người từ chối “xuống đường”. Ngày 17/4,
Levecque cho lệnh thẳng tay đối phó. Lính Pháp nổ súng vào đám đông.
Khoảng 40 người biểu t́nh chết hoặc bị thương.(35) Có người cho rằng
số thương vong lên tới hàng trăm.(36)
Phong trào chống sưu dịch cũng lan rộng tới Thừa Thiên và B́nh
Định. Nông dân Thừa Thiên tụ họp ở Công Lương từ ngày 9/4, dự định
đến Ṭa Khâm nạp kiến nghị xin giảm thuế vào ngày hôm sau. Ngày
10/4, Phủ Doăn mang một toán lính tới giải tán, th́ bị ném đá. Một
Phó quản lính dơng c̣n bắn chết một người toan làm đắm thuyền của
Phủ Doăn. Đám đông liền ào tới, bắt Phủ Doăn và đoàn tùy tùng làm
con tin. Viên Phó quản và toán lính dơng bị hành hung, ngâm nước và
phơi nắng. Sáng ngày 11/4, một đội lính tập tới giải cứu Phủ Doăn
nhưng không thành công. Khoảng 10 giờ sáng, hàng trăm người biểu
t́nh dẫn giải Phủ Doăn tới Toà Khâm xin giảm sưu thuế, bị lính tập
trang bị gậy gộc, đẩy lui. Phủ Phụ chính bèn cử Tham tri bộ H́nh
cùng hai người khác tới Công Lương điều đ́nh việc phóng thích con
tin. Buổi trưa, đoàn biểu t́nh vây quanh dinh quan Việt, tuyên bố
chỉ giải tán khi các nguyện vọng được thỏa măn. Công sứ Huế bèn cho
lệnh lính tập giải tán bằng gậy gộc. Khoảng 4 giờ chiều cùng ngày,
khoảng 1000 người tụ họp trước dinh Công sứ, xin giảm thuế. Mờ sáng
ngày 12/4, một đại đội Lê Dương kéo tới Công Lương, quyết giải thoát
được Phủ Doăn. Đồng thời, lính kéo vào các thôn xă lân cận, bắt giữ
hơn 34 nông dân. Trong khi đó, lúc 7 giờ sáng cùng ngày, đoàn biểu
t́nh xuất phát từ An Cựu lại kéo vào thành phố. Họ chia nhau thành
từng nhóm khoảng 50-100 người, chiếm giữ các cửa vào nhà ga, và
khoảng đường từ Bộ Công tới dinh các quan tỉnh. Chiều ngày 13/4, Lê
dương Pháp thẳng tay đàn áp sau khi đoàn biểu t́nh tấn công một đồn
Cảnh sát ở chợ. Một số bị thương nặng. Hai người bị chết đuối. Ngay
đêm đó, Phủ Phụ chính theo lệnh Levecque ra chỉ thị cấm bất cứ ai
vào thành phố. Ngày 14/4, lính Pháp mạnh tay giải tán những đoàn
biểu t́nh trước các dinh quan Việt. Hai người bị chết đuối, hai
người khác trọng thương. Ngày 15/4, dân biểu t́nh rút về hướng Phú
Bài, cách thành phố 15 cây số, rồi lần lượt giải tán. Những ngày kế
tiếp, quan binh Pháp-Việt hành quân bố ráp, bắt giữ nhiều người, kể
cả ba người cầm đầu là Ấm Toản, Ấm Mănh và Ấm Mộng.(37) Đến cuối
tháng 6/1908, t́nh h́nh mới tạm yên.
Biên độ những cuộc biểu t́nh lên cao nhất tại B́nh Định. Dân
chúng bỏ phương thức tranh đấu bất bạo động, sử dụng bạo lực. Điểm
nổ đầu tiên là Bồng Sơn, phủ lỵ giáp ranh Quảng Ngăi. Do sự khích
động của những đoàn cúp tócá từ Quảng Ngăi kéo vào, dân Bồng Sơn nổi
lên, lũ lượt kéo về dinh Tổng Đốc ở phiá Nam. Dọc đường, đoàn biểu
t́nh ngày thêm đông. Ngày 16/4, khoảng 3, 4 ngàn người vây quanh
dinh Tổng đốc (tại ngă ba Quốc lộ 1 và 19). Trong khi đó, tại các
địa phương, dân chúng bắt giữ hương chức, nhân viên thu thuế và các
chủ thầu thuế chợ. Họ c̣n tịch thu bằng sắc và ấn triện của các lư
trưởng, chánh tổng, tạo nên t́nh trạng vô chính quyền khắp nơi. Ngày
18/4, hai đại đội bộ binh Pháp đổ bộ xuống Qui Nhơn. 100 lính da
trắng khác cũng từ Quảng Ngăi kéo xuống Bồng Sơn. Ngoài ra, Levecque
tăng viện cho B́nh Định nhiều đội lính tập, lính dơng và đích thân
vào B́nh Định giải quyết. Từ đầu tháng 5/1908, Công sứ Pháp quyết
dịnh cho các đội tuần tiễu được tự do nổ súng, giết hoặc làm bị
thương ịágiặc đồng bàoáỂ để thị oai. Đồng thời, cách chức Tổng đốc
B́nh Định cùng một số tri huyện, tri phủ, và xuống tay mạnh với giới
nho sĩ duy tân, kể cả Hồ Sĩ Tạo, một tri huyện đang cư tang mẹ tại
quê. Chỉ trong vài tuần, trật tự dần dần được văn hồi. Hàng trăm
người tử nạn hoặc bị tống giam, làm án trong vụ “loạn đồng bào” hay
“loạn cúp tóc” trên. (38)
Phong trào dân biến ở phía Nam giảm hẳn cường độ ở Phú Yên, nhưng
lại bùng nổ mạnh ở các tỉnh phía Bắc Trung Kỳ, ngoại trừ Nghệ An.
T́nh h́nh rối loạn nhất tại Hà Tĩnh. Toàn quyền Bonhoure phải tăng
viện cho vùng này hai đại đội lính tập và ra lệnh thẳng tay thanh
trừng giới nho sĩ; nhưng đến tháng 8/1908, cuộc dân biến mới coi như
chấm dứt.
Khi cuộc dân biến vừa khởi dậy, Phan Châu Trinh đang ở Hà Nội.
Thống sứ Miribel đă có dịp nói chuyện với Phó bảng Trinh. Tán thành
đề nghị hủy bỏ chế độ khoa cử cũ và mở các trường học mới ở Trung Kỳ,
Mirabel đề nghị nên chiêu dụng Phan Châu Trinh.(39) Nhưng ngày
29/3/1908, từ Faifo, Levecque–qua những lời kết tội của công sứ
Charles, Tổng đốc Trung, Cơ Mật Viện trưởng Cương, v.. v...– yêu cầu
Mirabel bắt giam Phó bảng Trinh. Ngày 10/4, Phan Châu Trinh bị bắt
giải về Huế. Ba ngày sau, 13/4, Phủ Phụ Chính kết tội ông chủ xướng
vụ nông dân Quảng Nam nổi dạy (kích biến lương dân, mưu bạn vi hành),
và lên án tử h́nh. Levecque giảm c̣n chung thân khổ sai, rồi hôm sau,
14/4, kư nghị định đầy Phan Châu Trinh ra Côn Đảo. (40)
Tại Khánh Hoà, dù chưa có biến động nào, ngày 16/4/1908 Bố chính
Phạm Ngọc Quát và một viên chức Pháp vẫn tới phủ Ninh Ḥa bắt Trần
Quí Cáp cùng 9 người khác (6 giáo quan, 3 Đông y sĩ). Học tṛ Tiến
sĩ Cáp, Trần Huỳnh Liên, cũng bị bắt khi kêu gọi dân chúng phản đối.
Hôm sau, thêm 7 người “đầu trọc” mới từ Quảng Nam đi thuyền vào làm
củi bị câu lưu v́ có một chánh tổng tố cáo với Bố chánh Quát rằng họ
từng đề nghị ông ta nổi dạy, sẽ có Nhật Bản giúp sức. Dù chỉ t́m
thấy một bản Hải Ngoại Huyết Thư của Phan Bội Châu trong nhà trọ
Tiến sĩ Cáp, quan tỉnh Khánh Ḥa vẫn làm án tử h́nh ông, dựa theo
lời khai của Nguyễn Tư Trực. Ngày Thứ Bảy, 13/6/1908, Phủ Phụ chính
duyệt xét bản án của tỉnh Khánh Ḥa và y án Tiến sĩ Cáp. Riêng
Nguyễn Tư Trực, được giảm c̣n giảo giam hậu. Hai ngày sau, Thứ Hai,
15/6/1908,
Trần Quí Cáp bị hành h́nh tại Khánh Ḥa.(41)
Cũng nhân biến động này, Levecque ra tay thanh toán tất cả các
nho sĩ duy tân, bất kể họ “chủ chiến” hay muốn hợp tác. Đốc học Đặng
Nguyên Cẩn bị tống giam, giải về Hà Tĩnh. Những vụ án khó giải quyết
từ hơn năm trước đều t́m thấy đáp án.(42) Hơn 50 khoa bảng tên tuổi–trong
nỗi bàng hoàng phẫn hận của những người chủ trương “thờ người Pháp
làm bậc thày”–bị kết án khổ sai, đầy đi Côn Lôn hay Lao Bảo.(43)
Người đứng sau lưng việc trói buộc Phan Châu Trinh và các nhà
khoa bảng, kể cả Phan Bội Châu, vào vụ dân biến là Charles, Hồ Đắc
Trung, và Trương Như Cương. Trong buổi họp Viện Cơ Mật ngày 23/4, do
XLTV Toàn quyền Bonhoure chủ tọa, Cương cho rằng tổ chức của Phan
Bội Châu đă tung tin sai lạc, để xúi bảy dân chúng đ̣i giảm thuế và
sưu dịch, mà theo Cương vừa phải, dân chúng có thể chịu đựng được.
Ngày 3/5, trong báo cáo về vụ dân biến, Charles buộc Phan Châu Trinh
tội chủ mưu.(44) XLTV Toàn quyền Bonhoure cũng nghiêng dần theo
Charles. Ngày 3/7, Bonhoure nhận xét rằng những bài thơ của Phan
Châu Trinh, dưới h́nh thức triết lư, phản ảnh những lư thuyết và tư
tưởng cách mạng của những nhà cải lương Trung Hoa; và dù chúng không
có dạng thức bạo động như những tài liệu của Phan Bội Châu nhưng có
lẽ xảo quyệt hơn, nguy hiểm hơn cho sự thống trị của Pháp. Gần ba
tuần lễ sau, ngày 22/7, trong báo cáo tổng kết về vụ dân biến,
Bonhoure c̣n lên án Phó Bảng Trinh là người khởi xướng phong trào
chống sưu thuế toàn miền Trung.(45)
b. Vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội:
Mùa Thu 1908, một biến cố khác lại nổ ra ở Hà Nội. Khoảng 8 giờ
tối 27/6/1908, 80 binh sĩ Pháp thuộc Trung đoàn 4 Pháo binh, và 125
binh sĩ Trung đoàn 9 Bộ binh bị ngộ độc sau bữa ăn tối. V́ thuốc độc
quá nhẹ, không người nào bị thiệt mạng.
Cuộc đầu độc trên thực ra là bước đầu của một âm mưu nổi dạy đă
chuẩn bị từ cuối năm 1907. Cuối tháng 3/1908, Công sứ Hà Đông đă
được tin mật báo về âm mưu này, nhưng không t́m ra dấu vết ǵ. Trước
ngày hạn định, qua lời thú tội của một con chiên tham dự âm mưu trên,
một linh mục (cố Ân) mật báo cho các viên chức Pháp biết trước. Bởi
vậy, Tư lệnh Hà Nội, Trung tướng Piel, và cấp chỉ huy Pháp đă có
những biện pháp kiểm soát mạnh, như thu súng của lính Việt và cấm
quân. Đồng thời, mật thám Pháp mở rộng màng lưới càn quét, bắt giữ
hàng trăm người, kể cả Đồ Đàm, cựu đầu bếp, Hai Hiên, 2 Hạ sĩ quan (đội)
và 1 lănh binh.
Ngay ngày hôm sau, XLTV Toàn quyền Bonhoure triệu tập một Hội
đồng Đề H́nh (theo điều 23 của Nghị định ngày 15/9/1896). Tuy nhiên
Bonhoure chống lại áp lực của khoảng từ 250 tới 300 Pháp kiều tụ tập
trước Dinh Toàn quyền, đ̣i phải hành quyết ngay các thủ phạm, và
khẳng quyết những kẻ phạm tội phải được xét xử trước pháp luật. Ngày
6/7/1908, ba hạ sĩ quan Việt–Đội Binh, Đội Cốc và Đội Nhân–bị lên án
tử h́nh, và xử chém hai ngày sau tại ba nơi trong thành phố Hà Nội,
thủ cấp treo lên hầu cảnh cáo đám đông. Sau đó, trong các phiên xử
ngày 16/7, 3/8 và 25/8 kết thêm 8 án tử h́nh, 4 chung thân, và 70 án
tù.( 46)
Tất cả những sĩ phu thuộc phong trào Đông độ–như Hoàng Tăng Bí,
Dương Bá Trạc, Nguyễn Quyền ở miền Bắc, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế,
Lê Văn Huân v.. v.. ở miền Trung–đều bị trói buộc vào vụ đầu độc này.
Cuộc điều tra của Pháp cũng t́m thấy Hoàng Hoa Thám (1846-1913) có
liên hệ. Đề Thám đă là cái gai trong mắt người Pháp từ lâu. Tuổi
ngày càng lớn, thế lực Đề Thám ngày thêm suy giảm. Bởi vậy, Đề Thám
khéo léo cư xử, cố tránh tạo cơ hội cho Pháp động binh. Nhưng với
những người Việt yêu nước, Đề Thám vẫn là tượng trưng của tinh thần
kháng Pháp, một thứ hùm thiêng Yên Thế. Phan Bội Châu, chẳng hạn, đă
hai lần t́m tới Thái Nguyên và đạt được một mật ước liên kết hoạt
động. Một số thủ lănh người Hoa cũng t́m đến Yên Thế ra mắt Đề Thám.
2. Anthony Klobukowski (1908-1911):
Ngày
26/6/1908,
Klobukowski–một nhà ngoại giao, con rể của Paul Bert, từng làm việc
với Thống đốc Thomson ở Sài G̣n, Tổng Trú sứ Bert và rồi Toàn quyền
Constans ở Hà Nội, trước khi giữ những chức ngoại giao ở Nhật và
Xiêm La–được bổ nhiệm chức Toàn quyền. Tuy nhiên, gần ba tháng sau
mới tới Sài G̣n. Những cuộc biến loạn ở Đông Dương, và phản ứng của
Pháp kiều, khiến Paris cho lệnh Klobukowski theo đuổi một chính sách
có thể gọi là “cây gậy và củ cà rốt”–nâng cao giá trị các quan lại,
phân tán bớt quyền hành của chính phủ liên bang, và cải thiện những
biện pháp như độc quyền công quản.
Trong những tháng “trăng mật,” Klobukowski đi chu du khắp nơi.
Tại Huế, Klobukowski cho lệnh Phủ Phụ chính phải nghiên cứu việc cải
tổ thuế thân và sưu dịch; nhưng cũng đồng thời đặt ra tiền lệ là từ
nay các quan địa phương chỉ nhận lệnh trực tiếp từ các công sứ. Phủ
Phụ chính, như thế, bị tước hầu hết quyền lực.(47) Tại Bắc Kỳ, thành
lập một Hội đồng Tư vấn, một mô thức mới của Hội đồng Kỳ lăo của
Bert năm 1886.(48)
Mối bận tâm hàng đầu của Klobukowski vẫn là phong trào Đông Du.
Ngày
30/1/1909,
nhân dịp Klobukowski có mặt ở Huế, Phủ Phụ chính ra Dụ trừng phạt
cha mẹ có con xuất ngoại bất hợp pháp. Trong khi đó, Klobukowski áp
lực mạnh hơn với Tokyo để trục xuất Phan Bội Châu và Cường Để. Tháng
3/1909, Phan Bội Châu phải rời Hoành Tân qua Hong Kong, rồi Xiêm La.
Bảy tháng sau nữa, đến lượt Cường Để [26/10/1909].(49) Klobukowski
c̣n dàn xếp với các viên chức thuộc địa Bri-tên tại Hong Kong và
Thượng Hải để bắt giữ và trục xuất những nhà ái quốc lưu vong Việt.
Klobukowski cũng sửa đổi chính sách “chinh phục tinh thần” của
Beau; bỏ Tổng Nha Giáo dục Công lập (Nghị định ngày 16/3/1909), đóng
cửa Đại học Đông Dương, và giải thể Hội đồng Hoàn thiện Giáo dục.
Klobukowski c̣n đẩy mạnh kế hoạch sử dụng chữ quốc ngữ mới, cho lệnh
từ nay tất cả các công văn bằng chữ Hán phải kèm theo bản dịch quốc
ngữ. Tất cả sổ bộ hộ tịch (khai sinh, giá thú) cũng phải dùng hai
loại văn tự. Các viên chức tổng và xă sẽ được khen thưởng nếu khuyến
khích việc truyền bá chữ quốc ngữ. Tất cả các dịch lại tại dinh sở
các quan Việt trong ṿng một năm phải đọc và viết được tiếng Việt,
bằng không sẽ ngưng thăng thưởng.(50)
Tuy nhiên, v́ nhu cầu thông ngôn và thư kư vẫn c̣n thiếu và phần
nào để giải tỏa t́nh trạng “thất nghiệp” của các nho sĩ mà Paris cho
là nguồn gốc của sự t́nh h́nh bất ổn dưới thời Beau, ngày 14/4/1909
Klobukowski thành lập thêm một phân khoa sư phạm để đào tạo huấn đạo
(giáo quan cấp huyện, từ chánh bát phẩm tới chánh thất phẩm) và giáo
thụ (giáo quan cấp phủ, từ ṭng lục phẩm tới ṭng ngũ phẩm). Cho tới
năm 1910, phân khoa này đặt dưới quyền pḥng 2 của Phủ Thống sứ.(51)
Klobukowski c̣n mở trường Luật (Ecole de Droit) với hai trụ sở Hà
Nội và Sài G̣n. Học tŕnh là 2 năm. Trường khai giảng tại Hà Nội
ngày
15/4/1910.
Trong niên khoá 1911-1912, Sài G̣n có 18 sinh viên, và Hà Nội 32
người.(52)
Đầu năm 1909, Klobukowski cũng chấm dứt chương tŕnh gửi công
chức bản xứ qua Pháp tu nghiệp–chương tŕnh mà Beau tin tưởng là
phương tiện hữu hiệu nhất và duy nhất để chống lại ảnh hưởng của
Nhật Bản.( 53)
Phân khoa bản xứ của trường Thuộc Địa ở Paris vẫn được duy tŕ,
chỉ thay đổi cách tuyển chọn khoá sinh. Từ nay, chỉ những người tốt
nghiệp thi Hương hay Hội, và các ấm sinh mới được tuyển chọn. Sau đó,
ngày 30/10/1908, gom tất cả những cơ quan ở Pháp–như Alliance
francaise, Collège de France, Ecole coloniale (section d'Indigènes),
Ecole des languages orientales, Ecole Jule Ferry, Ecole supérieure
d'agriculture coloniale, Faculté des Sciences de Paris, Mission
laiique, Institut commercial de Paris, và Jardin colonial de Nogen–thành
Đoàn Giáo dục Đông Dương (Groupe de l'Enseignement indochinois en
France).( 54)
Với Hội truyền giáo, thái độ Klobukowski quay đủ một ṿng 180 độ.
Khi rời Pháp qua Đông Dương, Klobukowski tuyên bố: “Gíáo hội chủ
nghĩa không thể xuất cảng.” Nhưng vừa tới Hà Nội, Klobukowski cam
đoan với Gendreau, Giám mục Tây Đàng Ngoài: “Chống Giáo hội chủ
nghĩa không thể xuất cảng.”( 55) Giao t́nh giữa Klobukowski với các
giáo sĩ rất tốt đẹp. Klobukowski cũng quyết nhổ hết những cái gai
“kháng Pháp” trước mắt, hầu chinh phục đám đông thầm lặng, tức giới
nông dân và công nhân, đă bị các sĩ phu “bất măn” dọa nạt, bóc lột,
khiến một cổ hai tṛng–một lối biện minh quen thuộc của giới quân
đội và giáo sĩ.
Hoàng Hoa Thám trở thành nạn nhân đầu tiên của Klobukowski. Sau
khi xác định Đề Thám dính líu vào âm mưu nổi dạy ở Hà Nội mùa Hè
1908, Klobukowski cho lệnh tấn công căn cứ Yên Thế. Ngày 27/1/1909,
đồn điền Phồn Xương bị phá tan. Tháng 7/1909, Đề Thám bắt cóc một
con tin Pháp, định dùng để nghị ḥa, nhưng Klobukowski không nhượng
bộ. Các toán quân Pháp tiếp tục truy đuổi Đề Thám thật gắt gao.
Quân đội và các viên chức Pháp cũng được lệnh truy diệt các lănh
tụ Cần Vương c̣n sống sót ở vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh và Quảng Nam. Trong
đệ nhất lục cá nguyệt năm 1910, Công sứ Pierre Pasquier ở Thanh Hoá
và Công sứ Nghệ An hạ sát được một phụ tá đắc lực của Phan Bội Châu
là Đặng Thái Thân (11/3/1910), bắt giữ một số cán bộ khác như Ấm
Chước (10/1/1910), Nguyễn Thu Xiêm (27/1/1910), Tú Ngôn (5/3/1910),
Ưng Khuê, Nguyễn Châu (11/3/1910), và săn đuổi gắt gao Ấm [Lê] Vơ
cũng như Đội Quyên. Vợ con của Cường Để cũng bị bắt.( 56)
Để chinh phục đám đông thầm lặng, Klobukowski có vài biện pháp
cải cách. Vấn đề nóng bỏng thời sự nhất lúc bấy giờ là sưu dịch. Tại
Bắc Kỳ, ngày 9/12/1908, Klobukowski kư nghị định cho mua bằng tiền
tất cả 10 ngày sưu dịch với giá 0.15 đồng một ngày, hay 1.5 đồng mỗi
năm. Tiền này bỏ vào quĩ hàng tỉnh. Sau khi ngân sách hàng tỉnh bị
băi bỏ năm 1911, tổng số tiền mua sưu dịch ở Bắc Kỳ năm 1912 là
765,000 đồng. Tại An Nam, ngày 31/12/1908, Klobukowski phê chuẩn Dụ
ngày 4/12/1908 của Viện Cơ Mật, chia đều sưu dịch làm 5 ngày sưu
tỉnh, và 5 ngày sưu xă. Trong số 5 ngày sưu tỉnh, 2 ngày phải mua
lại bằng tiền với giá 2 hào (20 xu) mỗi ngày. Ba ngày c̣n lại có thể
mua, hay tự lao động. Ngoài ra, số ngày sưu tỉnh bị hạn chế trong
phạm vi tổng hay huyện, ngoài phạm vi này phải có phép Viện Cơ Mật.
Năm 1913, ngân sách Trung Kỳ dự trù thu được 364,500 đồng trên khoản
mua sưu dịch.(57)
Thái độ của Klobukowski với các nhóm duy tân “thờ người Pháp làm
bậc thày để cầu tiến bộ” có vẻ ôn ḥa hơn. Một trong những lư do là
trước ngày rời Paris, Klobukowski được chỉ thị phải tuyên bố chính
sách “liên kết” [collaboration]. Trong khi đó, ngay sau khi Phan
Châu Trinh bị bắt, kư giả Ernest Babut, Giám đốc tờ báo song ngữ (Hán-Việt)
Đại Việt Tân Báo ở Hà Nội, vận động Hội Bảo Vệ Nhân và Dân
Quyền can thiệp. Ngày 19/3/1909, Dân biểu Francis de Pressensé, Chủ
tịch Hội Bảo vệ Nhân và Dân quyền Pháp, đích thân yêu cầu trả tự do
cho Phó bảng Trinh. Phần Klobukowski–dù tin Phan Châu Trinh có tội–cũng
muốn cho Phó Bảng Trinh một cơ hội mới. Trong báo cáo lên Bộ Thuộc
địa ngày 19/3/1909–giữa lúc Quốc Hội Pháp đang chuẩn bị tranh luận
về vấn đề Đông Dương–Klobukowski tiết lộ có ư định nói chuyện với
Phó bảng Trinh trong chuyến kinh lư các nhà tù miền Nam vào tháng
7/1909 sắp tới. Nhưng phải hơn một năm sau, măi tới ngày 24/6/1910,
Phan Châu Trinh mới được tái xét xử, phóng thích và chỉ định cư trú
ở Mỹ Tho. Sự chậm trễ này phần nào v́ những ư kiến chống đối của
Pháp kiều tại Đông Dương, đặc biệt là giới quan lại mới nổi mà Phan
Châu Trinh không tiếc lời đả kích trong Đầu Pháp Chính Phủ Thưá năm
trước.
Tân Khâm sứ Jean Groleau (1908-1911) cũng khẳng quyết Phan Châu
Trinh và Phan Bội Châu, dù thuộc hai đảng khác nhau, chủ xướng vụ
dân biến 1908. Ngày
3/10/1910,
Groleau vẫn c̣n “hy vọng” rằng sau khi ra tù, Phan Châu Trinh sẽ
thực ḷng hợp tác.(58)
Hội Truyền giáo cũng chống chính sách “hợp tác.” Chủ trương của
Hội là “thống trị” và “đồng hoá,” nhằm tiến tới Ki-tô hoá toàn thể
dân Việt, hoặc ít nữa đưa các giáo dân Ki-tô lên hàng ngũ cai trị
trung gian. V́, theo cơ quan ngôn luận của Hội Truyền giáo, “mơ ước
được người Việt mến yêu qua chủ trương hợp tác, cũng chẳng khác ǵ
nước Prussia (Phổ) mơ ước dân Alssace thương yêu họ.”(59)
Klobukowski c̣n gặp khó khăn với giới lập pháp Paris. Ngày
2/4/1909, Dân biểu Xă hội de Pressensé tường tŕnh trước Hạ viện về
hiện t́nh Đông Dương, nêu lên những tệ trạng như tăng thuế thân quá
mức từ 14 xu lên 2.5 đồng, độc quyền rượu, muối và thuốc phiện,
tuyển mộ quan cai trị và án sát trong giới thông ngôn, bồi bếp của
các viên chức Pháp, và những vụ đàn áp chính trị nghiệt ngă (trường
hợp Phan Châu Trinh, đầu độc trại lính Hà Nội). Rồi, cảnh giác rằng
đừng nên “lừa bịp” (infliger des déceptions) dân bản xứ bằng
những lời nói không đi đôi với việc làm; và cần thực hiện ngay chính
sách “hợp tác.” Quốc Hội Pháp, sau phần tường tŕnh của Bộ trưởng
Thuộc địa Milliès-Lacroix, thông qua một nghị quyết do de Pressensé
soạn thảo, khẳng định chính sách hợp tác là cần thiết cho sự no ấm
của dân chúng và an ninh của các lănh thổ Pháp tại Viễn Đông.(60)
Đầu năm 1910, Klobukowski phải về nước tham khảo, và trở lại Đông
Dương vào tháng 6 cùng năm. Nửa năm sau, Klobukowski lại về nước. Từ
Paris, Klobukowski cho lệnh XLTV Toàn quyền Paul Louis Luce cấp học
bổng cho Phó Bảng Trinh qua Pháp cùng con trai là Phan Châu Dật, lúc
ấy mới 8 tuổi. Ngày 1/4/1911, Phan Châu Trinh cùng con trai rời Sài
G̣n. V́ phí tổn do ngân quĩ Liên bang đài thọ, hai người được đặt
dưới sự quản trị của Julien Fourès, Giám đốc Đoàn Giáo dục Đông
Dương tại Pháp.
V́ trợ cấp của chính phủ Đông Dương quá ít–300 quan hay 12 đồng
Đông Dương một tháng–Fourès, đề nghị và được Klobukowski đồng ư tăng
“lương” tháng lên 450 quan; nhưng rút thời gian ở Pháp từ sáu xuống
bốn tháng. Bộ trưởng Thuộc Địa Adolphe Messimy cũng tiếp kiến Phó
bảng Trinh để ḍ hỏi về t́nh h́nh Đông Dương. Tuy nhiên, ngày
1/6/1911, Klobukowski được bổ nhiệm làm Đại sứ Belgium. Messimy cử
Dân biểu Albert Sarraut (Sa lộ) lên thay trong thời hạn 6 tháng.
Sarraut chưa kịp lên đường th́ Messimy rời Bộ Thuộc Địa vào ngày
27/6. Tân Bộ trưởng Thuộc Địa Albert Lebrun tạm giữ Sarraut ở Paris.
Sự thay đổi này khiến Phan Châu Trinh bối rối chẳng hiểu số phận
ḿnh sẽ ra sao. Được hỏi về dự tính tương lai, lúc Phan Châu Trinh
nói muốn được sống ở Pháp, khi ngỏ ư sẽ về Sài G̣n sống bằng nghề
báo. Ngày 18/7, Phó bảng Trinh viết thư cho Sarraut, xin ở lại Pháp
thêm một năm để “lănh hội văn minh” và học tiếng Pháp. Hôm sau, khi
Jules Roux đưa tŕnh lá đơn của Phan Châu Trinh, Sarraut chấp thuận
ngay. Hôm sau nữa, ngày 20/7, Roux hoan hỉ thông báo cho “em” Trinh
biết rằng Sarraut “đă xem cái thư [ngày 18/7/1911] ấy” và “ưng cho
các điều em tỏ ra trong cái thư ấy.”(61)
Qua tháng 9/1911, Sarraut c̣n tiếp kiến Phó bảng Trinh, rồi, sai
Roux tới giúp Phan Châu Trinh dịch bản điều trần về vụ chống sưu
thuế 1908. Bản điều trần thống thiết–nhưng có nhiều chi tiết lầm lạc
và quá đáng [như cách xử tử “lăng đèn”, hay Tiến sĩ Cáp bị chém
trong ṿng 24 giờ dù đă có lệnh ân xá của Huế]–không đủ sức minh oan
cho Tiến Sĩ Kháng, Phó bảng Cẩn, hay Cử Nhân Phan Thúc Diện.
3. Albert Sarraut (1911-1914):
Sarraut tới Hà Nội ngày 15/11/1911, giữa không khí sôi động của
cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Hoa. Ấn tượng của những cuộc biểu
t́nh rầm rộ ở Sư Tử Thành [Singapore], hay Chợ Lớn–với lễ cắt bím
đuôi sam biểu trưng của nhà Thanh cùng điện văn ủng hộ chính phủ
Cộng ḥa lâm thời ở Yên Kinh mà Sarraut có dịp chứng kiến tận mắt
trên hải tŕnh đáo nhậm nhiệm sở–khiến Sarraut tái duyệt xét toàn bộ
chính sách thuộc địa theo tinh thần Nghị quyết “hợp tác” ngày
2/4/1909 của Quốc Hội. Công việc của Sarraut phần nào dễ dàng hơn
nhờ sự ủy quyền rộng răi qua đạo Luật ngày 20/10/1911 của chính phủ
Pháp, cho phép Toàn quyền Đông Dương được cai trị bằng Nghị định do
chính Toàn quyền ban hành.
Đối diện mối “hoàng họa” mới–có phần đáng sợ hơn hiểm họa Nhật
Bản (chiếm Đài Loan và Triều Tiên năm 1895, chiếm cảng Port Arthur
của Măn châu năm 1905, và mới sát nhập Triều Tiên năm 1910), v́ liên
hệ địa lư, chính trị, và v |