|
Khu biệt giam Chín hầm của họ Ngô
Đ́nh ở Huế
Nguyễn Đắc Xuân
Sẽ rất thiếu sót
nếu giới thiệu Huế mà không đề cập đến những di tích phản diện của
lănh chúa Ngô Đ́nh Cẩn dưới thời chín năm (1954-1963) cai trị của
gia đ́nh họ Ngô ở miền Nam.
Về di tích
tội ác Chín hầm nhiều sách báo đă viết tương đối đầy đủ. Thời Khu
biệt giam Chín hầm của gia đ́nh họ Ngô “có uy” nhất diễn ra trong
giai đoạn thế hệ của tôi đang ngồi trên ghế nhà trường Trung học và
Đại học Huế. Hai từ Chín hầm là nỗi đe dọa hăi hùng nhất đối với
chúng tôi và cũng may mắn, chính chúng tôi là những người đă góp
phần phá cửa vĩnh viễn khu biệt giam hăi hùng ấy cách đây đúng 43
năm. Trong bài nầy tôi xin phép chỉ kể lại những điều tôi biết về
khu biệt giam Chín hầm.
I. “CHÍN HẦM”
NỖI SỢ HĂI CÓ THẬT.
Năm 1956 tôi
được vào học lớp Đệ ngũ trường Quốc Học. Đầu niên khóa trường c̣n
mang tên Ngô Đ́nh Diệm. Đến ngày 26 tháng 12, nhân kỷ niệm 60 năm
thành lập Trường (1896-1956), học sinh cũ và thầy giáo đứng đầu là
thầy Hiệu trưởng Nguyễn Đ́nh Hàm vận động tích cực, ông Diệm cho nhà
trường lấy lại tên cũ Quốc Học. Trong “huấn từ” đọc nhân lễ kỷ niệm,
ông Diệm có nói đại ư: Nhân tài miền Nam đă theo ông Hồ Chí Minh ra
Bắc cả, vận mạng Việt Nam Cộng Ḥa ông kỳ vọng vào các thế hệ
học sinh Quốc Học. Học sinh Quốc Học được coi như con cưng của chế
độ. Hằng năm các học sinh trưởng lớp Quốc Học được gọi đến xếp hàng
danh dự tại lăng Ngô Đ́nh Khả mỗi khi “Tổng thống về thăm mộ cụ thân
sinh” và tại dinh thất của gia đ́nh họ Ngô ở dốc Phủ Cam khi ở đấy
có lễ lược kỵ giỗ. Tôi là một trong số hàng trăm học sinh trưởng lớp
lúc ấy. Vốn là dân nông thôn lên Huế vừa đi làm gia sư kiếm cơm ăn
vừa đi học, lần đầu tiên được bước chân đến những nơi cường quyền
như thế tôi cũng cảm thấy “vinh dự”. Mỗi lần đi dự lễ như thế được
ông Cố vấn Ngô Đ́nh Cẩn đại diện cho gia đ́nh họ Ngô đăi ăn một bữa.
Những món nem, chả, tré đặc biệt của Huế lần đầu tôi được nếm ở đây.
Nhưng chầu chực hầu hạ ở chốn cường quyền hết sức nhọc nhằn, dần dần
tôi cảm thấy không c̣n vinh dự nữa mà bắt đầu sợ. Sợ nhất là mỗi khi
thấy ông Cố vấn Ngô Đ́nh Cẩn trong bộ khăn đen áo dài, miệng nhai
nhóp nhép miếng trầu đỏ tươi thụng thịnh đến xoa đầu đám học sinh
chúng tôi. Thường th́ hai tay ông chắp sau lưng, quát tháo người nầy
người nọ. Ngay cả mấy ông bộ trưởng, tướng lănh gia nhân nhà họ Ngô
đang đứng khép nép chờ ông sai bảo cũng không giấu được sự sợ hăi
trên mặt. Những người tiếp đón, dọn cỗ bàn không vừa ư ông, ông đ̣i
giết. Nghe nói ông Cẩn không biết nói đùa, khi ông nói bắt, nói giết
là bọn gia nhân phải thực hiện bắt, giết ngay. Cái sợ dưới bóng ông
Cẩn thấm vào người tôi rất nhanh. Tôi cứ nơm nớp lo: Nhỡ ăn nói sơ
suất điều ǵ th́ mang vạ vào thân. Do đó nhiều khi có lệnh triệu tập
đi làm hàng rào danh dự tôi phải khai đau xin phép vắng mặt.
Mấy năm lên học
chuyên khoa Tú tài, tôi không c̣n làm trưởng lớp nên không phải tới
chầu hầu ở gia đ́nh họ Ngô nữa. Tuy nhiên, càng hội nhập sâu vào đời
sống ở Huế lúc đó, nỗi sợ hăi trong tôi càng tăng lên. Không hiểu
sao, tất cả những gia đ́nh tôi được nhận vào làm gia sư đều là nạn
nhân của gia đ́nh họ Ngô. Lúc tôi đang dạy các em Ái Linh, Mộng
Vinh, Lư Gia Nhẫn (hiện nay ở Úc) ở nhà buôn Lư Lâm Thịnh (đường
Trần Hưng Đạo) là lúc gia đ́nh nầy đang rất đau buồn v́ phải nhượng
lại sở đất vườn ở gần Chín hầm để xây sinh phần cho Ngô Đ́nh Cẩn.
Cho đến lúc đó tôi chưa có dịp đặt chân đến khu vực Chín hầm nhưng
nghe nói đến hai chữ ấy tôi cũng như nhiều người dân Huế đều kinh
khiếp. Khi tôi đang dạy các em Hương, Hải ở nhà cô Vy (đường Mai
Thúc Loan) th́ xảy ra cuộc đảo chính Diệm do Đại tá Vương Văn Đông
và Đại tá nhảy dù Nguyễn Chánh Thi cầm đầu (11.11.1960), ông Lê Thúc
Huyến - chồng cô Vy, làm trưởng ty Thanh Niên, bị bắt đưa lên giam ở
Chín hầm v́ cái tội tưởng Diệm đă bị đảo chánh, nên hạ ảnh Ngô Tổng
Thống xuống, không ngờ đảo chánh bất thành. Ông Huyến đi tù, tôi mất
chỗ dạy. Cũng trong dịp đó, ông Bửu Bang - Chủ hiệu Rồng Vàng, nơi
tôi đă làm gia sư trước đó cũng bị ông Cẩn bắt với tội danh là “Gián
điệp miền Trung”.
Đến cuối năm 1960, tôi làm trưởng ban Văn nghệ học sinh Quốc Học,
trong chương tŕnh kỷ niệm 64 năm ngày thành lập trường có vở kịch
Người Điên Giữa Kinh Thành của Vũ Hân. Người đóng vai chính (người
điên) là học sinh Dư Tế Xuân. Trong buổi diễn đầu tiên dành cho các
quan khách và gia nhân nhà họ Ngô, Dư Tế Xuân đă cương thêm mấy câu
được hiểu như ám chỉ phê phán chế độ độc tài đă làm cho lănh đạo nhà
trường vô cùng bối rối. Bọn mật vụ của Ngô Đ́nh Cẩn đe dọa, nếu
không hủy bỏ ngay đêm diễn thứ hai th́ sẽ bắt tôi. Ông giám học Văn
Đ́nh Hy lệnh cho tôi phải thực hiện ngay, nếu không th́ không những
tôi mà cả lănh đạo trường Quốc Học cũng vào Chín Hầm như chơi. Chưa
bao giờ tôi sợ hăi, đau đớn, nhục nhă với bạn bè đến thế! Đó là “sự
kiện chính trị” đầu đời của tôi.
Ở Huế ai mà
không biết Ngô Đ́nh Cẩn thường vi hành về Thuận An ban đêm. Chiếc xe
Cẩn đi không bật đèn pha. Những xe chạy ngược chiều vô phúc không
biết cứ để đèn pha mà chạy là bị gia nhân của Cẩn tóm ngay. Mượn cái
uy của Cẩn, dưới tay Cẩn Cẩn h́nh thành một tầng lớp người mất dạy.
Nhà thầu Nguyễn Đắc Phương - người cùng họ với tôi, đă phải chết để
trả cho cái giá dám qua mặt bà Cả Lễ - chị Ngô Đ́nh Cẩn, đấu thầu
làm trụ sở Tỉnh đường Thừa Thiên Huế và điện |Thái Hoà trong Đại Nội.
Bọn con em của tay chân nhà họ Ngô vào trường Quốc Học học th́ ít mà
quậy phá th́ nhiều, không thầy cô giáo nào dám đụng đến. Thậm chí
mấy tên cắt cỏ, hái lá sắn dây cho dê, cho nai của “ông Cố vấn” ăn
cũng làm tàng, đến vuờn nhà ai muớn hái, muốn bứt thứ ǵ th́ tùy ư.
Nếu gia chủ cự nự sẽ bị chúng trừng phạt ngay. Bọn gia nhân của Cẩn
nghe nhà ai có đồ quư như xa-lông cổ, đá đẹp, cây bon-xai cổ thụ,
giống hoa lạ là chúng về báo cho Cẩn biết và Cẩn sẽ cho đến thương
lượng lấy đem về làm của riêng ở Sinh phần của ông ngay.
II. TỘI ÁC VÀ
TRỪNG PHẠT
Không rơ có phải
v́ nỗi sợ hăi, căm thù chồng chất lâu ngày mà đến đầu năm 1963, đang
học Đại học Sư phạm, anh Vĩnh Kha mời tôi gia nhập đoàn Sinh viên
Phật tử, tôi đồng ư ngay. Và chẳng bao lâu sau đó cuộc đấu tranh
chống chế độ Ngô Đ́nh Diệm kỳ thị tôn giáo, đàn áp Phật tử nổ ra,
tôi đă dấn thân một cách tích cực. Cuộc đời chính trị của tôi bắt
đầu từ đó. Đến rạng sáng ngày 21.8.1963, chính quyền Diệm Nhu thực
hiện “kế hoạch nước lũ” bao vây tất cả chùa chiền và bắt hết những
sư săi và Phật tự tham gia đấu tranh trên toàn cơi miền Nam. Tôi bị
bắt ở chùa Diệu Đế cùng với Ḥa thượng Thích Đôn Hậu. Các bạn tôi ở
chùa Diệu Đế và chùa Từ Đàm cũng bị bắt hàng ngàn người. Ngoài những
người lành đạo chủ chốt đưa đi biệt giam c̣n chúng tôi bị đưa vào
Hội trường Ty Công An và Sân vận động Huế. Đây là một vụ đàn áp đẫm
máu, vi phạm nhân quyền lớn chưa từng có ở Việt Nam. Dư luận Mỹ và
phương Tây phê phán nặng nề chế độ Diệm. Cuộc đàn áp đă làm chấn
động thế giới. Liên hiệp quốc phải ra tay cử phái đoàn vào điều tra.
Nhờ thế tay chân của Diệm nới lỏng sự khắc nghiệt ở các trạm giam,
trong đó có khu biệt giam Chín hầm. Đến ngày 1.11.1963, chế độ Diệm
bị lật đổ bởi chính những tướng lănh và quân đội công bộc của Diệm.
Chúng tôi được ra khỏi tù. Trong suốt cả tuần lễ sau ngày cáo chung
của chế độ Diệm, hàng chục vạn đồng bào Huế tuôn ra đường tỏ nỗi vui
mừng chấm dứt chế độ độc tài gia đ́nh trị nhà họ Ngô. Đồng bào cũng
đă ùa lên đập phá khu Sinh phần của Ngô Đ́nh Cẩn. Những người bị Ngô
Đ́nh Cẩn tước đoạt tài sản tham gia đập phá hăng hái nhất. Một đoàn
sinh viên gồm các bạn Nguyễn Thiết, Trần Duy Thọ, Thái Thị Ngọc Dư
và tôi được cử lên yêu cầu quân nhân đứng về phe đảo chánh hăy mở
cửa khu biệt giam Chín hầm. Những người bị bắt v́ tham gia tranh đấu
được thả hết. Những tù chính trị khác th́ chuyển về các nhà lao
trong thành phố. Chúng tôi cũng hô hào quần chúng hăy dừng tay đập
phá sinh phần của Ngô Đ́nh Cẩn, v́ đây là một chứng tích tội ác mà
Cẩn đă tạo bởi những của cải vật chất quí giá của người dân Huế. Do
uy tín của sinh viên đồng bào dừng tay đập phá, nhưng sau khi chúng
tôi lên xe về thành phố th́ việc trả thù lại tiếp tục cả năm sau
chưa dứt. Ngày xử tử Ngô Đ́nh Cẩn ở Sài G̣n (9.5.1964), con ông Đức
Sinh - nạn nhân của Ngô Đ́nh Cẩn, là em Thạnh đă đi tàu bay vào xem
tận mắt cái chết của Cẩn. Thạnh đă lấy khăn mùi soa thấm máu Cẩn đem
về Huế đặt lên bàn thờ cha. Năm 1968, Thạnh thoát ly và trở thành
phóng viên Đài phát thanh Giải phóng.
Sau sự kiện chế
độ Diệm bị lật đổ, sinh viên Huế chúng tôi lại tiếp tục đấu tranh
chống các chính phủ tay sai Mỹ sau Diệm. Đến năm 1966, tôi thoát ly
và không c̣n nhớ chuyện Chín hầm, và khu Sinh phần của Ngô Đ́nh Cẩn
ấy nữa.
III. TRỞ LẠI
CHÍN HẦM
Khu biệt giam
Chín hầm cũ ở thôn Ngũ Tây, xă Thủy An, cách đàn Nam Giao khoảng 5km
về phía nam. Cách đó chừng 0,8km là khu sinh phần của Ngô Đ́nh Cẩn
xây trên sườn một ngọn đồi thoai thoải quay mặt về hướng đông bắc.
Một ḥn non bộ lớn được dựng lên trong một hồ bán nguyệt ngăn cách
vùng đồi có nhiều chùa chiền tháp cổ với sinh phần của ông Cẩn.
Trước kia khu vực sinh phần nầy rộng đến hàng mấy chục héc-ta, trồng
toàn cam, đường đi lối lại có hoa cỏ tươm tất. Kiến trúc chính là
một cái lầu tứ giác tạo dựng bởi chất liệu xi-măng cốt sắt giả gỗ
cổ, phần c̣n lại đắp sành sứ theo kiểu lăng Khải Định, một ṭa lầu
rộng lớn với bộ cột kèo xuyên trến đều bằng xi-măng cốt sắt giả gỗ.
Những xác nhà bê-tông cốt sắt c̣n lưu lại cho đến ngày nay là chứng
tích tội ác nhắc nhở con người rằng của phi nghĩa không bao giờ được
kết thúc êm ấm cả.
Khu biệt giam
Chín hầm là chín cái hầm mà thực dân Pháp xây dựng từ năm 1941, bao
quanh một trái đồi để cất giấu vũ khí. Đến sau ngày 9.3.1945, phát
xít Nhật đảo chính thực dân Pháp, chín cái hầm kiên cố này bỏ trống.
Sau năm 1954, lật lọng được Bảo Đại lên nắm chính quyền, anh em nhà
họ Ngô đă có “sáng kiến” cải tạo 9 cái hầm cất giấu vũ khí của Pháp
thành một khu biệt giam những người yêu nước và những người có tư
tưởng chống đối chế độ độc tài gia đ́nh trị họ Ngô. Mặt trước mỗi
hầm trổ cửa to, cao, chắc chắn, trông ra khoảng trống thoai thoải
xuống chân đồi, ba mặt kia là tường bê tông xây sát vào thành đất.
Hầm có chiều sâu chừng 10 mét, chiều ngang chừng 6m, chiều cao chừng
4m, đựoc ngăn thành hai dăy xà-lim chuồng cọp, có cửa gỗ mở ra lối
đi ở giữa hầm. Mỗi chuồng cọp dài khoảng 2m, rộng 0,9m. Tường ngăn
các chuồng cọp cao 2m, mỗi chuồng có một lưới sắt tạo bởi 16 song
sắt ngang và hai thanh sắt dọc chặn trên đầu. Ban ngày ánh sáng vào
mỗi xà-lim nhờ nhờ, ban đêm tối om. Trời nắng, trong hầm nóng như
nồi rang, trời mưa nước giọt trên đầu tù nhân, lạnh buốt xương da.
Tù nhân không được ra ngoài vệ sinh, tất cả đều đi trong thùng và
một tuần mới có người đưa đi đổ. Các cựu tù nhân Chín hầm hiện c̣n
đang sống ở Huế cho biết mỗi ngày tù chỉ được ăn hai bữa, cơm hẫm
với mắm thối hoặc rau muống già, giờ cho ăn tùy hứng của người phục
vụ, có thể cách nhau 3 tiếng đồng hồ và cũng có thể từ rạng sáng đến
tối mịt mù. Phải giam cực h́nh như thế để cho những người tù cách
mạng chuyển hướng và những người chống đối phải đầu hàng. Có vô số
chuyện về tội ác của gia đ́nh họ Ngô thực hiện ở đây. Ông Vơ Côn vốn
là một tỉnh trưởng ở B́nh Định, v́ không ăn cánh với Cẩn nên bị vu
là mật thám Pháp, ông Côn bị bắt và bị giam bí mật ở Chín hầm. Được
tin chồng đang thoi thóp sắp chết, bà Côn bí mật lên Chín hầm đấu
tranh, chửi bới tưng bừng. Bọn Cẩn buộc ḷng phải để bà đưa chồng bà
về. Về nhà ông Côn mất. Ông Nguyển Hữu Bích đi tập kết, vợ ông ở lại
tiếp tục hoạt động, bị địch bắt, bị tra tấn vô cùng dă man nhưng bà
Bích vẫn không khai. Cuối cùng bà bị đưa lên giam ở Chín hầm. Như
trên tôi đă đề cập sau cuộc đảo chánh 11.11.1960 không thành, Nguyễn
Chánh Thi phải chạy trốn sang Căm-pu-chia, nhiều nhà giàu ở Huế như
Đức Sinh, Nguyễn Văn Yến, Rồng Vàng bị vu là “gián điệp miền Trung”
bị bắt đưa giam vào Chín hầm. Các gia đ́nh nầy phải cắt một phần lớn
tài sản của ḿnh nộp cho Ngô Đ́nh Cẩn mới được thả ra. Thậm chí có
cả chuyện các bà vợ của những người tù phải hiến thân cho bọn tay
chân nhà họ Ngô th́ chồng họ mới được can thiệp thả ra. Chồng về nhà
hay tin vợ đă “thất thân”, rất đau buồn, Vợ cảm thấy nhục nhă, có bà
đă quyên sinh. Gia đ́nh các tư sản nầy nát ra từng mảnh.
Người tù Chín
hầm được cả thế giới biết đến là Đại tá t́nh báo Nguyễn Minh Vân tức
Nguyễn Đ́nh Quảng, con trai ông Phó bảng người Quảng Nam Nguyễn Đ́nh
Hiến. Ông Vân bị cực h́nh ở Chín hầm từ 11.1961 đến 11.1963. Trong
thời gian ấy ông đă sáng tác và học thuộc ḷng 3000 câu thơ nói lên
những ngày bị cực h́nh trong khu biệt giam Chín hầm. Sau ngày Diệm
đỗ, sinh viên học sinh Huế đă lên cứu thoát ông ra khỏi Chín hầm.
3000 câu thơ viết từ cơi chết đă được bí mật chuyển ra Hà Nội và in
vào cuối năm 1973 với tựa đề Sống Trong Mồ với tên tác giả
Nguyễn Dân Trung. Tập thơ đă được dịch ra nhiều thứ tiếng và in trên
các báo văn học của Âu Mỹ. Xin trích một số câu:
“Anh thu h́nh vào một góc co ro/ Gió
ngoài rừng không ngớt thổi vi vo/ Và chốc chốc lại luồn vào trong
động/ Leo theo vách lách vào lưng vào bụng/ Tay ma nào dạo trên khắp
làn da? Vuốt quỷ đâu móc vào tận ruột già/ Nước mưa dột vẫn đều đều
rơi mạnh/ Ngồi trên ván tưởng ngồi trên đá lạnh:...
Sau năm 1975, cụ
Đào Duy Anh về thăm Huế, nơi cụ yêu cầu tôi đưa đi thăm đầu tiên là
di tích khu biệt giam Chín hầm. Lúc ấy di tích tội ác Chín hầm c̣n
như nguyên vẹn, Đứng trước một cửa hầm trơ trụi giữa một vùng đồi
trọc nắng gắt, với cḥm râu bạc ướt đẫm mồ hôi, nhà sử học lăo thành
Đào Duy Anh đă không cầm được nước mắt, bảo tôi: “Tôi đă đọc kỹ tập
thơ Sống Trong Mồ của Trần Dân Trung, giờ đây được chứng kiến
tận mắt cái địa ngục trần gian nầy, tôi không thể nào hiểu được.
Không biết trên thế giới c̣n có nơi nào biệt giam con người tàn nhẫn
đến như thế nầy không!”.
Sau đó tôi c̣n
trở lại khu vực Chín hầm nhiều lần để t́m đất sản xuất tự túc. Mỗi
lần đi ngang di tích khu biệt giam vô chủ tôi vẫn c̣n thấy lạnh
trong xương sống. Đến thời gian dậy lên phong trào thu nhặt sắt phế
thải xuất khẩu, một số người hám lợi đă đập nát cả chín cái nhà giam
chứng tích tội ác để lấy sắt. Ngày 16.12.1993, khu vực Chín hầm được
xếp hạng di tích (tội ác của chế độ cũ) cấp quốc gia, nhưng lên đây
chỉ c̣n thấy một vài tấm biển mới làm với độc nhất hai mố cửa hầm
trên đỉnh đồi. Nếu không cố t́nh đi t́m th́ khu vực Chín hầm cũ ngày
nay chỉ c̣n thấy là một khu đồi thông xanh mát do bàn tay các em học
sinh Huế trồng từ sau ngày giải phóng mà thôi.
Mới đây những
người đi t́m xác đồng đội đă t́m trong khu vực sinh phần Ngô Đ́nh
Cẩn và Chín Hầm được hài cốt của các sĩ quan t́nh báo cách mạng gồm
các ông Phan Trọng Tịnh, Lư Văn Tố, Phan Hữu Đà. Ông Lư Văn Tố đă bị
cưỡng bức đi gánh nước tưới cam và bị dập dưới gốc cam. Măi cho đến
năm vừa rồi mới t́m được hài cốt của ông.
Mỗi lần nhắc lại
hay đi ngang qua khu biệt giam Chín hầm tôi vẫn c̣n thấy rợn người.
Nhưng khi thấy khu vực nầy đă bị xóa hết tôi không khỏi suưt xoa
tiếc rẻ giống như tôi đă từng tiếc không c̣n nh́n thấy khu dinh cơ
của gia đ́nh họ Ngô ở dốc Phú Cam nữa. Từ thuở ấu thơ, tôi đă thấm
nhuần giáo lư của Đạo Phật: “Lấy ân trả oán”. Tuy nhiên, đi vào chùa
Phật là nơi đại từ bi, đại trí huệ mà ở cửa vẫn phải dựng tượng ông
thiện và ông ác. Phải biết điều thiện để làm điểu thiện là chuyện đă
đành. Cũng phải biết cái ác để tránh không làm điều ác. Biết chỗ tối
để t́m ra nơi sáng. Không tối không sáng, không phân biệt được điều
thiện và điều ác th́ con người dầu có đi hai chân cũng chưa thành
người. Thiện không biết, ác không biết, chỉ biết tiền th́ rồi xă hội
sẽ đi về đâu?
(Bài đă đăng t/c Huế Xưa và Nay Số 33/1999 (tr. 28-34),
được tác giả xem lại vào tháng 2/2006)
Khu biệt giam Chín
hầm
của họ Ngô Đ́nh ở
Huế
l NGUYỄN ĐẮC XUÂN
Sẽ rất thiếu sót
nếu giới thiệu Huế mà không đề cập đến những di tích phản diện của
lănh chúa Ngô Đ́nh Cẩn dưới thời chín năm (1954-1963) cai trị của
gia đ́nh họ Ngô ở miền Nam.
Về di tích
tội ác Chín hầm nhiều sách báo đă viết tương đối đầy đủ. Thời Khu
biệt giam Chín hầm của gia đ́nh họ Ngô “có uy” nhất diễn ra trong
giai đoạn thế hệ của tôi đang ngồi trên ghế nhà trường Trung học và
Đại học Huế. Hai từ Chín hầm là nỗi đe dọa hăi hùng nhất đối với
chúng tôi và cũng may mắn, chính chúng tôi là những người đă góp
phần phá cửa vĩnh viễn khu biệt giam hăi hùng ấy cách đây đúng 43
năm. Trong bài nầy tôi xin phép chỉ kể lại những điều tôi biết về
khu biệt giam Chín hầm.
I. “CHÍN HẦM”
NỖI SỢ HĂI CÓ THẬT.
Năm 1956 tôi
được vào học lớp Đệ ngũ trường Quốc Học. Đầu niên khóa trường c̣n
mang tên Ngô Đ́nh Diệm. Đến ngày 26 tháng 12, nhân kỷ niệm 60 năm
thành lập Trường (1896-1956), học sinh cũ và thầy giáo đứng đầu là
thầy Hiệu trưởng Nguyễn Đ́nh Hàm vận động tích cực, ông Diệm cho nhà
trường lấy lại tên cũ Quốc Học. Trong “huấn từ” đọc nhân lễ kỷ niệm,
ông Diệm có nói đại ư: Nhân tài miền Nam đă theo ông Hồ Chí Minh ra
Bắc cả, vận mạng Việt Nam Cộng Ḥa ông kỳ vọng vào các thế hệ
học sinh Quốc Học. Học sinh Quốc Học được coi như con cưng của chế
độ. Hằng năm các học sinh trưởng lớp Quốc Học được gọi đến xếp hàng
danh dự tại lăng Ngô Đ́nh Khả mỗi khi “Tổng thống về thăm mộ cụ thân
sinh” và tại dinh thất của gia đ́nh họ Ngô ở dốc Phủ Cam khi ở đấy
có lễ lược kỵ giỗ. Tôi là một trong số hàng trăm học sinh trưởng lớp
lúc ấy. Vốn là dân nông thôn lên Huế vừa đi làm gia sư kiếm cơm ăn
vừa đi học, lần đầu tiên được bước chân đến những nơi cường quyền
như thế tôi cũng cảm thấy “vinh dự”. Mỗi lần đi dự lễ như thế được
ông Cố vấn Ngô Đ́nh Cẩn đại diện cho gia đ́nh họ Ngô đăi ăn một bữa.
Những món nem, chả, tré đặc biệt của Huế lần đầu tôi được nếm ở đây.
Nhưng chầu chực hầu hạ ở chốn cường quyền hết sức nhọc nhằn, dần dần
tôi cảm thấy không c̣n vinh dự nữa mà bắt đầu sợ. Sợ nhất là mỗi khi
thấy ông Cố vấn Ngô Đ́nh Cẩn trong bộ khăn đen áo dài, miệng nhai
nhóp nhép miếng trầu đỏ tươi thụng thịnh đến xoa đầu đám học sinh
chúng tôi. Thường th́ hai tay ông chắp sau lưng, quát tháo người nầy
người nọ. Ngay cả mấy ông bộ trưởng, tướng lănh gia nhân nhà họ Ngô
đang đứng khép nép chờ ông sai bảo cũng không giấu được sự sợ hăi
trên mặt. Những người tiếp đón, dọn cỗ bàn không vừa ư ông, ông đ̣i
giết. Nghe nói ông Cẩn không biết nói đùa, khi ông nói bắt, nói giết
là bọn gia nhân phải thực hiện bắt, giết ngay. Cái sợ dưới bóng ông
Cẩn thấm vào người tôi rất nhanh. Tôi cứ nơm nớp lo: Nhỡ ăn nói sơ
suất điều ǵ th́ mang vạ vào thân. Do đó nhiều khi có lệnh triệu tập
đi làm hàng rào danh dự tôi phải khai đau xin phép vắng mặt.
Mấy năm lên học
chuyên khoa Tú tài, tôi không c̣n làm trưởng lớp nên không phải tới
chầu hầu ở gia đ́nh họ Ngô nữa. Tuy nhiên, càng hội nhập sâu vào đời
sống ở Huế lúc đó, nỗi sợ hăi trong tôi càng tăng lên. Không hiểu
sao, tất cả những gia đ́nh tôi được nhận vào làm gia sư đều là nạn
nhân của gia đ́nh họ Ngô. Lúc tôi đang dạy các em Ái Linh, Mộng
Vinh, Lư Gia Nhẫn (hiện nay ở Úc) ở nhà buôn Lư Lâm Thịnh (đường
Trần Hưng Đạo) là lúc gia đ́nh nầy đang rất đau buồn v́ phải nhượng
lại sở đất vườn ở gần Chín hầm để xây sinh phần cho Ngô Đ́nh Cẩn.
Cho đến lúc đó tôi chưa có dịp đặt chân đến khu vực Chín hầm nhưng
nghe nói đến hai chữ ấy tôi cũng như nhiều người dân Huế đều kinh
khiếp. Khi tôi đang dạy các em Hương, Hải ở nhà cô Vy (đường Mai
Thúc Loan) th́ xảy ra cuộc đảo chính Diệm do Đại tá Vương Văn Đông
và Đại tá nhảy dù Nguyễn Chánh Thi cầm đầu (11.11.1960), ông Lê Thúc
Huyến - chồng cô Vy, làm trưởng ty Thanh Niên, bị bắt đưa lên giam ở
Chín hầm v́ cái tội tưởng Diệm đă bị đảo chánh, nên hạ ảnh Ngô Tổng
Thống xuống, không ngờ đảo chánh bất thành. Ông Huyến đi tù, tôi mất
chỗ dạy. Cũng trong dịp đó, ông Bửu Bang - Chủ hiệu Rồng Vàng, nơi
tôi đă làm gia sư trước đó cũng bị ông Cẩn bắt với tội danh là “Gián
điệp miền Trung”.
Đến cuối năm 1960, tôi làm trưởng ban Văn nghệ học sinh Quốc Học,
trong chương tŕnh kỷ niệm 64 năm ngày thành lập trường có vở kịch
Người Điên Giữa Kinh Thành của Vũ Hân. Người đóng vai chính
(người điên) là học sinh Dư Tế Xuân. Trong buổi diễn đầu tiên dành
cho các quan khách và gia nhân nhà họ Ngô, Dư Tế Xuân đă cương thêm
mấy câu được hiểu như ám chỉ phê phán chế độ độc tài đă làm cho lănh
đạo nhà trường vô cùng bối rối. Bọn mật vụ của Ngô Đ́nh Cẩn đe dọa,
nếu không hủy bỏ ngay đêm diễn thứ hai th́ sẽ bắt tôi. Ông giám học
Văn Đ́nh Hy lệnh cho tôi phải thực hiện ngay, nếu không th́ không
những tôi mà cả lănh đạo trường Quốc Học cũng vào Chín Hầm như chơi.
Chưa bao giờ tôi sợ hăi, đau đớn, nhục nhă với bạn bè đến thế! Đó là
“sự kiện chính trị” đầu đời của tôi.
Ở Huế ai mà
không biết Ngô Đ́nh Cẩn thường vi hành về Thuận An ban đêm. Chiếc xe
Cẩn đi không bật đèn pha. Những xe chạy ngược chiều vô phúc không
biết cứ để đèn pha mà chạy là bị gia nhân của Cẩn tóm ngay. Mượn cái
uy của Cẩn, dưới tay Cẩn Cẩn h́nh thành một tầng lớp người mất dạy.
Nhà thầu Nguyễn Đắc Phương - người cùng họ với tôi, đă phải chết để
trả cho cái giá dám qua mặt bà Cả Lễ - chị Ngô Đ́nh Cẩn, đấu thầu
làm trụ sở Tỉnh đường Thừa Thiên Huế và điện |Thái Hoà trong Đại
Nội. Bọn con em của tay chân nhà họ Ngô vào trường Quốc Học học th́
ít mà quậy phá th́ nhiều, không thầy cô giáo nào dám đụng đến. Thậm
chí mấy tên cắt cỏ, hái lá sắn dây cho dê, cho nai của “ông Cố vấn”
ăn cũng làm tàng, đến vuờn nhà ai muớn hái, muốn bứt thứ ǵ th́ tùy
ư. Nếu gia chủ cự nự sẽ bị chúng trừng phạt ngay. Bọn gia nhân của
Cẩn nghe nhà ai có đồ quư như xa-lông cổ, đá đẹp, cây bon-xai cổ
thụ, giống hoa lạ là chúng về báo cho Cẩn biết và Cẩn sẽ cho đến
thương lượng lấy đem về làm của riêng ở Sinh phần của ông ngay.
II. TỘI ÁC VÀ
TRỪNG PHẠT
Không rơ có phải
v́ nỗi sợ hăi, căm thù chồng chất lâu ngày mà đến đầu năm 1963, đang
học Đại học Sư phạm, anh Vĩnh Kha mời tôi gia nhập đoàn Sinh viên
Phật tử, tôi đồng ư ngay. Và chẳng bao lâu sau đó cuộc đấu tranh
chống chế độ Ngô Đ́nh Diệm kỳ thị tôn giáo, đàn áp Phật tử nổ ra,
tôi đă dấn thân một cách tích cực. Cuộc đời chính trị của tôi bắt
đầu từ đó. Đến rạng sáng ngày 21.8.1963, chính quyền Diệm Nhu thực
hiện “kế hoạch nước lũ” bao vây tất cả chùa chiền và bắt hết những
sư săi và Phật tự tham gia đấu tranh trên toàn cơi miền Nam. Tôi bị
bắt ở chùa Diệu Đế cùng với Ḥa thượng Thích Đôn Hậu. Các bạn tôi ở
chùa Diệu Đế và chùa Từ Đàm cũng bị bắt hàng ngàn người. Ngoài những
người lành đạo chủ chốt đưa đi biệt giam c̣n chúng tôi bị đưa vào
Hội trường Ty Công An và Sân vận động Huế. Đây là một vụ đàn áp đẫm
máu, vi phạm nhân quyền lớn chưa từng có ở Việt Nam. Dư luận Mỹ và
phương Tây phê phán nặng nề chế độ Diệm. Cuộc đàn áp đă làm chấn
động thế giới. Liên hiệp quốc phải ra tay cử phái đoàn vào điều tra.
Nhờ thế tay chân của Diệm nới lỏng sự khắc nghiệt ở các trạm giam,
trong đó có khu biệt giam Chín hầm. Đến ngày 1.11.1963, chế độ Diệm
bị lật đổ bởi chính những tướng lănh và quân đội công bộc của Diệm.
Chúng tôi được ra khỏi tù. Trong suốt cả tuần lễ sau ngày cáo chung
của chế độ Diệm, hàng chục vạn đồng bào Huế tuôn ra đường tỏ nỗi vui
mừng chấm dứt chế độ độc tài gia đ́nh trị nhà họ Ngô. Đồng bào cũng
đă ùa lên đập phá khu Sinh phần của Ngô Đ́nh Cẩn. Những người bị Ngô
Đ́nh Cẩn tước đoạt tài sản tham gia đập phá hăng hái nhất. Một đoàn
sinh viên gồm các bạn Nguyễn Thiết, Trần Duy Thọ, Thái Thị Ngọc Dư
và tôi được cử lên yêu cầu quân nhân đứng về phe đảo chánh hăy mở
cửa khu biệt giam Chín hầm. Những người bị bắt v́ tham gia tranh đấu
được thả hết. Những tù chính trị khác th́ chuyển về các nhà lao
trong thành phố. Chúng tôi cũng hô hào quần chúng hăy dừng tay đập
phá sinh phần của Ngô Đ́nh Cẩn, v́ đây là một chứng tích tội ác mà
Cẩn đă tạo bởi những của cải vật chất quí giá của người dân Huế. Do
uy tín của sinh viên đồng bào dừng tay đập phá, nhưng sau khi chúng
tôi lên xe về thành phố th́ việc trả thù lại tiếp tục cả năm sau
chưa dứt. Ngày xử tử Ngô Đ́nh Cẩn ở Sài G̣n (9.5.1964), con ông Đức
Sinh - nạn nhân của Ngô Đ́nh Cẩn, là em Thạnh đă đi tàu bay vào xem
tận mắt cái chết của Cẩn. Thạnh đă lấy khăn mùi soa thấm máu Cẩn đem
về Huế đặt lên bàn thờ cha. Năm 1968, Thạnh thoát ly và trở thành
phóng viên Đài phát thanh Giải phóng.
Sau sự kiện chế
độ Diệm bị lật đổ, sinh viên Huế chúng tôi lại tiếp tục đấu tranh
chống các chính phủ tay sai Mỹ sau Diệm. Đến năm 1966, tôi thoát ly
và không c̣n nhớ chuyện Chín hầm, và khu Sinh phần của Ngô Đ́nh Cẩn
ấy nữa.
III. TRỞ LẠI
CHÍN HẦM
Khu biệt giam
Chín hầm cũ ở thôn Ngũ Tây, xă Thủy An, cách đàn Nam Giao khoảng 5km
về phía nam. Cách đó chừng 0,8km là khu sinh phần của Ngô Đ́nh Cẩn
xây trên sườn một ngọn đồi thoai thoải quay mặt về hướng đông bắc.
Một ḥn non bộ lớn được dựng lên trong một hồ bán nguyệt ngăn cách
vùng đồi có nhiều chùa chiền tháp cổ với sinh phần của ông Cẩn.
Trước kia khu vực sinh phần nầy rộng đến hàng mấy chục héc-ta, trồng
toàn cam, đường đi lối lại có hoa cỏ tươm tất. Kiến trúc chính là
một cái lầu tứ giác tạo dựng bởi chất liệu xi-măng cốt sắt giả gỗ cổ,
phần c̣n lại đắp sành sứ theo kiểu lăng Khải Định, một ṭa lầu rộng
lớn với bộ cột kèo xuyên trến đều bằng xi-măng cốt sắt giả gỗ. Những
xác nhà bê-tông cốt sắt c̣n lưu lại cho đến ngày nay là chứng tích
tội ác nhắc nhở con người rằng của phi nghĩa không bao giờ được kết
thúc êm ấm cả.
Khu biệt giam
Chín hầm là chín cái hầm mà thực dân Pháp xây dựng từ năm 1941, bao
quanh một trái đồi để cất giấu vũ khí. Đến sau ngày 9.3.1945, phát
xít Nhật đảo chính thực dân Pháp, chín cái hầm kiên cố này bỏ trống.
Sau năm 1954, lật lọng được Bảo Đại lên nắm chính quyền, anh em nhà
họ Ngô đă có “sáng kiến” cải tạo 9 cái hầm cất giấu vũ khí của Pháp
thành một khu biệt giam những người yêu nước và những người có tư
tưởng chống đối chế độ độc tài gia đ́nh trị họ Ngô. Mặt trước mỗi
hầm trổ cửa to, cao, chắc chắn, trông ra khoảng trống thoai thoải
xuống chân đồi, ba mặt kia là tường bê tông xây sát vào thành đất.
Hầm có chiều sâu chừng 10 mét, chiều ngang chừng 6m, chiều cao chừng
4m, đựoc ngăn thành hai dăy xà-lim chuồng cọp, có cửa gỗ mở ra lối
đi ở giữa hầm. Mỗi chuồng cọp dài khoảng 2m, rộng 0,9m. Tường ngăn
các chuồng cọp cao 2m, mỗi chuồng có một lưới sắt tạo bởi 16 song
sắt ngang và hai thanh sắt dọc chặn trên đầu. Ban ngày ánh sáng vào
mỗi xà-lim nhờ nhờ, ban đêm tối om. Trời nắng, trong hầm nóng như
nồi rang, trời mưa nước giọt trên đầu tù nhân, lạnh buốt xương da.
Tù nhân không được ra ngoài vệ sinh, tất cả đều đi trong thùng và
một tuần mới có người đưa đi đổ. Các cựu tù nhân Chín hầm hiện c̣n
đang sống ở Huế cho biết mỗi ngày tù chỉ được ăn hai bữa, cơm hẫm
với mắm thối hoặc rau muống già, giờ cho ăn tùy hứng của người phục
vụ, có thể cách nhau 3 tiếng đồng hồ và cũng có thể từ rạng sáng đến
tối mịt mù. Phải giam cực h́nh như thế để cho những người tù cách
mạng chuyển hướng và những người chống đối phải đầu hàng. Có vô số
chuyện về tội ác của gia đ́nh họ Ngô thực hiện ở đây. Ông Vơ Côn vốn
là một tỉnh trưởng ở B́nh Định, v́ không ăn cánh với Cẩn nên bị vu
là mật thám Pháp, ông Côn bị bắt và bị giam bí mật ở Chín hầm. Được
tin chồng đang thoi thóp sắp chết, bà Côn bí mật lên Chín hầm đấu
tranh, chửi bới tưng bừng. Bọn Cẩn buộc ḷng phải để bà đưa chồng bà
về. Về nhà ông Côn mất. Ông Nguyển Hữu Bích đi tập kết, vợ ông ở lại
tiếp tục hoạt động, bị địch bắt, bị tra tấn vô cùng dă man nhưng bà
Bích vẫn không khai. Cuối cùng bà bị đưa lên giam ở Chín hầm. Như
trên tôi đă đề cập sau cuộc đảo chánh 11.11.1960 không thành, Nguyễn
Chánh Thi phải chạy trốn sang Căm-pu-chia, nhiều nhà giàu ở Huế như
Đức Sinh, Nguyễn Văn Yến, Rồng Vàng bị vu là “gián điệp miền Trung”
bị bắt đưa giam vào Chín hầm. Các gia đ́nh nầy phải cắt một phần lớn
tài sản của ḿnh nộp cho Ngô Đ́nh Cẩn mới được thả ra. Thậm chí có
cả chuyện các bà vợ của những người tù phải hiến thân cho bọn tay
chân nhà họ Ngô th́ chồng họ mới được can thiệp thả ra. Chồng về nhà
hay tin vợ đă “thất thân”, rất đau buồn, Vợ cảm thấy nhục nhă, có bà
đă quyên sinh. Gia đ́nh các tư sản nầy nát ra từng mảnh.
Người tù Chín
hầm được cả thế giới biết đến là Đại tá t́nh báo Nguyễn Minh Vân tức
Nguyễn Đ́nh Quảng, con trai ông Phó bảng người Quảng Nam Nguyễn Đ́nh
Hiến. Ông Vân bị cực h́nh ở Chín hầm từ 11.1961 đến 11.1963. Trong
thời gian ấy ông đă sáng tác và học thuộc ḷng 3000 câu thơ nói lên
những ngày bị cực h́nh trong khu biệt giam Chín hầm. Sau ngày Diệm
đỗ, sinh viên học sinh Huế đă lên cứu thoát ông ra khỏi Chín hầm.
3000 câu thơ viết từ cơi chết đă được bí mật chuyển ra Hà Nội và in
vào cuối năm 1973 với tựa đề Sống Trong Mồ với tên tác giả
Nguyễn Dân Trung. Tập thơ đă được dịch ra nhiều thứ tiếng và in trên
các báo văn học của Âu Mỹ. Xin trích một số câu:
“Anh thu h́nh vào một góc co ro/ Gió
ngoài rừng không ngớt thổi vi vo/ Và chốc chốc lại luồn vào trong
động/ Leo theo vách lách vào lưng vào bụng/ Tay ma nào dạo trên khắp
làn da? Vuốt quỷ đâu móc vào tận ruột già/ Nước mưa dột vẫn đều đều
rơi mạnh/ Ngồi trên ván tưởng ngồi trên đá lạnh:...
Sau năm 1975, cụ
Đào Duy Anh về thăm Huế, nơi cụ yêu cầu tôi đưa đi thăm đầu tiên là
di tích khu biệt giam Chín hầm. Lúc ấy di tích tội ác Chín hầm c̣n
như nguyên vẹn, Đứng trước một cửa hầm trơ trụi giữa một vùng đồi
trọc nắng gắt, với cḥm râu bạc ướt đẫm mồ hôi, nhà sử học lăo thành
Đào Duy Anh đă không cầm được nước mắt, bảo tôi: “Tôi đă đọc kỹ tập
thơ Sống Trong Mồ của Trần Dân Trung, giờ đây được chứng kiến
tận mắt cái địa ngục trần gian nầy, tôi không thể nào hiểu được.
Không biết trên thế giới c̣n có nơi nào biệt giam con người tàn nhẫn
đến như thế nầy không!”.
Sau đó tôi c̣n
trở lại khu vực Chín hầm nhiều lần để t́m đất sản xuất tự túc. Mỗi
lần đi ngang di tích khu biệt giam vô chủ tôi vẫn c̣n thấy lạnh
trong xương sống. Đến thời gian dậy lên phong trào thu nhặt sắt phế
thải xuất khẩu, một số người hám lợi đă đập nát cả chín cái nhà giam
chứng tích tội ác để lấy sắt. Ngày 16.12.1993, khu vực Chín hầm được
xếp hạng di tích (tội ác của chế độ cũ) cấp quốc gia, nhưng lên đây
chỉ c̣n thấy một vài tấm biển mới làm với độc nhất hai mố cửa hầm
trên đỉnh đồi. Nếu không cố t́nh đi t́m th́ khu vực Chín hầm cũ ngày
nay chỉ c̣n thấy là một khu đồi thông xanh mát do bàn tay các em học
sinh Huế trồng từ sau ngày giải phóng mà thôi.
Mới đây những
người đi t́m xác đồng đội đă t́m trong khu vực sinh phần Ngô Đ́nh
Cẩn và Chín Hầm được hài cốt của các sĩ quan t́nh báo cách mạng gồm
các ông Phan Trọng Tịnh, Lư Văn Tố, Phan Hữu Đà. Ông Lư Văn Tố đă bị
cưỡng bức đi gánh nước tưới cam và bị dập dưới gốc cam. Măi cho đến
năm vừa rồi mới t́m được hài cốt của ông.
Mỗi lần nhắc lại
hay đi ngang qua khu biệt giam Chín hầm tôi vẫn c̣n thấy rợn người.
Nhưng khi thấy khu vực nầy đă bị xóa hết tôi không khỏi suưt xoa
tiếc rẻ giống như tôi đă từng tiếc không c̣n nh́n thấy khu dinh cơ
của gia đ́nh họ Ngô ở dốc Phú Cam nữa. Từ thuở ấu thơ, tôi đă thấm
nhuần giáo lư của Đạo Phật: “Lấy ân trả oán”. Tuy nhiên, đi vào chùa
Phật là nơi đại từ bi, đại trí huệ mà ở cửa vẫn phải dựng tượng ông
thiện và ông ác. Phải biết điều thiện để làm điểu thiện là chuyện đă
đành. Cũng phải biết cái ác để tránh không làm điều ác. Biết chỗ tối
để t́m ra nơi sáng. Không tối không sáng, không phân biệt được điều
thiện và điều ác th́ con người dầu có đi hai chân cũng chưa thành
người. Thiện không biết, ác không biết, chỉ biết tiền th́ rồi xă hội
sẽ đi về đâu?
(Bài
đă đăng t/c Huế Xưa và Nay Số 33/1999 (tr. 28-34), được tác
giả xem lại vào tháng 2/2006)
|
|