WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

 

TƯỞNG NIỆM NGUYỄN DU THẾ KỶ XX

Nhân ngày kỵ lần thứ 5 của Trịnh Công Sơn, Chuyển Luân xin giới thiệu bài viết 40 năm hành tŕnh âm nhạc Trịnh Công Sơn, Thái Ḥa và tôi của Trần Tuyết Hoa, nhân chứng sống thực về sự xuất hiện và lớn lên của một thiên tài âm nhạc mà chúng tôi từng tự hào gọi là Nguyễn Du thế kỷ XX.

Bài này sẽ được in như là lời bạt cho cuốn NH TR̀NH ÂM NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN của Nguyễn Hữu Thái Ḥa sắp xuất bản. Nguyễn Hữu Thái Ḥa là trưởng tử của Trần Tuyết Hoa và Nguyễn Hữu Thái, hai gương mặt quen thuộc của những phong trào Phật giáo và sinh viên tranh đấu suốt hai thập niên 60’ và 70’ tại Miền Nam.

Lớp sóng phế hưng giờ đă phần nào lắng xuống để cho kẻ trong cuộc người ngoài cuộc thấy rơ hơn bản lai diện mục lịch sử của cơn ác mộng huy hoàng vừa hào hùng, vừa bức xúc, vừa đau thương. Thiên tài của Trịnh Công Sơn phần lớn là thấy được và tài t́nh ghi lại được cơn ác mộng hào hùng, bức xúc, đau thương đó. Và ư thức dấn thân của kẻ mă thượng ham vui đă vô t́nh biến Trần Tuyết Hoa thành nhân chứng của sự nghiệp Trịnh Công Sơn mà hôm nay chúng ta phần nào được kể lại.

Chuyển Luân mong có cơ duyên phổ biến những tâm sự lịch sử khác của Trần Tuyết Hoa, Nguyễn Hữu Thái và Nguyễn Hữu Thái Ḥa.

40 Năm Hành Tŕnh Âm Nhạc

Trịnh Công Sơn, Thái Ḥa và Tôi

Trần Tuyết Hoa

Hành tŕnh âm nhạc Trịnh Công Sơn trong tôi và gia đ́nh chúng tôi khởi đầu từ mối tâm giao giữa những người bạn thời sinh viên. Ở đó tấm ḷng chân thành của bạn bè đă đưa chúng tôi lại gần với nhau tự lúc nào không biết. Cho đến khi nhận ra điều này th́ âm nhạc Trịnh Công Sơn đă là một phần trong cuộc sống của chúng tôi rồi...

Hành tŕnh âm nhạc Trịnh Công Sơn trong tôi và gia đ́nh chúng tôi khởi đầu từ mối tâm giao giữa những người bạn thời sinh viên. Ở đó tấm ḷng chân thành của bạn bè đă đưa chúng tôi lại gần với nhau tự lúc nào không biết. Cho đến khi nhận ra điều này th́ âm nhạc Trịnh Công Sơn đă là một phần trong cuộc sống của chúng tôi rồi...

NHỮNG GIỌNG CA

Đầu những năm 1960, tôi nghe một số t́nh ca là lạ Ướt mi, Thương một người... của Trịnh Công Sơn (TCS) - một nhạc sĩ trẻ chưa nổi tiếng lắm, qua giọng hát liêu trai của Thanh Thúy làm mê hoặc không ít người trẻ. Rồi Nh́n những mùa thu đi với giọng ca trong sáng rất dễ thương, mượt mà, có người cho là “sang trọng” kiểu Huế của Hà Thanh, nhất là khi song ca với giọng truyền cảm kiểu Bắc của Mai Hương, cũng một thời làm người ta khó quên. Đặc biệt khi nghe Chiều một ḿnh qua phố, th́ ở lứa tuổi học tṛ của chúng tôi thời ấy không ai mà không thuộc. Dân Huế lại “ghiền” hơn, có người thích đạp xe lang thang dưới những hàng me xanh

Sài G̣n để tự ru dỗ ḿnh cho đỡ nhớ nhà, tự th́ thầm với ḿnh: ”Chiều một ḿnh qua phố / Âm thầm nhớ đến tên em / Có khi nắng khuya chưa lên mà một loài hoa chợt tím... Ngày nào đời thôi có nhau xin người biết đau”. Có bạn kêu lên: ”Cha ni ‘ba lơn’ chi lạ, đau hay không th́ kệ người ta, mắc chi ḿnh phải ‘xin’?”

Tôi lại nghĩ khác, TCS đă linh cảm được thân phận của kẻ làm ‘người’, làm một ‘vết lăn trầm’ biết đau, cái nỗi đau trần thế trước uy lực cay nghiệt của tạo hóa. Ngay trong t́nh yêu mà TCS cũng đă bắt đầu trăn trở về thân phận con người từ đây chăng, rồi Diễm xưa, Hạ trắng, đến những Phôi pha, Mưa hồng, T́nh nhớ, T́nh xa... Rơ ràng t́nh có buồn thật nhưng không ’sến’, v́ những lời ca quá  thánh thiện và đầy triết lư: “Làm sao em biết bia đá không đau”... “Ngàn sau sỏi đá cũng cần có nhau”. Đến loạt Ca khúc Da vàng sau này, TCS luôn xin con người ‘biết đau’ trước nỗi đau của người khác trong chiến tranh.

Niên khóa 1964-65, tôi ở trong Ban đại diện Sinh viên Đoàn Đại học Văn khoa Sài G̣n (đường Nguyễn Trung Trực, nay là Thư viện Quốc gia). Lần đầu tiên tôi gặp TCS đến trường tôi hát với ca sĩ Thái Thanh. TCS giới thiệu và nhờ cô hát hai bài mới sáng tác là Lời buồn thánhTuổi đá buồn. Sơn người gầy, đeo kính cận rộng vành, dáng dấp thư sinh, nói giọng Huế hơi nhỏ nhẹ. Ôm chiếc ghi ta thùng đệm cho Thái Thanh hát giữa trời, trong sân cỏ của trường, không có sân khấu. Hai người đứng trước một bức tường rêu của ngôi nhà tiền chế bỏ hoang, nh́n ra đường Nguyễn Trung Trực. Khán giả hầu hết là những sinh viên trường chúng tôi và bạn bè ngồi xổm xuống đất, lót giấy báo hay guốc dép, không có ghế. Cứ như là mấy đêm hát lửa trại, vậy mà vui. Khi Thái Thanh và mọi người ra về, Sơn ngồi lại với nhóm sinh viên thân hữu của trường. Sơn hỏi ư kiến mọi người, ai cũng khen giọng ca Thái Thanh c̣n phong độ, c̣n khỏe quá... Tôi cũng công nhận giọng ca của cô c̣n tuyệt lắm và rất độc đáo, nhưng xin trả Thái Thanh về cho ‘Hội trùng dương’ và ‘Danube bleu’ (Ḍng sông Danube xanh), v́ bắt cô hát nhạc của TCS th́ ‘hơi uổng’ cho cả hai... Mọi người gật gù và Sơn chú ư đến lời nhận xét hơi ‘lạ’ của tôi rồi bắt đầu làm quen.

Vài tuần sau, Sơn mời Lệ Thu đến hát một số t́nh ca, quê hương và thân phận của Sơn nữa. Cũng hát trước bức tường rêu phong đó. Khán giả vỗ tay tán thưởng, góp ư này nọ. Sơn hỏi riêng tôi: ”Chị thấy sao?” Tôi nói thật: ”Giọng Lệ Thu hay, truyền cảm nhưng có vài bài như vẫn c̣n thiếu cái ǵ đó của chất nhạc TCS”. Sơn gật gật...

Rồi bạn bè tổ chức cho TCS tự hát một đêm bên trong căn nhà tiền chế sau này lấy làm pḥng ấn loát cho sinh viên. Sơn đứng ôm đàn hát một ḿnh, sinh viên chúng tôi lót giấy báo ngồi xuống đất vây quanh (như trong bức h́nh tôi c̣n lưu giữ và đă tặng cho TCS, sau này in vào mặt sau tập nhạc “Những bài ca không năm tháng”). Lần nào TCS cũng được sinh viên hoan nghênh nhiệt liệt và bắt đầu làm quen với sinh viên học sinh từ Đại học Văn khoa.

Tuy vậy, Sơn vẫn cứ muốn đi t́m một giọng ca thật thích hợp cho nhạc của ḿnh để cùng hát th́ hay hơn. Sau này Sơn đă gặp được Khánh Ly đang hát cho một pḥng trà ở Đà Lạt. Sơn đă mời cô về hát thử những ca khúc mới của ḿnh, cũng ở Đại học Văn khoa. Lần này th́ ai cũng phải công nhận giọng hát Khánh Ly trầm khàn, mà hát nhạc của Sơn th́ như là có chất ma túy, càng hát càng thu hút người nghe. Tôi chúc mừng Sơn đă t́m được tri kỷ rồi nhé.

GIỌT NƯỚC MẮT

Theo yêu cầu của bạn bè, anh Nguyễn Ngọc Bách tổng thư kư ban đại diện Sinh viên đoàn Văn khoa chúng tôi đă kư tặng các bạn của TCS một căn nhà tiền chế bỏ hoang trong khuôn viên trường ở góc đường Lê Thánh Tôn - Công Lư (nay là Nam Kỳ Khởi nghĩa) để làm Hội Họa sĩ Trẻ. Ở đó các họa sĩ như Nguyễn Trung, Đinh Cường, Trịnh Cung, Nguyên Khai... và họa sĩ bạn đến sinh hoạt thường xuyên. Và Sơn có thêm một chỗ an trú trong những ngày trốn lính ở Sài G̣n, nếu cái gác xép nhà xuất bản An Tiêm bị lộ. Trong t́nh trạng này, Sơn luôn di chuyển khi th́ ở nhà bạn bè, như Trần Viết Ngạc..., cứ mỗi chỗ vài hôm cho khỏi bị theo dơi. Và chỗ nào bị chú ư th́ Sơn phải biến ngay.

Dạo ấy, tôi thường liên lạc với thầy Nhất Hạnh và các thầy ở nhà xuất bản Lá Bối rồi An Tiêm để mang phổ biến những tác phẩm ḥa b́nh, đạo pháp và dân tộc của thầy Nhất Hạnh: T́nh người (Tâm Quán, bút hiệu đầu tiên của Thầy), Nói với tuổi 20, Phật giáo hiện đại hoá, Hoa sen trong biển lửa... Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện.

Đây là quyển thơ mang nội dung ḥa b́nh bất bạo động của thầy Nhất Hạnh mà một hôm tôi mang vào bán cho sinh viên Văn khoa. Vừa vào lớp xin phép thầy Châu Long (ở Pháp về), mới nh́n thấy tựa cuốn thơ là thầy đă la lên:” Ồ! Ḥa b́nh hả? Ḥa b́nh là có lợi cho Việt Cộng, không thể phổ biến ở đây được”. Thầy đuổi tôi ra khỏi lớp, cả bọn sinh viên phân ban Pháp như một lũ con Tây xua tay: ”Sortez! Sortez!...” (đi ra, cút đi). Tôi ôm chồng thơ, chào thầy rồi chạy vội ra khỏi lớp với tràng cười cợt đuổi xua theo sau lưng. Có một giọng tiếng Việt c̣n ngọng nghịu: ”Ra ngoài Bắc mà kêu ḥa b́nh đi!” Tôi nghẹn ngào, xấu hổ, nước mắt bỗng tuôn rơi v́ đời tôi từ nhỏ tới giờ chưa bị ai xua đuổi nhục nhă như vậy. Đi ngang pḥng thầy khoa trưởng Nguyễn Đăng Thục, thấy cửa mở, thầy ngoắc tôi vào:” Đi đâu, mang sách ǵ mà khệ nệ thế này?” Tôi vào, đóng vội cửa lại và kể hết cho thầy nghe. “Con xin lỗi thầy là đă không xin phép thầy trước”. Thầy Thục cầm một quyển thơ lên xem và khuyên tôi: ”Thôi cô mang về giả lại thầy Nhất Hạnh đi! Thưa với thầy là ở đây khó khăn lắm. Tôi ngồi đây cũng không yên thân nữa là. V́ cái vụ danh sách Ḥa b́nh Tự quyết của các ông giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ đấy. Ối dào, mấy cái anh Tây con này mà biết ǵ tới ḥa b́nh, đạo pháp và dân tộc kia chứ! Rơ khổ!”

Tôi mang chồng thơ về Đại học Vạn Hạnh (lúc đó c̣n ở chùa Pháp Hội) gặp thầy Nhất Hạnh, kể hết sự t́nh ở Văn khoa: ”...Họ bảo sách thầy có lợi cho Việt Cộng, thầy Thục cũng không can thiệp được...” Thầy Nhất Hạnh buồn bă khuyên tôi: ”Thầy khoa trưởng nói đúng đó, họ không c̣n là người Việt Nam nữa rồi, không hiểu ǵ hết hay không cần hiểu nữa. Họ đă vong thân chính trên quê hương của ḿnh rồi! Thôi cô đem về An Tiêm giao lại cho thầy Thanh Tuệ, đừng buồn nữa!”

Tôi lại mang chồng thơ ḥa b́nh về An Tiêm trong con hẻm đường Lư thái Tổ. Thầy Tuệ ngạc nhiên: ” Ủa, sao lại mang trở về?” Tôi lại kể lể bị xua đuổi ở Văn khoa. Vừa tức, vừa tủi thân, vừa thấm mệt, tôi bật khóc: ” Cuốn thơ dễ thương như vậy mà họ bảo là thân Cộng đó...Thầy”. Trên khung cửa nhỏ của cầu thang, TCS ló mặt xuống hỏi: ” Ǵ vậy?”, rồi ngoắc tôi lên. Thầy Tuệ bảo tôi lên uống trà với anh Sơn cho ấm, hết mưa rồi về. Tôi leo lên thang gác gỗ nhỏ xíu. Cái gác xép vừa đủ cho một bộ xa lông nhỏ cũ kỹ và một tấm màn xanh đen lớn che chắn nửa pḥng. Bên trong là giang sơn của các vị văn nghệ sĩ lang thang và trốn lính: Trịnh Công Sơn, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Bửu Ư, Nguyễn Đức Sơn... thường xuyên ghé một hai ngày rồi đi. Nhà xuất bản An Tiêm của thầy như một bến sông nhỏ của những con thuyền độc mộc tài hoa một thời, cứ tấp vào rồi lại ra đi. Tôi ngồi uống trà nh́n ra cửa sổ, mưa rỉ rả buồn chi lạ. Sơn đă nghe hết chuyện, lên giọng kẻ cả la tôi:” Có chi mà khóc như con nít rứa?” Tôi ức quá kêu lên: ” Chớ tụi nó cũng là sinh viên mà đuổi ḿnh như cùi hủi, không tức hả? Ngày mai tụi nó sẽ kháo ầm lên, cái con bé mặc áo tím đấy nay bày đặt đi bán sách ḥa b́nh thân Cộng bị thầy đuổi. Làm sao mà c̣n ngồi học được!”...

Sơn buồn buồn nh́n ra cửa sổ bảo tôi: ”Bạn nh́n ra terrasse (sân thượng) xem, thấy ǵ không?” Tôi nói không thấy ǵ, mưa vừa tạnh. Sơn bảo, nh́n kỷ đi. Tôi đang tức mà hỏi chuyện vô duyên nên gắt lại: ”Nh́n kỷ rồi, chỉ có một sợi giây thép phơi áo quần mà mưa nên thầy không phơi. Hết.” Sơn cười chọc quê làm tôi tức thêm: ”Rứa mà cũng học Triết, uổng quá!” Rồi Sơn chỉ tay qua lại như người lên đồng và bảo: ”Bạn thấy không? Những giọt mưa đang chạy qua lại trên sợi dây kẽm ngoài kia, hễ gió thổi qua th́ nó chạy qua, gió thổi lại th́ nó chạy lại, chúng nó d́u dắt nhau đi t́m sự ‘an trú’ mà không có...Rồi gió thổi mạnh th́ chúng run rẩy... và rơi xuống đất, tịch lặng...Tội nghiệp chưa? Mấy giọt mưa kia c̣n khổ hơn ḿnh nhiều. Tui với bạn ngồi đây được ‘an trú’ dưới mái tôn che chở của An Tiêm, dù nhỏ bé và nghèo cũng c̣n hạnh phúc hơn những giọt mưa ngoài kia... Đừng có ‘con nít’ nữa. Quan tâm làm ǵ những lời lẽ vong thân mất gốc. Phải bỏ ngoài tai mới sống nổi. Bạn mà cứ c̣n suy nghĩ kiểu ‘công nương’ đó th́ c̣n buồn khổ dài dài. Nh́n những giọt mưa kia có giống những giọt nước mắt quê hương ḿnh không? Ḿnh ở trong thành phố, cực mấy cũng c̣n sướng chán. Dân ở nông thôn mới khổ dễ sợ. Đạn bom cày xới mỗi ngày, bạn bè đi lính th́ cứ nghe tin ngă xuống liên tục. Thật là đau đớn, nhức nhối!...”

Trên đường về tôi suy nghĩ măi về những liên tưởng, những cộng hưởng lương tri của TCS. Từ những giọt mưa đi t́m an trú trên giây kẽm đến những giọt nước mắt quê hương ḿnh trong chiến tranh th́ thật lạ và cũng thật tuyệt diệu. Sơn đă đưa triết học vào âm nhạc rồi đó. Có phải từ những liên tưởng này mà Sơn đă viết bài Giọt nước mắt quê hương chăng? Hôm sau tôi vào trường th́ bị ngay một dàn chào hí hố:”Bồ câu xuất hiện rồi ḱa... Ôi giời! Sao bồ câu không bay ra Bắc mà kêu gọi ḥa b́nh nhĩ? vv...và vv...” Nhớ lời Sơn, tôi cứ mặc kệ phớt tỉnh vào học. Và thỉnh thoảng vẫn lên Đại học Vạn Hạnh giúp thầy sửa chữa bản thảo sách báo ḥa b́nh và qua An Tiêm gặp lại Sơn và các bạn bè nghệ sĩ lang thang. Họ bàn luận và bức xúc về chiến tranh cùng những hậu quả của nó, và nhất là sự có mặt nghênh ngang của lính Mỹ trên đường phố Sài G̣n...đến không chịu nổi nữa. TCS luôn đốt thuốc lá ngồi nghe, trầm tư và tích lũy bao ư tưởng bạn bè. Sau này, nh́n thấy trong những ca khúc TCS, thỉnh thoảng có bóng dáng bạn bè, như “C̣n hai con mắt, một con khóc người...” th́ rơ là cái kiểu Bùi Giáng rồi.

THỂ NGHIỆM CA KHÚC DA VÀNG

Sau vụ Phật giáo bị đàn áp năm 1966, t́nh h́nh chiến sự ngày càng tăng nhanh. Báo chí đưa tin người chết hai bên quá nhiều. Khoảng năm 1967, nhóm sinh viên Phật tử vận động ḥa b́nh chúng tôi bàn với TCS nên viết nhạc phản chiến, kêu gọi ngưng tiếng súng để nói chuyện giữa người Việt với nhau. Sơn nói muốn viết phải về Huế v́ ở đó là địa đầu của những trận chiến đẫm máu nhất. Nhưng sau một tuần Sơn viết cho tôi một lá thư bảo là ngày nào cũng úp mặt lên đàn mà ư nhạc vẫn chưa tới. Rồi sau đó nghe bạn bè ngă xuống. Huế đúng là địa đầu của tải thương và nhận xác. Không lâu sau, Sơn đem tập bản thảo “Ca khúc da vàng” vào Sài G̣n hát thử cho bạn bè nghe ở nhà anh Trần Viết Ngạc. Ai cũng thấm thía đến sững sờ, nhất là các bài Người con gái Việt Nam da vàng, T́nh ca người mất trí, Gia tài của mẹ...

Chị bác sĩ Đổ Thị Văn và tôi đem về thể nghiệm ở trụ sở Sinh viên Phật tử trong Trung Tâm Quảng Đức 294 Công lư (nay là Nam Kỳ Khởi nghĩa). Nhưng khi chúng tôi trương tấm biểu ngữ “Trịnh Công Sơn và Ca khúc Da vàng” lên trước cổng th́ ai cũng ngại. Chị Văn th́ thấp, tôi th́ cao nên cái biểu ngữ cứ xéo xẹo hoài. Sơn vừa đến, hỏi:”Chứ con trai đâu hết mà để cho con gái leo lên thang vậy?” Tôi cười: ”Con trai mà ló ra đây để cho cảnh sát hốt vô trại lính à!” Sơn kêu: ”Chị Văn nhích lên tí cho bằng bên kia”. Chị cười ngặt nghẽo: ”Ta ráng hết sức rồi, ráng nữa té sao?” Sơn quăng điếu thuốc, bảo: ”Chị xuống đi, để tôi”, rồi leo lên cùng tôi căng thẳng biểu ngữ không nghiên lệch nữa.

Khi giới thiệu Sơn hát, anh đoàn trưởng nói: ”Chính tác giả đă cùng bạn bè leo lên thang treo biểu ngữ đó”. Khán giả vổ tay nồng nhiệt. Sơn ôm đàn hát Người già em bé, Giọt nước mắt quê hương, Ca dao mẹ, Vết lăn trầm... Khi đến  loạt Ca khúc da vàng th́ khán giả đứng lên vỗ tay vang dội cả hội trường. Một số bạn phải chạy ra cổng canh chừng xe cảnh sát. Sau đợt thể nghiệm đó, TCS rất thành công, bạn bè đưa Sơn về hát ở Đại học Văn khoa.

“NỘI CHIẾN”

Một hôm, có một chị bạn của tôi và cũng là bạn TCS đă đến nhà tôi phê b́nh: ”Sao TCS viết nhạc như vậy mà chị cho là tiến bộ? Bài Gia tài của mẹ có câu ‘Hai mươi năm nội chiến từng ngày’. Chữ ‘nội chiến’ không đúng với chiến tranh Việt Nam. Đây là cuộc chiến chống Mỹ xâm lăng giành độc lập thống nhất chứ không phải nội chiến như Trịnh - Nguyễn ngày xưa”. Tôi nói nhưng rơ ràng là người Việt Nam hai miền Nam-Bắc đang cầm súng giết nhau kia mà. Chị bảo th́ do Mỹ đổ quân lên miền Nam và chỉ đạo từ A đến Z. Rồi chị hạ nhỏ giọng như mệnh lệnh: ”Các anh ở trong không bằng ḷng hai chữ ‘nội chiến’, chị nói Sơn sửa lại đi!”. Nói xong chị đi ngay.

Tôi nghe mà sợ quá vội chạy lên An Tiêm t́m gặp Sơn, cầm theo cả tâp Ca khúc da vàng Sơn vừa đưa tôi hôm 18/7/1967 có kèm chữ kư tặng. Tôi kể cho Sơn nghe và đề nghị sửa hai chữ ‘nội chiến’ cho rồi, chứ tôi ngán mấy chữ: “các anh ở trong không bằng ḷng” quá! Sơn suy nghĩ một hồi rồi nói có vẻ bực ḿnh: ”Mệt quá, nhạc viết ra rồi c̣n bắt sửa tới sửa lui...”  Sơn thở dài: ”Thôi tùy bạn, cho bạn toàn quyền muốn sửa ǵ cứ sửa!” Tôi đặt bút xuống gạch ngang chữ ‘nội chiến’ trong tập nhạc của tôi, viết lên trên đó chữ ‘giặc giă’. Rồi gạch bỏ luôn chữ đó, v́ thấy: ”Dỡ quá phải không Sơn? Hay là ‘chinh chiến’ vậy? ‘Chinh chiến’ nghe hơi nhẹ hơn tí, nhưng thôi, cũng được nghen Sơn?” Sơn ậm ừ: ”Tùy bạn... thôi cũng được!”

Tập nhạc tôi c̣n lưu giữ đến nay với mấy dấu gạch sửa đầy kỷ niệm đó. Cho dù Sơn đă đồng ư sửa lại bằng chữ ‘chinh chiến’, mà khi hát người ta vẫn cứ hát ‘nội chiến’, thế mới khổ. Khi tôi báo cho Sơn biết việc đó, Sơn cười: ”Bạn thấy chưa? Đó là quyền của người hát, làm sao ḿnh cản nổi!”

Giọng hát Khánh Ly đi vào Ca khúc da vàng của TCS như một “duyên kỳ ngộ” của CaNhạc. Từ đó dân Sài G̣n chỉ nghe TCS qua giọng hát Khánh Ly mà thôi. Và Sơn về an trú ở Hội họa sĩ trẻ trong một góc vườn Văn khoa. Thường khi không có giờ học, tôi băng qua đồi cỏ, xuống căn nhà  Họa sĩ trẻ nghe Sơn tập cho Khánh Ly hát. Một hôm, Mai (tên thật của Khánh Ly) nh́n thấy tôi bỗng kêu lên: ”Chị ơi, từ sáng giờ có mỗi chữ ‘chết’ mà em ‘chết’ măi không được, ảnh mắng em...ḱa!”. Sơn đang ngồi hút thuốc, nh́n ra cửa sổ có vẻ khó chịu. Th́ ra chữ ‘chết’ trong “chết trận Đồng Xoài...” trong bài T́nh ca người mất trí mà Sơn cứ bắt Khánh Ly phải láy xuống cho hơi Huế một tí. Mà cô này cứ ‘chết’ lên theo giọng Bắc hoài nên Sơn bực. Khi tôi nghe và phát hiện ra như thế, Mai à lên một tiếng. Tôi giải ḥa, bảo Sơn đừng có “khó chi mà ác rứa!” Rồi kéo Mai đi lên đồi cỏ chơi một ṿng cho đỡ căng hăy tập tiếp.

Khi Quán Văn mọc lên ở Văn khoa th́ ban đại diện cũ của chúng tôi hết nhiệm kỳ nên tôi ít lui tới quán sinh viên đó. Chỉ nghe sinh viên xầm x́ là do một nhóm sinh viên Văn khoa và bạn bè ở bên ngoài vô gầy lên. Quán đơn sơ, nằm trước pḥng ban đại diện cũ, để sinh viên có chỗ uống nước, tán dóc và để cho Khánh Ly, TCS hát với sinh viên. Sân khấu là các mặt bàn kê lại với nhau và đứng hát giữa trời.  

Khoảng năm 1967, Ban Văn nghệ Tổng hội Sinh viên Sài G̣n do anh Trương Th́n hướng dẫn có tổ chức một đêm hát cho sinh viên học sinh nghe ở trụ sở 4 Duy Tân (nay là Phạm Ngọc Thạch). Sau phần tŕnh bày sôi nổi của Tôn Thất Lập, Miên Đức Thắng và các bạn sinh viên trong phong trào tranh đấu Sài G̣n, Trịnh Công Sơn bước lên với chiếc ghi ta thùng, tự hát những bản nhạc sâu lắng nói lên thân phận con người và quê hương trong chiến tranh: Giọt nước mắt quê hương, Ca dao mẹ, Vết lăn trầm... Một ḍng nhạc trăn trở, tra vấn lương tri con người mà một nhà báo đă viết lên một câu để đời về sự nghiệp âm nhạc TCS: ”...Và từ đó nhạc Việt Nam không bao giờ c̣n như cũ nữa!”

Vậy mà hôm ấy khi Sơn vừa hát xong th́ có một người lên góp ư phê b́nh Phạm Duy xong lại mỉa mai TCS là giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng của cuộc chiến, ở nông thôn người dân đội bom, đói khổ hàng ngày mà ở đây người ta cứ ngồi “khóc” để than thân trách phận th́ vận nước này có hết điêu linh không?

Sơn ngồi bên, lặng đi một lát rồi hỏi tôi: ”Sao bạn mời tôi đến đây cho người ta chửi vậy!” Tôi cũng ngạc nhiên và trả lời Sơn là mục này không có trong chương tŕnh. Sao lạ vậy, tôi sẽ hỏi anh Th́n. Nhưng Sơn cũng bỏ ra về. Tôi phải hẹn Sơn và Th́n cùng đến Đại học Văn khoa chiều ngày hôm sau để thông cảm nhau. Từ đó, hai người lại trở thành bạn thân thiết cho đến bây giờ.

ANH SINH VIÊN NHẬT EGOCHI

Tôi không rơ nhạc của TCS có ma lực ǵ mà thu hút được người Nhật đến vậy. Trước Michico đă có Egochi sinh viên cao học Nhật đến Việt Nam làm luận án tiến sĩ về sử học và xă hội học năm 1966.

Anh đến Văn khoa gặp tôi, nhờ giới thiệu với TCS v́ anh rất thích bài Vết lăn trầm có câu: ” Đá lăn vết lăn buồn...” Sao đá mà cũng biết buồn? Tôi cười: ”Sao đúng ư tôi quá vậy? Tôi cũng thích nhất bài này trong số nhạc Sơn, nhưng câu đó không phải đá buồn mà vết lăn của đá nó buồn v́ đá lăn đi để lại trên đất một vết xước cô đơn, trầm buồn! Mà trên đất nước Việt Nam đang chiến tranh này, Egochi thử đếm xem có bao nhiêu vết xước cô đơn như thế trên đất, trong ḷng người? Cho nên TCS mới tha thiết kêu lên ‘Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau’! Egochi thấy chưa?” Anh cười, nói đùa: ”Tư tưởng lớn gặp nhau!”

Khi nghe Sơn ôm đàn nhắm mắt hát bài đó xong, Egochi ngây ngất nói: ”H́nh như tôi đă gặp anh Sơn trước đây, gặp ở đâu đó trong tiền kiếp!” Rồi anh nói thao thao về thuyết luân hồi của Phật giáo. Tôi nói: ”Có lẽ hai người gặp nhau trong cùng một nỗi đau dân tộc. Egochi th́ mang vết thương của hai quả bom nguyên tử không bao giờ lành trong ḷng người Nhật. C̣n TCS th́ đang bị vết thương chiến tranh này hành hạ từng ngày. Có đúng không?” Cả ba chúng tôi đều đồng ư.

Egochi nói muốn thử ra phố chợ xin ăn, thử sống một ngày lang thang của “kiếp ăn mày” ở Việt Nam, một đất nước đang chiến tranh để hiểu hết ư nghĩa của “nỗi đau cuộc sống”.

Một tuần sau, Egochi đến nhà tôi, trông giống như một người ăn xin thật sự, áo quần xơ xác, mặt mày lem luốc bơ phờ... và đói thật. Egochi nói: ”Mệt nhưng mà thích v́ cùng đói với các bạn ăn mày ở vỉa hè mà thương nhau lắm. Cùng chia xẻ nỗi đau và rất hạnh phúc!” Tôi đang chuẩn bị cho Egochi ăn, một người bạn tôi chơi ác, đi mua trứng vịt lộn về dấu, bảo nhắm mắt mới cho ăn. Mới ăn, anh nói: ”Ngon nhưng có cảm giác đang ăn một sinh vật!” Các bạn cười ầm lên, đưa ra con vịt con trong trứng lộn. Egochi ̣a lên khóc nức nở: ”Sao các bạn ác quá vậy! Tôi đă sát sanh rồi!”

Sau đó tôi bị bắt ba tháng v́ vụ tranh đấu Phật giáo miền Trung. Egochi đến trước cổng nhà giam khóc và xin bảo lănh tôi về, nhưng ai mà cho. Ra tù nghe tin anh bị trục xuất khỏi Việt Nam, nhận được thư anh nói ḿnh đang đi châu Phi để cùng sống và nghiên cứu về vùng đất c̣n lạc hậu nhất thế giới... Tôi kể hết chuyện cho Sơn nghe, Sơn bảo: ”Tay ni lạ thật, thánh thiện quá rồi cũng khó sống!” Tôi chỉ tiếc là chưa giới thiệu Egochi nghiên cứu về nhạc ḥa b́nh của TCS. Nhưng sau này có cô Yochoii Michiko đă đến Việt Nam gặp Sơn và làm luận văn cao học về ḍng nhạc phản chiến TCS tại đại học Paris vào năm 1985, được công bố rộng răi, nổi tiếng khắp thế giới.

HĂY SỐNG DÙM TÔI!

Tôi không thể nào quên được buổi sáng hôm ấy, vào 7.30g ngày 16/5/1967, bạn Phan Đạm Hiệp đạp xe đến gọi tôi thảng thốt: ”Chị Hoa ơi! Chị Mai tự thiêu trên chùa Từ Nghiêm rồi. Chị lên mau đi”. Tôi đạp xe vội lên Từ Nghiêm, vừa đi vừa khóc. Chị Nhất Chi Mai học Sử ở Văn khoa, tôi học Triết, và chị rất thương tôi, coi tôi như một người em tâm đắc, thường gọi đi làm công tác xă hội cùng chị vào các xóm nghèo vùng ngoại ô Sài G̣n. Một người chị nhu ḿ, hiền lành, một nữ tu Ḍng Tiếp hiện mà thầy Nhất Hạnh rất quư nể trong công tác với tâm bồ đề chân thành. Làm sao hiểu nổi chị đă chuẩn bị cho cái hạnh Bồ tát này, từ khi đọc báo nghe tin Morrison một giáo sư đại học Mỹ tự thiêu cho ḥa b́nh Việt Nam vào cuối năm 1965. Chị Mai đă khóc và kể lại cho tôi, Morrison bế đứa con gái thân yêu nhất đời Emily một tuổi ra trước ṭa nhà Ngũ Giác Đài bộ quốc pḥng Mỹ tự thiêu để thức tỉnh lương tri con người, mong chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Emily đứng nh́n ngọn lửa thiêu sống cha ḿnh kêu khóc: ”Cha ơi!”

Chị đă vô cùng xúc động và kính phục Morrison, rồi âm thầm tự nguyện đem thân làm đuốc để đáp lại tấm ḷng Bồ tát bên kia bờ đại dương trên xứ sở đang gây chiến ở Việt Nam...

Tôi lên đến nơi th́ ngọn lửa vừa tắt, Nhất Chi Mai của tôi ngồi xếp bằng như một pho tượng đồng đen bất động, mùi thịt da khét lẹt bốc khói. Tôi đặt tay lên đùi chị, phải rụt lại ngay, suưt bỏng tay ḿnh. Tôi gục xuống nức nở đau đớn: ”Mai ơi! Sao phải như thế này? Không c̣n cách nào khác sao, hỡ Mai?” Nh́n hai pho tượng nhỏ Đức Mẹ Maria và Quan Âm Bồ tát đặt ngay ngắn trước mặt chị với 10 bức thư cho gia đ́nh và cho những người có thẩm quyền gây chiến ở Việt Nam. Trong đó có bài thơ

Chắp tay tôi quỳ xuống:

Chắp tay tôi quỳ xuống

Sao người Mỹ tự thiêu

Sao thế giới biểu t́nh

Sao Việt Nam im tiếng

Không dám nói ḥa b́nh

 

Tôi thấy ḿnh hèn yếu

Tôi nghe ḷng đắng cay

Sống ḿnh không thể nói

Chết mới được ra lời

 

Ḥa b́nh là có tội

Ḥa b́nh là cộng sản

Tôi v́ ḷng nhân bản

Mà muốn nói ḥa b́nh

 

Chắp tay tôi quỳ xuống

Chịu đau đớn thân này

Mong thoát lời thống thiết

Dừng tay lại người ơi!

 

Dừng tay lại người ơi!

Hai mươi năm nay rồi

Nhiều máu xương đă đổ

Đừng diệt chủng dân tôi!

 

Chắp tay tôi quỳ xuống.

(Nhất Chi Mai, tự Nhất Chi

Kính cáo)

Tôi chép vội bài thơ và không dám ở lại với chị lâu hơn, cũng không thể tiễn đưa chị được v́ chùa sợ cảnh sát tới gây khó dễ. Cô bé Hiệp nữ sinh Phật tử đă vừa khóc vừa kể hết nỗi niềm của chị Mai cho tôi nghe, bởi em đă gần gũi chị suốt những ngày cuối.

Tôi không về nhà mà đạp xe qua An Tiêm, gặp TCS ở đó kể hết sự t́nh cho Sơn nghe và tôi khóc nhiều v́ thương chị Mai quá chừng. Sơn hốt hoảng rơi người xuống ghế, sửng sốt chết lặng một lúc rồi kêu lên: ”Trời ơi, con gái mà cũng tự thiêu à? Dễ sợ ghê quá, sao không ai can ngăn dùm?”

“Can ngăn ǵ nổi Sơn ơi, chị ấy đă âm thầm chuẩn bị rất kỷ ngay từ khi nghe tin Morrison tự thiêu bên Mỹ ḱa”. Tôi vừa khóc vừa đọc bài thơ Chắp tay tôi quỳ xuống của chị Mai cho Sơn nghe: ”Sơn thấy không, cái tâm Bồ đề của chị thanh cao vời vợi như vậy th́ làm sao mà can ngăn cho được. Chị thành Bồ tát rồi Sơn ơi!”

Sơn ngồi bất động, vẫn chưa hoàn hồn, trầm ngâm buồn bă, ứa nước mắt: ” Ừ, đúng rồi chỉ có cái tâm Bồ tát mới làm được một hạnh nguyện lớn lao như vậy!”

Vài ngày sau, Sơn nhắn tôi lên An Tiêm và ôm đàn hát miên man ca khúc vừa mới viết: ”Hăy sống dùm tôi, hăy nói dùm tôi, hăy thở dùm tôi...” Sơn hát xong, tôi kêu lên: ”Tuyệt quá Sơn ơi”. Sơn nói: ”Hôm đó bạn về rồi, suốt ngày ḿnh không làm ǵ được, suốt đêm cũng không ngủ được, cứ trằn trọc măi với câu thơ của chị Mai ‘Sống ḿnh không thể nói, Chết mới được ra lời!’ Tại sao vậy? Ḿnh đă tự hỏi bao lần như vậy. Tối qua vùng dậy viết... Cuối cùng đă trả lời được cho chị Mai, cho bạn và cho chính ḿnh bằng mấy nốt nhạc này đây. Được chưa?” Sơn đưa tôi bản nhạc chép tay vừa ráo mực. Tôi mừng quá đến chảy nước mắt: ”Được quá sơn ơi, bây giờ làm sao in ra cho sinh viên đây?” Sơn bảo: ”Khoan đă, để từ từ ḿnh sẽ in chung trong tập Ca khúc da vàng với bài Ru con (nay đổi là Ngủ đi con).

Bạn bè sợ 2 bài này ư mạnh quá, kẹt cho Sơn nên chỉ chuyền tay nhau trong sinh viên thôi. Sau đó, Sơn âm thầm mang đi Nhật Bản và được một hăng đĩa Nhật vinh danh là tiếng kêu ḥa b́nh thống thiết nhất từ Việt Nam, được dịch ra nhiều thứ tiếng phổ biến khắp thế giới cùng tên tuổi của TCS và Khánh Ly. Từ đó đến nay giọng ca Khánh Ly đă đưa Ca khúc da vàng của TCS vào tận tim óc con người, nó lột trần được nguyên h́nh cái Ác của người với người trong chiến tranh. Theo Sơn th́ con người dù có ác với nhau cách mấy đi nữa “rồi cũng bụi mờ...” Giọng ca Khánh Ly đầy ma lực, đến nỗi khi hát cứ như nhập thần. Cho nên Ca khúc da vàng bị cấm hát trên quê hương ḿnh như thân phận nhức nhối, đắng cay của nó...

SÚNG NỔ TRONG ĐÊM NHẠC TCS

Vào một đêm cuối năm 1967, sinh viên Văn khoa tổ chức một buổi nhạc TCS-Khánh Ly hát tại trường Văn khoa mới trên đường Cường Để. Lúc đó, tôi bận thi tốt nghiệp nhưng cũng ráng đến nghe. Sinh viên học sinh đông nghẹt giảng đường chính. Đến trễ, nên tôi được ngồi hàng ghế đầu, bên phải sân khấu là bục giảng. TCS và Khánh Ly ngồi gần ban nhạc bên cánh trái.

Chương tŕnh sắp bắt đầu th́ có hai anh chị lên micro, cô gái mặc áo dài hoa cà, chấm trắng, anh kia đứng ngay phía sau. Cô gái cất giọng miền Nam rơ ràng: ”Kính thưa quư vị và các bạn. Hôm nay là ngày 20 tháng 12, kỹ niệm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam...” Khán giả sinh viên la ó lên: ”Cái ǵ vậy? giỡn hay thiệt?...” Giáo sư Nguyễn Văn Trung ngồi cạnh tôi hỏi:” Ủa, tụi nó làm cái kịch ǵ vậy, Hoa? Sao bảo là Khánh Ly hát TCS mà?” Tôi cũng ngạc nhiên: ”Thưa thầy, con cũng không biết nữa v́ hôm nay con không ở trong ban tổ chức”. Rầm! Một cái ghế quăng lên phía micro và tiếng sinh viên la ó: ”Vi xi! Vi xi cướp micro rồi!” Người trưởng ban tổ chức chạy vội lên để lấy lại micro th́ nghe ‘đùng’ một tiếng nổ, anh ta quỵ xuống, sinh viên bắt đầu hỗn loạn. Thầy Trung và tôi cũng chạy vội ra cửa. Ra đến hành lang, tôi kịp nh́n thấy thanh niên áo sơ mi trắng đứng sau cô gái vừa nói ở micro, lôi cô ta chạy vội xuống bậc tam cấp và hai người biến vào đám đông. Tôi bị kẹt lại ở hành lang đông nghẹt người mà lan can cao quá không dám nhảy xuống. Một sinh viên Pháp xốc cánh tôi thảy qua lan can rơi bịch xuống đất, may mà không găy chân. Anh ta cũng nhảy theo sau, tôi chỉ kịp nói vội “Merci” (cám ơn) rồi chạy ra lấy xe Honda phóng về An Tiêm mà Sơn và Khánh Ly vẫn chưa về, nhưng có báo tin về là không sao.

Hôm sau tôi lên gặp Sơn, cho biết người tổ chức là Ngô Vương Toại bị bắn vào bụng, đang nằm bệnh viện. Anh ta không phải sinh viên Văn khoa, chỉ là bạn bè đến chơi, cùng sinh viên tổ chức Quán Văn ở trường cũ để Khánh Ly và TCS hát. Từ đó không ai c̣n dám tổ chức hát TCS ở các đại học nữa.

Sơn đang trốn lính nên cũng phải dời đổi chỗ ở liên tục, rồi bay ra Huế mai danh ẩn tích một thời gian. Lúc này tôi ít gặp Sơn v́ tốt nghiệp xong cử nhân c̣n bận làm cao học. Chỉ nghe Sơn vào lại Sài G̣n thường ngồi ở pḥng trà, bắt đầu uống rượu. Tôi trách Sơn sao lại cùng Khánh Ly ra pḥng trà hát uổng quá, nhạc của Sơn không phải hát ở chỗ này. Trong khi trước đó Sơn đă trách Khánh Ly “Em theo đời cơm áo...” 

Bùi Giáng phản đối tôi: ”Phải để hắn ra ngồi đó mới thấy hết cảnh ‘ta bà thế giới’ này, nh́n thấy hết mọi thứ người từ ‘thượng vàng tới hạ cám’, th́ nhạc hắn mới sâu, mới thấm thía, chứ cứ đóng khung trong ‘cửa Khổng sân Tŕnh’ th́ chỉ có một giới nào đó nghe thôi sao. Hắn cũng phải ‘nghe’ thiên hạ nữa chứ...” Ban đầu, tôi nghĩ là Bùi Giáng điên rồi, nhưng sau đó nghe hàng loạt ca khúc mang tính triết học, Đạo ca, Thiền ca, với những Cát bụi, Một cơi đi về, Đoá hoa vô thường..., th́ mới rơ là Bùi Giáng không điên tí nào. TCS luôn trăn trở về ư niệm đời người cô đơn mà ngắn ngủi: ”Chập chờn lau trắng trong tay”, “Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ...”, cho đến gần đây với Tiến thoái lưỡng nan, Tôi ơi đừng tuyệt vọng, Lặng lẽ nơi này, để cuối cùng th́ “Trời cao đất rộng một ḿnh tôi đi,... Đời như vô tận một ḿnh tôi về với tôi”.

Sau Tết Mậu thân Sơn ở Huế vào, đem theo nhiều ca khúc dữ dội hơn. Vào đầu những năm ’70, Sơn thường ra Huế hoạt động với Bửu Chỉ và nhóm sinh viên tranh đấu Huế, nhất là sau cái chết của Ngô Kha, người mà Sơn giới thiệu với tôi ở Hội họa sĩ trẻ, một nhà thơ nhiệt t́nh và tài năng. Vào giai đoạn đó, Sơn chịu nhiều ảnh hưởng của Ngô Kha nên chuyển hẳn sang nhạc tranh đấu đ̣i độc lập thống nhất với những tập Kinh Việt Nam, Ta phải thấy mặt trời... với những bài Không mất niềm tin, Huế-Sài G̣n-Hà Nội, Nối ṿng tay lớn...

NỐI  V̉NG TAY LỚN

Thời gian trước đó, tôi ít khi liên lạc với Sơn v́ đă có gia đ́nh và 2 con c̣n nhỏ, vẫn thường ru con bằng những bài Ca dao mẹ, Gia tài của mẹ....

Đến năm 1975 th́ nghe TCS hát Nối ṿng tay lớn, bài hát đầu tiên phát đi trên đài phát thanh Sài G̣n vào ngày giải phóng 30/4/75, cùng anh em sinh viên và anh Nguyễn Hữu Thái chồng tôi, bố của Thái Ḥa, anh là bạn học với Sơn thời trung học trường Providence (Thiên Hựu) ở Huế.

Tiếng hát mừng ngày ḥa b́nh, từ nay đạn bom thôi dày xéo trên quê hương Việt Nam thân yêu, ḍng máu thanh niên Việt Nam thôi chảy từng ngày, mẹ già Việt Nam thôi khóc trên xác con. Tiếng hát mong xoa dịu  cho vơi bớt hận thù, mong người chiến thắng nương tay với người chiến bại... Sơn tha thiết kêu lên: “Bàn tay ta nắm nối tṛn một ṿng Việt Nam...”, “Gịng máu nối con tim đồng loại / Dựng t́nh người trong ngày mới...”

Vậy mà có ai ngờ sau khi hát xong, Sơn bị một học sinh quá khích đẩy Sơn ra đường khi nhận biết anh chính là nhạc sĩ TCS th́ gay gắt: “Anh không có trách nhiệm ǵ ở đây”. Sơn buồn thấm thía đắng cay cho cái bi kịch cuộc đời trước những ấu trĩ nhỏ nhen đó. Về Huế, Sơn kể lại sự t́nh với anh Lê Khắc Cầm dạy Triết ở Đại học Huế, bạn Sơn và cũng là bạn tôi. Anh khuyên Sơn: “Đừng buồn nữa v́ dù sao tiếng hát Sơn cũng đă đi vào lịch sử, mà lịch sử th́ đâu có chờ đợi ai!”   

Sau này khi được nghe tiếng nói thật ḷng thân thương của anh bộ đội Nguyễn Văn Thọ th́ tôi càng thấy hết ư nghĩa cần thiết của tiếng hát Sơn và bạn bè vào giờ phút lịch sử ấy. Anh Thọ viết rằng: « Bài hát đă có tác động làm chùng tay súng. Một ngày, một giờ mà sinh mệnh của hàng triệu con người nằm trên đường tơ kẽ tóc, một sự kiện như thế thật quá trọng đại! Mặt đất bao la…anh em ta về…gặp nhau trong băo lớn quay cuồng trời rộng… Lời ca không phải là tiếng thách thức tử thủ. Lời ca không phải là tiếng bể máu như kết cục thường của chiến cuộc, lời ca khi ấy làm chùng xuống không khí thù hận và hằn học. Chúng tôi tiến vào Sài G̣n... Chiến tranh nào bao giờ chẳng có mặt trái, nhưng tiếng hát kia, bản nhạc ấy, mở ra cho cả hai bên nghe như một liều thuốc vô h́nh đă làm chùng xuống một thời khắc dễ nổi cáu và nổi dóa. » 

Tiếng hát đó đă dẫn tôi đạp xe đi loanh quanh thành phố để nh́n rơ bộ mặt của một thành phố ḥa b́nh, xem nó vui như thế nào. Nhưng không ngờ bên cạnh những vui mừng chào đón ḥa b́nh th́ đâu đâu cũng thấy  toàn áo quần quân đội Cộng ḥa vứt bỏ bừa băi ngổn ngang đầy đường và nhiều nét mặt lo âu sợ sệt.. thấy mà thương tâm. V́ tôi biết không ít người trong hàng ngũ chế độ cũ đang tháo chạy, gia đ́nh ly tan mất mát...Nước mắt bỗng rơi xuống lă chă, vừa mừng cho ngày đất nước ḥa b́nh, vừa khóc cho người ra đi... Mâu thuẫn quá phải không Sơn? V́ là trái tim Việt Nam, ai nh́n cảnh tượng ấy mà không đau xót ngậm ngùi. C̣n chuyện ǵ của lịch sử th́ hăy để cho lịch sử đánh giá về sau.

Tôi mang tâm trạng của một Natacha trong ‘Chiến tranh và Ḥa b́nh’ đang trở về ngôi nhà cũ đổ nát để t́m lại trong đống gạch vụn những mảnh t́nh nhân thế và hạnh phúc xa xưa, cái hạnh phúc trong sự mất mát, cái hạnh phúc của ḥa b́nh khi chiến tranh vừa đi qua...Sơn ơi! Tôi là như vậy đó. Bây giờ chắc Sơn không c̣n mắng tôi là ‘con nít’ nữa mà là ‘lẩm cẩm’ rồi phải không? Th́ cũng được thôi. Bởi v́:

“Chữ ‘Nhân’ c̣n một chút này

Chẳng cầm cho vững lại dày cho tan”

Xin phép cụ Nguyễn Du đổi chữ ‘Nhân’ thay cho chữ ‘Trinh’ trong Truyện Kiều. Sơn thấy sao? Được chứ? Đừng la tui ‘đa sự’ đó nghe?          

Nghe nói sau giải phóng Sơn về Huế một thời gian gặp khó khăn nên trở lại Sài G̣n khoảng năm 1979. 

NHÓM SÁNG TÁC MỚI

Tôi sinh hoạt ở Hội Trí thức Yêu nước, đa số là trí thức Sài G̣n cũ, nhiều người đi học tập cải tạo về. Thành phố đang nổi lên phong trào ‘Ca khúc chính trị’, Hội trí thức cũng tổ chức một đêm văn nghệ với các ca khúc mới. TCS có tham dự và nhờ Miên Đức Thắng hát hai bài ḿnh mới sáng tác ở Huế: Gánh rau ra chợ, Máy kéo nông trường.

Sau đêm diễn, nhóm văn nghệ sĩ và thân hữu ngồi lại giải lao, bàn bạc về t́nh h́nh văn nghệ sau 5 năm giải phóng. Nhận thấy khán thính giả, nhất là giới trẻ đă ngán ngẩm loại nhạc chiến đấu. Dù là chiến thắng anh dũng, nhưng hát hoài rồi cũng ngán, giờ muốn nghe những làn điệu t́nh cảm quê hương dân tộc nhẹ nhàng hơn trong xây dựng ḥa b́nh. Đă có t́nh trạng nghe lén nhạc vàng trước kia ở nông thôn, vùng ngoại ô hay đây đó trong thành phố. Thanh niên cũng bắt đầu ngán những bài ‘Đoàn ca’ rồi, họ đ̣i hỏi cái mới trong xây dựng chủ nghĩa xă hội, văn nghệ sĩ phải có trách nhiệm đáp ứng.

Tôi góp ư riêng với Sơn về hai bài vừa rồi: ”Nói thiệt Sơn đừng buồn nghen, mới nghe thấy lạ, tuy cũng hay nhưng không bằng mấy sáng tác cũ của Sơn đâu! Hăy để những chủ đề xây dựng lao động sản xuất và xă hội chủ nghĩa cho người khác viết, v́ họ có kinh nghiệm về các vấn đề này lâu hơn Sơn...Bạn cứ viết t́nh ca đi”. Sơn cười gằn: ”Thời buổi ni mà bạn biểu tui viết t́nh ca à?” Tôi bàn: “Đâu phải hễ nói tới t́nh ca là chỉ có t́nh yêu trai gái thôi sao? Thiếu ǵ ‘t́nh’ mà xă hội, lớp trẻ hôm nay đang cần, đang đói. T́nh yêu quê hương, đất nước đang hồi sinh sau chiến tranh, t́nh cỏ cây, hoa lá, núi rừng, biển sông, t́nh bạn, t́nh người... ‘Người với người’, sống sao cho tử tế. Chính vào thời buổi này, tâm lư con người, nhất là lớp trẻ trong một xă hội đang thay da đổi thịt rất cần ‘t́nh người’, cần đem hoa để làm đẹp cho đời. Cần lắm chứ, Sơn thấy không?” Sơn trầm ngâm một hồi rồi cười cười: ”Chà, bạn cho tôi cái ‘thème’ (đề tài) này khó đấy” - ”Khó mà làm được mới là TCS chứ! Thôi về suy nghĩ tiếp đi, đừng có lười!”

Vài tuần sau tôi được mời đến dự một buổi nghe thử trong nội bộ một số ‘sáng tác mới’ của các nhạc sĩ thân hữu. Anh tổng thư kư Hội trí thức Huỳnh Kim Báu nhờ tôi mời cả TCS nữa. Hôm ấy có người ở Mặt trận Tổ quốc Thành phố sang tham dự. Bác sĩ Trương Th́n giới thiệu các nhạc sĩ lần lượt tự tŕnh bày sáng tác mới của ḿnh: Hoàng Hiệp với Sao anh không kể; Phạm Trọng Cầu: Quê hương, phổ thơ Giang Nam, và Từng giọt yêu thương; Trần Long Ẩn: Những cơn mưa đầu mùa; Miên Đức Thắng cũng phổ nhạc bài thơ Quê hương và Một sớm con về; Trương Th́n: Một ngày của tôiTôi c̣n nợ, phổ thơ bác sĩ Đổ Hồng Ngọc. Rồi Trịnh Công Sơn với Như một ḥn bi xanh, Ở trọ, Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui...

Trước khi Sơn hát, anh Th́n lại nói thêm: “Anh Sơn đă ví trái đất này thu nhỏ lại như một ḥn bi xanh, th́ mỗi con người chúng ta như một con siêu vi trùng, không c̣n khoảng cách để bon chen chèn ép nhau nữa mà phải thương yêu nhau thôi...” Sơn vừa hát xong, mọi người vổ tay tán thưởng tất cả các nhạc sĩ.

Bỗng ông bạn bên Mặt trận đứng lên phê b́nh bài Như một ḥn bi xanh không có ‘lập trường’, kêu gọi con người thương yêu chung chung, không phân biệt bạn-thù: nếu trái đất bé nhỏ như ḥn bi th́ giữa người với người không c̣n biên giới, đứng ở đâu cũng là quê hương ḿnh. Vậy nếu anh qua Mỹ, anh cũng nhận Mỹ là quê hương anh sao?... Sơn quay qua hỏi tôi: ”Cũng bạn nữa! Sao bạn mời tôi tới đây cho người ta chửi tui vậy?” Tôi chưa kịp hiểu sao th́ Sơn đă đứng dậy: ”Thưa quư vị, Tôi nghĩ rằng chiến tranh Việt Nam đă chấm dứt. Tôi muốn nói tới ḥa b́nh cho nhân loại, giữa người với người trên hành tinh này và tấm ḷng nhân bản, độ lượng của người Việt Nam. Không ngờ hôm nay lại được đến đây để học bài ‘morale élémentaire’ (đạo đức sơ đẳng) này! Tôi xin phép được về”. Anh Phạm Trọng Cầu đứng lên: ”Sơn b́nh tĩnh, đợi tao tí về luôn với mầy. C̣n anh kia, có biết là thính giả bây giờ đă ngán những ‘bài ca chính trị’ thô thiển lắm rồi không? Các anh về viết xă luận chính trị rồi phổ nhạc rồi hát với nhau đi. Đừng kêu tụi tui nữa. Về mầy Sơn”. Sơn và anh Cầu dợm đứng lên th́ anh Báu vội ngăn lại: ”Xin hai anh b́nh tĩnh, ngồi lại cho tôi nói tí đă. Tôi Huỳnh Kim Báu, đảng viên, là Tổng thư kư Hội Trí thức Yêu nước xin chịu trách nhiệm trước Thành ủy về việc này. Anh bạn bên Mặt trận đừng lo. Xin tất cả các anh chị yên tâm tiếp tục...” Nhưng mọi người mất hứng đứng dậy ra về.

Khi tôi dắt xe ra cổng Hội th́ bị hai ông bên Mặt trận chận lại hỏi: ”Chị có bảo đảm TCS không vượt biên không mà dám lăng xê anh ta lên vậy?” Tôi cười hỏi lại: ”Các anh đi rao giảng học thuyết Mác-Lê mà nói chuyện sao ‘phi Mác xít’ quá vậy? Mác nói: ‘Con người thay đổi theo sự bảo ḥa của xă hội xung quanh’, đúng không? Th́ tôi làm sao bảo đảm TCS không đi được? Ngay cả tôi, tôi c̣n không bảo đảm được tôi ngày mai sẽ ra sao. Và cả các anh nữa, bây giờ các anh nói vậy, chứ ngày mai tôi cũng không dám bảo đảm các anh có đi hay không. V́ Hoàng Văn Hoan ở Bộ chính trị c̣n vượt biên qua Trung Quốc; Trương Như Tảng, bộ trưởng tư pháp c̣n đi nữa là, th́ làm sao tôi dám bảo đảm ai được?” Tôi nhận được ở họ những tia nh́n không vui vẻ tí nào. Tôi mặc kệ, bỏ về.

THÂN PHẬN NÀNG KIỀU TCS

Nhóm sáng tác mới vẫn cứ tiếp tục đến hát chơi với nhau ở Hội, chưa biểu diễn chính thức, theo yêu cầu của anh tổng thư kư đợi xin phép Thành ủy. TCS cũng đến hát với bạn bè, có nhờ các cô ca sĩ trẻ trước ’75 đến hát thử. Sơn lắng nghe và hỏi riêng tôi thấy sao. Tôi cũng ậm ừ: ”Giọng các cô quá ‘trong và trẻ’. Hăy trả họ về cho sinh viên trường Luật, và Văn khoa. Các giọng ca trẻ này hát khá hay, dễ thương nhưng sợ khó hợp với nhạc của Sơn”. Sơn gật gù: ”Cái tai bạn ni khó chịu quá!” Tôi cười: ”Ai biểu hỏi, th́ người ta phải nói thiệt. Làm sao biểu ta nói láo cho được!”

Một đêm khác, chúng tôi tŕnh diễn thể nghiệm cho một nhóm bạn trí thức Việt kiều về tham dự, không đông lắm nhưng cũng khá thành công, v́ đa số họ đều là sinh viên học sinh Sài G̣n cũ, đă từng mê Ca khúc da vàng và t́nh ca của TCS trước kia. Hôm đó, tôi làm MC (người dẫn chương tŕnh) giới thiệu TCS như một nàng Kiều v́ sau 15 năm, kể từ năm 1965, nhạc TCS đă bị chế độ cũ cấm phổ biến do nội dung phản chiến, ru ngủ quân đội, nhất là loạt Ca khúc da vàng. Sinh viên học sinh phải chuyền tay nhau và tŕnh diễn nội bộ ở các đại học. Cho đến bây giờ, từ 1975-80, một số nhạc của Sơn vẫn c̣n bị cấm... Sơn lao đao vào những năm đầu sau giải phóng, giống như nàng Kiều 15 năm ấy phong trần đa đoan. Từ đây, hy vọng TCS sẽ được thoải mái trăi ḷng trên chiếc ghi ta thùng cũ kỹ thân thương của anh để ‘rút ruột tằm ra mà nhả tơ’ cho đời thưởng thức, mà ru dỗ những nỗi đau trần thế. Đêm ấy, mấy bạn Việt kiều ùa lên ôm Sơn rơm rớm mừng Sơn đă vượt qua muôn vàn khó khăn, đứng vững bằng chính đôi chân ḿnh trên quê hương thân yêu mà Sơn không thể bỏ đi đâu được.

TCS hôm đó rất vui, trước khi ra về c̣n ‘lườm’ tôi một cái đích đáng: ”Sao lại ví người ta với nàng Kiều?” Tôi gặng lại: ”Chứ c̣n ǵ nữa? Th́ chính ông đă nói trong văn học Việt Nam không có chân ai đẹp như chân Thúy Kiều. Đúng không? Sướng rồi c̣n làm bộ hỏi! Đêm nay thành công quá rồi, đừng có trách tui nữa nghen”. Anh Phạm Trọng Cầu lại nói đùa: ”C̣n cái thằng Ẩn này nữa. Sao lại ví những ngày đầu cách mạng như những cơn ‘mưa đầu mùa’ làm ướt áo quần em...Kỳ vậy mậy?” rồi anh cười ha hả.

Ở ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Sau đó, thừa thắng xông lên, nhóm sáng tác mới đi lưu diễn tại Đại học Cần Thơ và anh Báu bảo rằng chính bí thư Tỉnh ủy ông Vũ Đ́nh Liệu (nguyên chủ tịch UBND Tp.HCM) muốn nghe. Thế là chúng tôi lên đường do giáo sư Lư Chánh Trung làm trưởng đoàn và bác sĩ Trương Th́n làm phó, lần này có thêm nhà thơ Lê Thị Kim đọc bài thơ rất độc đáo của chị Ra khỏi quán cà phê. Anh Th́n c̣n bắt tôi đọc bài thơ khá nổi tiếng của Đổ Trung Quân Những bông hoa trên tuyến lửa, nhằm cân bằng với nhạc TCS trên vùng đất cách mạng đó. Tôi phải ‘chộ’ Sơn một câu cho bỏ ghét: ”Thấy chưa, v́ mấy bài t́nh ca mới này của ông mà tui phải ‘hy sinh’ lên sân khấu làm ‘bông hoa trên tuyến lửa’ đó nghen. C̣n trách tui nữa thôi? Với tại cái Cơn mưa đầu mùa của Trần Long Ẩn nữa đó, nên tui phải đem lửa sưởi ấm ‘áo quần em’ đấy”. Ẩn cười: ”Tội nghiệp chị tui quá!”

Đêm tŕnh diễn ở Đại học Cần Thơ, pḥng chứa 500 chỗ mà không đủ cho tất cả người nghe, sinh viên la ó om ṣm, phải bắt màn ảnh truyền h́nh ra ngoài sân cho cả ngàn người xem trực tiếp. Lại thành công ngoài sức tưởng tượng. Ông bí thư mời chúng tôi ăn sáng, nhờ TCS và Trương Th́n hát lại những bài của họ trước 1975 cho ông nghe. Ông gật gù thích thú khen rất là nhân bản, rất con người – người Việt Nam... Rồi ông yêu cầu chúng tôi diễn thêm một đêm chủ nhật nữa v́ nhiều người muốn nghe mà đêm qua không đủ chỗ. Chúng tôi phải ở lại diễn thêm để 3 giờ sáng thứ Hai lên đường về. Ông bí thư cho một chiếc phà đặc biệt chở đoàn chúng tôi qua sông Cữu Long để kịp về Thành phố đi làm.

Khuya chủ nhật hát xong, mọi người kéo nhau đi ṿng quanh Đại học Cần Thơ vừa hát nghêu ngao, vui sướng như điên. Trần Long Ẩn đấm th́nh th́nh lên lưng tôi: ” Đă quá, bạn ơi!” TCS và Trương Th́n say sưa hát. Miên Đức Thắng la toán lên: ”...Gọi quê hương mà nhớ, gọi quê hương mà thương”. Tôi, Lê Thị Kim và chị Hà (vợ anh Th́n) lẽo đẽo đi sau. Tôi cười: ”Thắng này vô duyên thật. Đang đi trên quê hương ḿnh mà c̣n gọi nhớ, gọi thương”. Sơn nghe, quay lại cà khịa tôi ngay: ”Bộ bạn tưởng dễ ǵ đi trên quê hương ḿnh mà được gọi nhớ gọi thương, la lớn lên giữa trời giữa đường như đêm nay đâu?”

Tôi giật ḿnh thấy đúng với t́nh h́nh hồi đó... Cho nên anh Th́n đă chẳng gào lên mà hát: ”Dễ ǵ tôi mời anh điếu thuốc...Anh phải hút... Anh TCS, anh phải hút... Cho dù sau này có ung thư phổi, anh cũng phải hút !”

 Sau các đợt tŕnh diễn trên, một vài bài báo ở trung ương phê b́nh:

-Ca khúc Đi qua vùng cỏ non của Trần Long Ẩn có câu ’Buồn phiền quanh vách núi, như gương không người soi’ – TLA muốn nói ǵ? Muốn ám chỉ ai?

-TCS th́ trong Em c̣n nhớ hay em đă quên có câu: ‘Em ra đi nơi này vẫn thế...’, có nghĩa là sau 5 năm giải phóng, Sài G̣n vẫn không tiến lên được, vẫn dậm chân tại chỗ à?...

Tôi đến Hội trí thức, mọi người đưa báo cho xem và tiu ngỉu. Ai đó thốt lên buồn bả: ”Thôi rồi, đứa con ‘sáng tác mới’ chưa được mấy tháng tuổi!”

Chúng tôi họp lại, bàn kỷ xem có ǵ sai sót không? Hoàn toàn không. Anh tổng thư kư ức quá, dẫn các nhạc sĩ vào hát lại cho ông bí thư Thành phố nghe, giống như đă hát ở Cần Thơ. Ông bí thư Vơ Văn Kiệt nghe TCS hát xong liền bảo: Không có vấn đề ǵ, anh em cứ tiếp tục. Chúng tôi nghe kể lại như mở cờ trong bụng.

TIẾNG HÁT THANH HẢI

Rồi một chiều, tôi vừa bước vô Hội Trí thức th́ Sơn chạy ra kêu: ”Bạn vô nghe tay ni hát ác lắm”. Và Sơn giới thiệu: Thanh Hải, chuyên viên IBM, ngoại đạo cầm ca, chỉ hát chơi thôi. Trong pḥng ăn của Hội, Thanh Hải ôm đàn, cất lên tiếng hát bài Chiều trên quê hương tôi, th́ tôi nói ngay: ” Sơn ơi, được rồi. Đây mới là giọng hát Sơn cần t́m”. Giọng Thanh Hải Đà Nẵng hơi lai Huế và rất hợp nhạc Trịnh.

Sơn lại rủ sáng mai đến câu lạc bộ Hội Văn nghệ nghe Thanh Hải hát nữa. Tôi rất thích giọng Thanh Hải hát bài Cánh chim cô đơnĐời gọi em biết bao lần. Sơn nói: ”Hải nó ‘cảm’ và ‘diễn’ đúng ư ḿnh nhất”. Tôi rất đồng ư, v́ có lẽ cùng là nam giới, dễ cảm hơn phụ nữ. Bỗng tôi chợt nhớ đến Khánh Ly và hỏi thẳng thừng: ”C̣n Khánh Ly th́ sao, v́ Sơn vừa nói ‘đúng ư ḿnh nhất’?” Sơn hơi giật ḿnh và đăm chiêu: ”Khánh Ly là của Ca khúc da vàng và một số t́nh ca thời đó...” Tôi cười khẩy: ”Và Thanh Hải là của bây giờ phải không? Đừng có mới nới cũ đó nghe! Mà tui cũng công nhận đúng là Thanh Hải hát nhạc của Sơn ‘tuyệt chiêu’ rồi. Thôi, đừng cất công đi t́m nữa hí!” Sơn lườm tôi một cái đích đáng: ”Cái tai bạn sao mà ác liệt thiệt!” Tôi cười lại: ”Rứa mới trị nổi TCS!” Sơn cười ruồi: ”Huề!”

Sau đó không lâu, Hội Trí thức lại cho tổ chức một đêm văn nghệ tŕnh diễn giới thiệu những sáng tác mới của các nghệ sĩ trên, lần này có sự đồng ư của cấp trên nên không c̣n ai cà khịa nữa. Vé bán giá tượng trưng lấy tiền giúp nạn nhân băo lụt Đồng bằng sông Cữu Long. Sân khấu ngoài trời 500 chỗ mà khán giả tràn đến cả ngàn người. Mấy em gác cổng chạy vào kêu cứu tôi: ”Chị ơi, toàn sinh viên học sinh không hà, chỉ xin vô đứng sát bờ thành không gây mất trật tự đâu”. Tôi hỏi ư kiến ban tổ chức: cho vào. Cả ngàn người đứng ngồi đầy cứng sân Hội mà im lặng theo dơi như ‘đói khát’ lâu ngày nay được món ăn tinh thần. Trước khi Thanh Hải hát TCS trịnh trọng giới thiệu: giọng ca mới mà Sơn vừa bắt gặp được trong nhóm bạn làm khoa học kỹ thuật, giọng rất ‘ăn’ với nhạc của Sơn. Lần này, Thanh Hải hát cùng Sơn rất nhiều bài, làm mọi người ngạc nhiên theo dơi và luôn trầm trồ thích thú.

Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ kể lại: Hôm đó, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát (ở Hà Nội vào) ghé tai nói nhỏ với tôi: ”Mỹ ơi, bài Như một ḥn bi xanh tuyệt quá! Sơn nó đặt vấn đề nhân loại chứ không c̣n trong ṿng quốc gia nữa. Lớn quá! Tuyệt quá! Anh ta sáng tác dễ dàng cứ như lấy từ trong túi ra vậy!”

Trên sân khấu Sơn say sưa hát Như một ḥn bi xanh, Ở trọ, và Thanh Hải với Chiều trên quê hương tôi, Cánh chim cô đơn, Đời gọi em biết bao lần... Khi Thanh Hải hát xong, mọi người đứng lên vổ tay nhiệt liệt. Thành công ngoài sức tưởng tượng. Có đại diện nhiều cơ quan cấp trên tham dự và thấy không có vấn đề ǵ đáng phê b́nh! Mọi người ra về, nhóm tổ chức chúng tôi ngồi lại. Anh Th́n khoái chí ôm lấy Sơn mà ‘sướng’! Anh Cầu khề khà cụng ly với Sơn: ”Đă quá mày ơi. Bây giờ cứ yên tâm mà sáng tác”. Và chúng tôi đặt tên cho nhóm là “Nhóm sáng tác mới” do bác sĩ Trương Th́n hướng dẫn.

Thấy khán giả c̣n tḥm thèm, anh Báu và anh Th́n bàn nên làm một buổi ở trường Taberd cũ (nay là trường sư phạm) có cả ngàn chỗ mới đủ cho khán giả của ḿnh. Đêm nay Thanh Hải xuất hiện gần như là cái đinh của chương tŕnh. Hải hát một loạt ca khúc TCS, đặc biệt bài Em c̣n nhớ hay em đă quên kỳ này Hải hát rất đạt. Chương tŕnh kết thúc rồi mà khán giả cứ đứng lên hoan nghênh đ̣i bis bis măi.

Tôi ngồi bên bà cụ thân mẫu anh Th́n, nh́n thấy cụ cứ quẹt nước mắt: ”Chao ôi, tui già ri mà nghe anh nớ hát bắt chảy nước mắt đây ń. Chao! cái giọng chi mà dễ thương và tội rứa...không biết nữa!” Đúng, hôm nay Thanh Hải ra chiêu hết ư, tuyệt thật. Và điều rất bất ngờ đối với tôi là bắt đầu từ hôm đó, bé Thái Ḥa của tôi vừa mười tuổi cũng xuưt xoa theo bà cụ: ”Chú đó hát hay quá há má, con cũng muốn khóc nữa!”

Từ ngày TCS về hát ở Hội Trí thức, lần nào tôi đi sinh hoạt cũng chở hai đứa con theo. Em gái Thái Ḥa c̣n nhỏ chưa biết ǵ, nhưng Thái Ḥa đă bắt đầu nghe và có ư kiến, những ư trẻ rất ngây ngô và dễ thương. Lạ một điều là Thái Ḥa rất mê chú Thanh Hải, nhất là khi nghe chú Hải hát bài Chiều trên quê hương tôiCánh chim cô đơn. Khi nghe Thanh Hải khắc khoải trên sân khấu: ”Đêm từng đêm bay về, quê hương là nỗi nhớ... Giấu nỗi buồn trong cánh...Hẹn ḥ nơi chốn xa”. Thái Ḥa hỏi tôi: ”Con chim làm sao giấu được nỗi buồn trong cánh hả má? Tội nghiệp nó quá!” Tôi giật ḿnh: ”Trời ơi! Con trai tôi mới mười tuổi đă biết cảm TCS rồi!”. Tôi phải cắt nghĩa cho nó hiểu đây là con chim sắt, tức chiếc máy bay, mà người phi công khi lái máy bay xa nhà... muốn giấu nỗi buồn trong cánh máy bay. Thái Ḥa thường đi theo nghe TCS với chúng tôi cho đến năm 1990.

THÁI H̉A

Gia đ́nh tôi đi đoàn tụ, định cư tại Canađa năm 1990. Năm sau, Thái Ḥa dự thi và đoạt giải nhất “Giọng ca Vàng’ của cộng đồng người Việt ở Montréal. Em gái là Thiên Nga đă có căn bản nhạc truyền thống Việt Nam và nay theo học nhạc phương Tây ở đây. Hai anh em thành lập Đoàn Văn nghệ Lạc Việt gần 80 người, hầu hết là sinh viên học sinh Việt Nam và Canađa, với Nga làm trưởng đoàn. Ḥa đi học xa ở Toronto nhưng vẫn liên lạc sinh hoạt văn nghệ với nhóm và là giọng ca nam chính của đoàn. Lạc Việt đă từng gây tiếng vang lớn trong cộng đồng người Việt và người Canađa. Lạc Việt được chấm đậu 20/120 đoàn trong cuộc thi âm nhạc đa văn hóa của Canađa, là đoàn Việt Nam đầu tiên được chọn biểu diễn báo cáo trong Nhà hát lớn nhất Montréal tại khu Place-des-Arts và đài truyền h́nh Canađa tới nhà phỏng vấn. Đoàn thường đi lưu diễn ở đại học, chùa, nhà thờ