|
BÀI
HỌC MẬU THÂN 1968
Chính
Đạo
LTS:
Với nhiều người dưới phố, chuyện đă qua, hăy coi như dĩ văng, phải
cố quên đi, sống cho thoải mái. Văn chương, lịch sử không quan trọng
bằng miếng cơm, manh áo, nhà cao, cửa rộng. Điều này cũng dễ hiểu
thôi. Nhưng thiết nghĩ để có thể vững mạnh đi vào đường sạn đạo hiện
đại hóa xứ sở, tuổi trẻ Việt của thế kỷ XXI cần được trang bị bằng
những kiến thức sử học nghiêm túc, khoa học; để có thể rút ra những
bài học hữu dụng. Nhu cầu t́m hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi
cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đă giúp phổ biến đủ loại
“ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các
chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc
sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây–khi được đọc những tư liệu văn
khố về Hồ Chí Minh–đă vội vă phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch
sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là
những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn. Một thứ truyền đơn,
khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc–nên đă tạo ra
hiện tượng đáng buồn về t́nh trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam
hiện nay; cũng như những lập luận “giẻ
rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.
Mậu Thân
1968: Thắng Hay Bại?
Chính Đạo
Trong
số những trận đánh có tầm chiến lược quan trọng từ 1959 tới 1975,
cuộc tổng tấn công vào các thành phố và tỉnh lỵ miền Nam đúng dịp
Tết Mậu Thân (1968) được liệt vào hàng đầu. Đây là một chuyến “làm
ăn” táo bạo của Lê Duẩn (1908-1986), Bí thư thứ nhất Đảng Lao Động
Việt Nam, đưa đến những thiệt hại to lớn về nhân sự cho Bắc quân.
Nhưng về mặt chính trị và ngoại giao–dù có dự đoán trước hay chăng–ba
đợt tấn công vào Sài G̣n-Chợ Lớn trong năm 1968 tạo một ảnh hưởng
sâu đậm tại chính nước Mỹ. Bộ trưởng Quốc Pḥng Robert S. McNamara,
và rồi Tổng thống Lyndon B. Johnson cùng đa số thành phần chủ chiến
đều nghiêng về phía t́m một giải pháp chính trị. Mặc dù ḥa đàm
Paris, nhóm họp từ mùa Xuân 1968, chưa giải quyết được ngay cuộc
chiến Việt Nam, t́nh trạng vừa đánh vừa đàm kéo dài hơn bốn năm nữa,
chiến dịch Mậu Thân đánh dấu một khúc quanh quan trọng. Ít nữa, nó
cũng giảm hẳn cường độ cuộc chiến ở phía Bắc vĩ tuyến 17, chiến dịch
Rolling Thunder [Sấm Rền] hầu như chấm dứt từ đầu tháng 11/1968–một
cuộc xuống thang rơ ràng sau gần 5 năm “leo thang.”
Để có thể cân nhắc lẽ thắng-bại của
cuộc Tổng Tấn Công-Tổng Khởi Nghĩa [TTC-TKN] Mậu Thân 1968, không
thể chỉ dựa trên thứ thông tin mạo hóa, sản phẩm của các hệ thống
tuyên truyền, chiến tranh chính trị của cả hai phe. Cũng không thể
chỉ căn cứ vào số xác chết, bị thương, hay số vũ khí tịch thu ở trận
địa. Trước hết, cần minh định bản chất cuộc chiến Việt Nam và nh́n
lại diễn tiến của giai đoạn 2 của cuộc chiến 30 năm (1945-1975).
Cuộc
chiến Việt Nam là một trong những điểm nổ của thế “chiến tranh lạnh”
giữa hai khối Tư Bản và Cộng Sản (1947-1991). Trên cơ bản, đó là một
cuộc chiến “tiền đồn” mà sự thắng bại không có yếu tố quyết
định đến đại thể.
Cuộc chiến “tiền đồn Việt Nam” đă khởi
đầu không do chính người Việt. Tham vọng thực dân Pháp-Bri-tên đă
bóp tắt mọi hy vọng cho nền ḥa b́nh tại bán đảo Đông Dương sau khi
Thế chiến thứ hai (1939-1945) vừa chấm dứt. Thủ tướng Winston
Churchill của Bri-tên–tác giả thuật ngữ “bức màn sắt” từ năm 1946–không
chỉ cực lực chống đối kế hoạch Quốc tế quản trị [International
Trusteeship] cho Đông Dương của Tổng thống Franklin D. Roosevelt
(1933-1945) mà c̣n tiếp tay cho chính phủ Charles de Gaulle
(1944-1946) đặt một đầu cầu viễn chinh ở India để tái chiếm Đông
Dương từ năm 1944. Người kế vị của Churchill c̣n công khai cho liên
quân Pháp-Bri-tên đánh chiếm Sài G̣n từ cuối tuần 22-23/9/1945, và
rồi ép buộc tù binh Nhật tham gia vào việc mở rộng vùng kiểm soát
suốt miền Nam vĩ tuyến 16, đưa đến những cuộc tắm máu giữa các phe
bản xứ.(1) Trung Hoa, trong thời gian giải giới quân Nhật ở phía Bắc
vĩ tuyến 16, cũng góp phần vào việc đảng tranh tanh máu của người
Việt. Nhưng phe chống Cộng, dù nhân số thắng vượt, cuối cùng bị thua.
Từ cuối năm 1946, phe Hồ chí Minh dưới danh nghĩa Việt Minh–giành
được độc quyền kháng Pháp. V́ lư do này hay lư do khác, phe chống
Cộng phải nương dựa vào Trung Hoa, Pháp, và rồi Liên bang Mỹ cho
chính sự sinh tồn của ḿnh và gia đ́nh; với hy vọng sẽ giành được
độc lập một cách ôn ḥa. Chua chát là người Hoa hay Pháp đều có hậu
ư riêng khi lập ra những tổ chức chính trị hay các đơn vị tiền tiêu
chống Cộng bản xứ. Qua các thí nghiệm Nam Kỳ tự trị, Tây kỳ tự trị,
hay Tây Bắc tự trị, v.. v... trên thực tế người Pháp đă biến Việt
Nam thành một xứ lâm chiến “phong kiến mới,” với Pháp và Việt Minh
thủ diễn vai tṛ hai đại lănh chúa [war-lords]. Từ năm 1948, Pháp
khởi đầu thí nghiệm Bảo Đại (1913-1997), hy vọng lấy bớt ngọn gió
“độc lập” khỏi cánh buồm kháng chiến của Việt Minh, và gom các sứ
quân chống Cộng (Ki-tô, B́nh Xuyên, Cao Đài, Ḥa Hảo, Nùng, Thái,
Rhadé, v.. v...) dưới lá cờ “quốc trưởng” của cựu hoàng Bảo Đại để
xin viện trợ Mỹ.( 2)
Chiến thắng của Mao Trạch Đông tại Hoa
lục trong hai năm 1948-1949 làm thay đổi hẳn cán cân quyền lực tại
Đông Dương. Hồ Chí Minh (1892-1969) và Việt Minh chẳng c̣n lựa chọn
nào khác hơn ngả về phía tân Quốc Tế Cộng Sản (Cominform) do Josef
V. Stalin cầm đầu, với sự phụ tá của Mao. Từ tháng 1/1950, Stalin ủy
thác cho Mao và Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shaoqi] giúp đỡ HCM thành lập các
đại đơn vị bản xứ và cung cấp cố vấn tới cấp Sư đoàn.( 3) Đối lại,
các chính phủ Mỹ can thiệp sâu hơn vào Đông Dương, đặc biệt là Việt
Nam–cung cấp viện trợ cho Pháp tiếp tục tham chiến ở Đông Dương (NSC
68) sau ngày chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Năm 1954-1955 chính phủ
Dwight D. [“Ike”] Eisenhower (1953-1961) c̣n trực tiếp can thiệp vào
Nam Việt Nam, quyết biến phần đất phía Nam vĩ tuyến 17 thành một
“tiền đồn chống Cộng” của Thế Giới Tự Do.
Từ năm 1950, sự nhập cảng chủ thuyết
Mao vào Bắc Việt–qua các đợt chỉnh cán, chỉnh quân, cải cách ruộng
đất–gây hoang mang, sợ hăi trong mọi giới. Chính các cán bộ dày công
kháng chiến cũng bị hạ tầng công tác, tù đày hay xử tử.
Nhưng dư luận thế giới cho rằng Mỹ đă
vi phạm Hiệp định Geneva 20-21/7/1954 giữa Pháp và Việt Minh–Hiệp
ước này qui định rằng sự phân chia nước Việt thành hai vùng tập
trung quân đội Bắc và Nam vĩ tuyến 17 chỉ có tính cách tạm thời, và
vấn đề thống nhất sẽ được quyết định bằng một cuộc tổng tuyển cử
trong ṿng hai năm.( 4)
Cơ quan tuyên truyền của khối Cộng Sản
đă khai thác triệt để khía cạnh bất hợp pháp này của các chính phủ
Mỹ–dù sau hậu trường chính trị, chính Viacheslav Molotov và Chu Ân
Lai (1898-1976) mở cửa cho việc phân chia Việt Nam theo vĩ tuyến 17
trong một thời gian vô hạn định. Cả Mat-scơ-va và Bắc Kinh đều
khuyến khích Hà Nội nên dùng khẩu hiệu thống nhất đất nước theo qui
định của Hiệp ước Geneva như một chiêu bài chính trị và ngoại giao,
để củng cố miền Bắc theo chế độ chuyên chính vô sản (“dân chủ nhân
dân” hay “dân chủ tập trung”). Mat-scơ-va không đồng ư việc đánh
chiếm miền Nam. Bắc Kinh cũng đă tạm hài ḷng với sự an toàn của cửa
ngơ chiến lược Đông Nam qua sự thành h́nh của một nhà nước hữu nghị
ở Bắc Việt. Những người cầm đầu Trung Nam Hải chẳng muốn có một cuộc
chiến Triều Tiên thứ hai; trong khi đại lục Trung Hoa c̣n ngổn ngang
trăm ngàn khó khăn về chính trị, kinh tế, xă hội.
Đó là chưa nói đến sự rạn nứt khó
tránh của cái gọi là khối Cộng Sản Quốc Tế, dựa trên chủ thuyết Karl
Marx–một chủ thuyết Tân Trung Cổ đă y cứ trên tư duy từ gịng lịch
sử phương Tây, đặc biệt là các nước đang kỹ nghệ hóa Âu châu, thiếu
bề rộng toàn cầu (như Mỹ châu, Á châu và Phi châu). Đồng thời, cũng
thiếu chiều sâu về các nền văn hóa nông nghiệp cổ thời và hiện trạng
văn hóa-xă hội-kinh tế của Á châu–những nền văn minh không Ki-tô.
Bởi vậy, thuyết của Marx bị Nga hóa thành thuyết Marxist-Leninism,
rồi bị Hán hóa thành tư tưởng Mao Trạch Đông (và, sau 1978, thêm vĩ
ngữ “lư luận Đặng Tiểu B́nh”), trước khi bị sụp đổ tại các nước Đông
Âu và Nga.
Sự hiềm khích Nga-Hoa ngày một trầm
trọng từ khi Nikita S. Khrushchev hạ bệ Stalin năm 1956 và chủ
trương “sống chung ḥa b́nh” với khối Tư Bản. Tuy vậy, Bắc Kinh cũng
chỉ muốn được sinh tồn, hiện đại hóa Hoa Lục, đưa Trung Hoa lên hàng
cường quốc Á châu, tránh những cuộc đương đầu không cần thiết với
Liên bang Mỹ. Bởi thế, Mao có lần đưa ra “Mao ngữ” “cái chổi và đống
bụi”–chổi chưa quét tới, đống bụi được nằm yên. Mao và giới lănh đạo
Trung Hoa ngầm muốn cho Nam Việt Nam hưởng t́nh trạng như Đài Loan
hay Nam Hàn.
Pháp–phần v́ quyền lợi kinh tế và văn
hóa, phần v́ niềm bi phẫn bị ép buộc rời Nam Việt Nam–và một số nước
Á Phi không-liên-kết nghiêng thiện cảm về chính phủ Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hoà [VNDCCH] ở Hà Nội.
Dĩ nhiên, HCM, LD và giới lănh đạo
Đảng LĐVN không đành ḷng trước hiện trạng hai “nước” Việt Nam.
Nhưng trong giai đoạn 1954-1958 phe cầm quyền Miền Bắc chỉ có thể
giữ thế “pḥng thủ chiến lược” ở miền Nam, trong khi thực hiện những
biện pháp củng cố uy quyền ở miền Bắc–qua 5 đợt cải cách ruộng đất,
hợp tác xă nông nghiệp, và công thương nghiệp. Cuộc đấu tranh chính
trị đ̣i thi hành Hiệp định Geneva, tức tổ chức tổng tuyển cử để
thống nhất đất nước, chỉ là những chiến dịch tuyên truyền cho có.
Tại
miền Nam, chính phủ Ngô Đ́nh Diệm không đủ khả năng thiết lập một
chính quyền mạnh. Trong hai năm 1954-1956, nỗ lực thu hồi quyền chỉ
huy quân đội và cảnh sát, song song với tham vọng tiêu diệt các sứ
quân B́nh Xuyên, Ḥa Hảo, Cao Đài, cùng các đảng phái chống Cộng,
khiến họ Ngô không thực hiện được những cải cách cần thiết tại mặt
trận nông thôn–mặt trận có tính cách chiến lược, sống c̣n của miền
Nam.( 5) Ngay tại các quận lỵ, tỉnh lỵ hay thị xă, thành phố, chế độ
công an trị và giáo phiệt của họ Ngô chỉ đủ khả năng kềm chế các
thành phần chống đối hoặc không theo Miền Bắc. Quốc sách “diệt Cộng”
tương đối thành công ở miền Trung, trong khi miền Nam hơn 10.000 cán
bộ Miền Bắc (trong số 40,000 cán bộ được gài lại) vẫn sống tiềm sinh
tại các mật khu hay dưới giả túc B́nh Xuyên và giáo phái.( 6)
Từ đầu năm 1959, tại Hội Nghị thứ 15 (mở
rộng) Ban Chấp Hành TƯ Đảng LĐVN (khóa II) đă có nghị quyết thống
nhất đất nước (chiếm miền Nam bằng vơ lực) và đưa miền Bắc “tiến lên”
xă hội chủ nghĩa. Theo báo Nhân Dân, Nghị quyết này ban hành ngày
13/5/1959, sau khi HCM từ Bắc Kinh trở về. Thực ra, Hội nghị 15 đă
nhóm họp từ ngày 12 tới 22/1/1959. (Hai Xứ ủy viên miền Nam là
Nguyễn Văn Xôạ và Phan Văn Đáng tham dự). Tiếp đó, tháng 3/1959, Bộ
Chính trị [BCT] Đảng LĐVN ra chỉ thị về việc tổ chức xây dựng căn cứ
cách mạng ở Cao nguyên Trung phần (Tây nguyên bao gồm miền rừng núi
Liên khu V và vùng Đông Bắc Nam bộ). Rồi cho thành lập các đơn vị vũ
trang ở Quảng Ngăi (3/1959), B́nh Định (7/1959), Khánh Ḥa, Phú Yên,
v.. v... Đồng thời, gia tăng cường độ các vụ khủng bố, ám sát viên
chức xă, ấp tại quận Trà Bồng, Quảng Ngăi của sắc dân Cor, Ba Tơ,
Sơn Hà, Minh Long v.. v.... Ngày 7/5/1959, BCT cũng chỉ thị cho xứ
ủy Nam bộ “Cần phát động một phong trào đấu tranh chính trị rộng răi
trong quần chúng, đồng thời tùy từng nơi, từng lúc ra sức phát triển
hoạt động vũ trang tuyên truyền để đưa địch vào thế thụ động, cô lập
hơn nữa về chính trị.” (7)
Măi tới trung tuần tháng 5/1959, Đảng
LĐVN mới có cơ hội để công bố chính sách mới. Cơ hội thứ nhất là
ngày 6/5/1959, chính phủ NĐD ban hành Luật 10/59 nhằm “diệt Cộng” và
thiết lập ṭa án quân sự lưu động để xét xử cán bộ Miền Bắc. Toà Mặt
Trận này có quyền chung thẩm; dùng Dụ số 47 năm 1956 để trừng trị
“Việt Cộng.” Ngay trong ngày 7/5/1959, Ban Bí thư [BBT] Đảng LĐVN
chỉ thị cho XUNB về những biện pháp đối phó với Luật 10/59. Một tuần
sau, ngày 14/5, Vơ Nguyên Giáp cũng gửi điện văn cho Ủy Ban Quốc tế
Kiểm soát đ́nh chiến phản đối Luật trên.( 8)
Cơ hội thứ hai là đột biến chính trị ở
Lào, một vương quốc trung lập, nơi Hà Nội có ảnh hưởng lớn trên tổ
chức Pathet Lào tức Neo Lao Hak Sat (Mặt trận Yêu Nước Lào). Ngày
11/5/1959, Phoui Sananikone bắt giữ các lănh tụ Pathet Lào, kể cả
Souphanouvong, Phoumi Vongvichit và Đại tá Singkapo. Việc bắt giữ
này đưa Kaysone Phomvihane lên cầm đầu Pathet Lào. Rồi ngày 17/5,
quân Pathet Lào rời Cánh Đồng Chum [Plaine de Jarres] rút qua lănh
thổ Việt Nam, từ chối sát nhập vào quân đội Hoàng Gia. Sau đó, phát
động du kích chiến ở vùng Sầm Nứa, với sự giúp sức của các “chuyên
gia” Hà Nội. Chu Huy Mân và Trần Văn Trà (1919-1996) nhận lănh
“nghĩa vụ quốc tế” của “Đoàn 100” và “Đoàn 959” [thứ nhất] trong
cuộc nổi loạn này.
Mặc dù Mat-scơ-va không đồng ư cho Hà
Nội tấn công miền Nam, và Bắc Kinh th́ chỉ muốn HCM “trường kỳ mai
phục,” Hà Nội vẫn làm ăn theo ư ḿnh. Liên Xô và Trung Hoa miễn
cưỡng xuôi theo, tiếp tục viện trợ cho Hà Nội để gây thiện cảm giữa
lúc rạn nứt giữa Mat-scơ-va và Bắc Kinh ngày càng trầm trọng, và
tránh tiếng thiếu tinh thần nghĩa vụ quốc tế.( 9)
Cách nào đi nữa, từ tháng 5/1959,
Thượng tá CS Vơ Bẩm được lệnh lên đường vào Nam, khai mở đường giây
liên lạc, sau này được biết như Binh Đoàn 559. Bẩm người Quảng Ngăi,
trước đó đă được Trần Lương, Bí thư Khu V, và Tướng Nguyễn Văn Vịnh,
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thống Nhất, giao nhiệm vụ chuyển thuốc men và
một số súng đạn cho Khu V. Qua tháng 7/1959, Hà Nội c̣n tổ chức một
đường giây hải thuyền 759 hay 125 để chuyển vận khí giới vào Nam dọc
theo duyên hải.
Từ tháng 11/1959, Xứ Ủy Nam Bộ và Khu
V (Trung bộ) bắt đầu phát động chiến dịch “khởi nghĩa” hay “đồng
khởi” khắp miền Nam (Nghị quyết 4). Những ngày gần Tết Canh Tí
(1960) chính phủ NĐD bị choáng váng v́ những đợt đột kích vũ trang
của đối phương khắp nơi, từ Cà Mau tới B́nh Dương. Chấn động dư luận
nhất là cuộc đột nhập Bộ Chỉ huy Trung đoàn 32 của Sư đoàn tân lập
21 (nguyên là Trung đoàn 39, Sư đoàn 13 Khinh chiến) ở Trảng Sụp,
Tây Ninh đêm 25 rạng 26/1/1960. Khoảng 200 Bắc quân vượt các trạm
gác, xuyên qua doanh trại các Tiểu đoàn. Giao tranh diễn ra trong
khoảng 1 tiếng đồng hồ. 23 quân nhân VNCH chết, 43 bị thương, mất
một số lớn vũ khí trong kho (2,000). Bộ Chỉ huy Trung đoàn, hai
doanh trại bị phá hủy và 4 doanh trại khác bị hư hại. (10)
Chiến lược của Bắc Việt thời gian này
là lập căn cứ, đấu tranh vơ trang ở vùng rừng núi, đấu tranh chính
trị và bán quân sự ở nông thôn, và đấu tranh chính trị tại các thị
trấn và thành phố. Những hành vi khủng bố, ám sát viên chức hành
chính và an ninh cấp thôn, xă ngày một gia tăng. “Phiến Cộng” cũng
không ngừng đánh phá các trung tâm dinh điền hay Khu Trù Mật ở cao
nguyên Trung phần và miền Tây đồng bằng Cửu Long, kể cả việc sử dụng
“đạo quân tóc dài.” “Bức tường người” của NĐD xây dựng từ năm
1955-1956 bị lung lay tận rễ gốc. Tuy nhiên, Hà Nội vẫn giữ bề ngoài
hợp pháp, chờ đợi thời cơ. (11)
T́nh h́nh suy thoái an ninh miền Nam
khiến viên chức Mỹ không ngớt báo động về Oat-shinh-tân. Thêm vào đó,
sự bất măn và chống đối chính phủ ngày một gia tăng. Tại Sài G̣n,
chế độ bị choáng váng v́ một bức tranh b́a đặc san Xuân nhật báo Tự
Do–tờ báo chịu ảnh hưởng của Sở Nghiên Cứu Chính Trị và Xă Hội của
Trần Kim Tuyến. Chẳng hiểu họa sĩ Phạm Tăng muốn vẽ ǵ mà được diễn
dịch thành “6 con chuột đang gậm nhấm trái dưa hấu Việt Nam” và
người ta liền truyền tụng rằng 6 con chuột đó tiêu biểu anh chị em
họ Ngô. Hai tháng sau, thêm một trái bom chính trị nổ tại Sài G̣n,
tức Bản kháng thư (manifesto) phản đối chế độ độc tài NĐD được phân
phối trong cuộc họp báo của 18 nhân vật tên tuổi tại khách sạn
Caravelle ngày 26/4/1960. Hầu hết các chính khách này từng hợp tác
với chế độ.( 12)
Tháng 9 năm 1960, tại Đại hội thứ III
của Đảng LĐVN, HCM và Bộ Chính Trị lại ra nghị quyết “giải phóng
miền Nam bằng vơ lực.”( 13) Theo Hà Nội, miền Nam đă trở thành thuộc
địa của đế quốc Mỹ, và đánh chiếm miền Nam là cuộc chiến tranh
“chống Mỹ cứu nước,” một cuộc thánh chiến giải phóng. Chính quyền
miền Nam bị hạ giá thành “Ngụy quyền,” “ tay sai đế quốc Mỹ.” V́ áp
dụng triệt để lẽ phải của họng súng, Hà Nội chẳng cần nhắc nhở ǵ
đến những mưu toan chiến lược của Nga – Hoa, mà chỉ ca ngợi Liên Xô
và Trung Quốc vĩ đại, nhiệt liệt hoan hô bất cứ ai đang cầm quyền ở
hai nước đàn anh và không tiếc lời “ngàn đời nhớ ơn” viện trợ của
“phe ta.”( 14) Và, dĩ nhiên, luôn luôn có thành kiến tiên thiên: Bất
cứ ai chống lại ư thức hệ Cộng Sản đều là phản động, phản cách mạng,
phải ngừng hiện hữu.
Nghị quyết của Hà Nội năm 1960 và t́nh
h́nh suy thoái an ninh ở miền Nam khiến Đại sứ Elbridge Durbrow phải
đề nghị với Oat-shinh-tân áp lực Tổng thống NĐD cải cách chính trị,
kể cả việc nghiên cứu cho hai vợ chồng Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu rời nước
và giải tán hoặc ra công khai Đảng Cần Lao.( 15) Nhưng ngọn lửa tiếp
sức cho Nghị quyết trên là cuộc đảo chính hụt của Nhảy Dù và Thủy
Quân Lục Chiến trong hai ngày 11-12/11/1960. Đúng lúc cuộc đảo chính
vừa diễn ra ở Sài G̣n, Bộ Chính Trị Đảng LĐVN quyết định cho Mặt
Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam [MTDTGPMN] ra công khai.( 16)
Mặc dù là con đẻ của Miền Bắc, tổ chức
quần chúng này (giống như các tổ chức Việt Minh hay Liên Việt) lôi
kéo được một số người không Cộng Sản, nhưng chán ghét hoặc là nạn
nhân của chính quyền Miền Nam.( 17) Chính v́ thế đă có nhiều người
cả đoan rằng cuộc xâm lăng miền Nam của Miền Bắc chỉ là “cuộc nội
chiến” giữa những phe phái miền Nam.( 18)
Nhờ có cán bộ và khí giới xâm nhập từ
miền Bắc, và sự chỉ đạo chặt chẽ từ Hà Nội, tổ chức MTDTGPMN ngày
một lớn mạnh. Cơ cấu hành chính nông thôn của chính phủ NĐD ngày một
suy sụp. Năm 1960, tỉnh trưởng Vĩnh Long là Khưu Văn Ba bị ám sát.
Năm sau, tỉnh trưởng Phước Thành bị đấu tố ngay giữa nhà lồng chợ
trước khi bị treo cổ. Chiến trận rộ lên ở vùng cao nguyên vào đầu
mùa khô 1961, khiến chính phủ NĐD phải tuyên bố t́nh trạng lâm nguy,
kêu gọi Thế Giới Tự Do cứu giúp–và chính NĐD ngầm yêu cầu Liên bang
Mỹ gửi quân tác chiến vào Nam. Tuy nhiên, trước sự chống đối của dư
luận Mỹ và thế giới, chính phủ John F. Kennedy (1961-1963) chỉ hứa
sẽ giúp Miền Nam bằng mọi phương tiện, ngoại trừ việc trực tiếp
tham chiến. Quyết định này của Kennedy tạo nên những căng thẳng
trong liên hệ Mỹ-Việt vào cuối năm 1961, và báo chí Sài G̣n–theo
lệnh của Ngô Đ́nh Nhu–mở một chiến dịch bài Mỹ xâm phạm chủ quyền và
nền độc lập của miền Nam. Dẫu vậy, cuối cùng, hai bên đồng ư thực
hiện “kế hoạch chống phản loạn” [CIP], với điều kiện Mỹ ngưng đ̣i
hỏi NĐD cải cách về chính trị. Từ cuối năm 1961, miền Nam bắt đầu kế
hoạch b́nh định nông thôn qua việc chấn chỉnh các khu trù mật và
dinh điền cũ thành những thí điểm “xóm chiến đấu” ở Tây Ninh, Quảng
Ngăi và Vĩnh Long, theo nguyên tắc “vết dầu loang” [oil spot]. Tiếp
đó, tháng 3/1962, chính phủ phát động quốc sách Ấp Chiến Lược [ACL],
theo kế hoạch của Robert [“Bob”] Thompson, một chuyên viên chống
phản loạn Bri-tên. Tuy nhiên, đă qua trễ. Đối phương t́m đủ mọi
phương cách bẻ găy quốc sách ACL–qua việc tấn công, phá vỡ các ACL
bằng quân sự, chính trị và binh vận–đồng thời gia tăng xâm nhập cán
binh từ Bắc.( 19)
Cuộc
đánh bom Dinh Độc Lập vào tháng 2/1962, rồi đến cuộc đảo chính
1/11/1963 và những năm tháng hỗn loạn chính trị sau đó–với nhiều
cuộc đảo chính, chỉnh lư, bất ổn chính trị qua các cuộc xuống đường
biểu t́nh ở các thị xă và tỉnh lỵ lớn(20)–khiến từ năm 1964 chính
phủ Lyndon B. Johnson quyết định oanh tạc “trả đũa” miền Bắc, và rồi
đưa quân tác chiến Mỹ vào Nam Việt Nam để cứu văn t́nh thế. Lê Duẩn
không chịu lùi, quyết leo thang “tiến công,” xâm nhập từng đại đơn
vị chính qui vào Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1914-1967), Ủy
viên Bộ Chính Trị, Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị, được giao quyền chỉ
huy khoảng 200,000 bộ đội “sinh Bắc tử Nam” để chống lại “cuộc chiến
cục bộ” (tự giới hạn) của Mỹ. Vào Nam (“đi B”) từ mùa Hè 1964,
Nguyễn Chí Thanh được chỉ định làm Bí thư Trung Ương Cục Miền Nam (mới
được tái lập, hoạt động dưới danh nghĩa Đảng Nhân Dân Cách Mạng Việt
Nam trong MT/ GPMN), kiêm Chính ủy B-2.
Sau ngày Thanh vào Nam, tổ chức lănh
thổ phía Nam vĩ tuyến 17–với hai chiến trường B-1 và B-2 từ năm
1961–cũng thay đổi.
“B-2”
gồm 5 tỉnh phía Nam Trung bộ và toàn miền Nam, chia làm 4 Quân Khu:
Khu 6 (Nam Trung bộ), Khu 7 (Đông Nam bộ), Khu 8 (Trung Nam bộ) và
Khu 9 (Tây Nam bộ), cùng Đặc khu Sài G̣n/Gia Định (T-4).
Khu V (B-1) chia ra làm hai: “B-1,”
gồm 8 tỉnh duyên hải miền Trung, từ Quảng Trị vào Khánh Ḥa; B-3,
tức Mặt Trận Tây Nguyên gồm 3 tỉnh Pleiku, Kontum, Ban Mê Thuột, với
Nguyễn Chánh làm Tư lệnh, Đoàn Khuê làm Chính ủy. Tháng 9/1965, Chu
Huy Mân làm Tư lệnh kiêm Chính ủy B-3. Tháng 4/1966, lập thêm Quân
khu Trị-Thiên (B-4), do Lê Chưởng làm Tư lệnh kiêm Chính ủy. Hai
tháng sau, 6/1966, lập Mặt Trận Đường 9 (tức B-5), do Vũ Nam Long (Đoàn
Văn Ưu, 1921-?) làm Tư lệnh; Nguyễn Xuân Hoàng, Chính ủy.
Mặt Trận Tây Nguyên đặt trực thuộc Bộ
Tổng Tham Mưu ở Hà Nội, là nơi hoạt động của các đơn vị từ Bắc xâm
nhập. Cuối năm 1967, “B-3” có hai đại đơn vị Nông trường (SĐ 1) và
Nông trường 10 (SĐ 325B), cùng Trung đoàn 24, các đơn vị pháo, pḥng
không, quân y, vận tải, v.. v...
Các đơn vị vũ trang tại các quân khu khác cũng được tổ chức lên cấp
sư đoàn (công trường): Sư Đoàn 2, Sư Đoàn 3 “Sao Vàng” thành lập
ngày 2/9/1965 tại B́nh Định (Quân khu 5); Tư lệnh, Giáp Văn Cương;
Chính ủy, Đặng Ḥa; Sư Đoàn 9 thành lập ngày 2/9/1965 tại Phước
Thành, B́nh Long; tham gia chiến dịch Dầu Tiếng (1965); Tư lệnh,
Hoàng Cầm; Chính ủy, Lê Văn Tưởng; Sư Đoàn 5 thành lập ngày
23/11/1965 tại Bà Rịa (Căn cứ Mây Tầu); Tư lệnh, Nguyễn Hoà; Chính
ủy, Lê Xuân Lựu; Sư Đoàn 7 thành lập ngày 13/6/1966 tại Phước Long;
tư lệnh, Nguyễn Ḥa; Chính ủy, Dương Cự Tẩm.
Thanh áp dụng chiến lược đă quen thuộc
của Mao Trạch Đông: Lấy nông thôn bao vây thành thị cho tới lúc ung
thối, rồi sẽ dứt điểm.( 21) Nhưng đối thủ của Thanh là William C.
Westmoreland, một cựu Tướng Nhảy Dù. Ngoài ra, c̣n có cả một đạo
quân cơ giới tối tân bậc nhất thế giới. Đó là chưa nói đến oanh tạc
cơ chiến lược B-52 (lần đầu tiên yểm trợ chiến thuật tại Bến Cát
ngày18/6/1965) mà chỉ những bộ đội “sinh Bắc tử Nam” mới đầy đủ kinh
nghiệm nói về mức tàn phá. Bởi thế, bày ra trận đánh nào, Thanh thua
trận đó–từ Đức Cơ (Pleiku, 8/1965), An Khê (9/1965), tới Pleimei
(10/1965), Ia Drang (10-11/1965), Ia Drang 2 (Sa Thầy, 10-12/1966),
Tây Ninh (11/1966), v..
v...
Với chiến lược “truy diệt
[search-and-destroy],” Westmoreland đă có thể tảo thanh cả những
chiến khu bất khả xâm phạm trong giai đoạn 1945-1954: Tam Giác Sắt,
Chiến khu C, Chiến khu D (chiến dịch Cedar Falls, Junction City,
v... v...).
Song
song với chiến lược “truy diệt” này là một chương tŕnh b́nh định (xây
dựng) nông thôn. 54 tiểu đoàn chính qui VNCH, kể cả Nhảy Dù và Thủy
Quân Lục Chiến, được giao nhiệm vụ yểm trợ cho 555 toán cán bộ XDNT
b́nh định và cải tổ dần từng thôn ấp. Trên lư thuyết, đây là một
chiến lược lư tưởng nhất: sử dụng hơn 500,000 quân Mỹ và Đồng Minh
để bẻ gẫy các lực lượng chính qui của Bắc quân, trong khi thanh lọc
dần những cán bộ hạ tầng của đối phương, theo chính sách vết dầu
loang. Trên thực tế, dẫu có nhiều khiếm khuyết–như lănh đạo yếu kém,
tệ nạn phe đảng, tham nhũng, hối lộ tràn lan–“chiến lược hai gọng
ḱm” này khiến chính quyền miền Nam ngày thêm vững mạnh. (22) Ít nữa,
cũng vững mạnh hơn giai đoạn “kiêu binh” 1963-1966. Đồng thời, chính
phủ Johnson bắt đầu hợp hiến hoá chế độ miền Nam; đưa Nam Việt Nam
trở lại t́nh trạng một quốc gia có hiến pháp (1/4/1967), quốc hội,
v.. v...
Từ tháng 5/1967, Nguyễn Chí Thanh có ư
định thay đổi chiến lược: đưa chiến tranh vào thành phố để gỡ rối
cho hạ tầng cơ sở nông thôn. Thanh muốn tung ra những đợt đột kích
kéo dài ít ngày, rồi triệt thoái. Nhưng cái chết đột ngột của Thanh
vào mùa Thu 1967 khiến Hà Nội–đúng hơn, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Văn
Tiến Dũng–cải tiến kế hoạch đột kích thành phố và thị xă thành một
cuộc Tổng Tấn Công. Có lẽ vào thời gian này, yếu tố “ngoại giao” hay
“mặt trận chính trị” mới được thêm vào, giúp kế hoạch “Tổng Tấn Công”
có kích thước lớn lao hơn.( 23)
Sự thay đổi chiến lược này được thực
hiện trước tiên bằng việc tăng cường nhân sự cho miền Nam. Phạm Hùng
(Phạm Văn Thiện, 1912-1988), một cộng sự viên đắc lực của Lê Duẩn
trong thời chiến tranh Pháp-Việt ở miền Nam, Ủy Viên Bộ Chính Trị,
được chỉ định làm Bí thư Trung Ương Cục Miền Nam, kiêm Bí Thư “B-2”.
Hoàng Văn Thái (tức Xiêm, 1915-1986), thân tín của Giáp, vào nắm
toàn bộ lực lượng vơ trang B-2. Vũ Nam Long (Đoàn Văn Ưu, sinh 1921)
được điều từ Quân Khu IV Bắc Việt vào Đặc khu Trị-Thiên (B-4) (thành
lập từ tháng 4/1966) để phụ tá Trần Văn Quang.
Tiếp đến việc cải tổ lại khu vực lănh
thổ Huế và Sài G̣n. Đồng thời, để gây tiếng vang và nhắm mục đích
lôi kéo quân Mỹ ra xa các thành phố, Bắc quân mở năm mặt trận lớn:
Trận Cồn Tiên ở vùng vĩ tuyến 17 từ cuối tháng 6/1967 tới tháng
9/1967; trận Lộc Ninh (Phước Long) ở gần biên giới Miên từ 27/10 tới
5/12/1967; trận Dak To (Kontum) (11/1967); và, đặc biệt, chiến dịch
Khe Sanh-Đường 9 sát ranh giới Lào từ ngày 20/1 tới 15/7]/1968. Mặc
dù các đơn vị Bắc quân thiệt hại nặng nề, quyết tâm đánh lớn, đánh
lâu của Hà Nội khiến các chiến lược gia Đồng Minh và VNCH phải gợi
nhớ đến bài học quân sử Điện Biên Phủ (1954).( 24) Chính v́ thế, mặc
dù phát hiện nhiều bằng chứng khả tín, ít ai tiên đoán được, hoặc
công khai cảnh cáo dư luận thế giới về một cuộc Tổng Tấn Công trên
toàn lănh thổ miền Nam–một cuộc tự sát tập thể (kamikaze) trông thấy
trước mắt.( 25)
Cho đến hiện nay, Hà Nội vẫn chưa công
bố hết động lực khiến Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Vơ Nguyên
Giáp và Văn Tiến Dũng đă có quyết định lạ lùng trên. (Vai tṛ của
HCM trong lối đánh “cách mạng” kiểu Việt Nam này c̣n là một dấu hỏi:
Ở số tuổi 76, thường xuyên đau yếu, sống tại Hoa Nam nhiều hơn Hà
Nội đang “sơ tán”, HCM có tiếng nói nào chăng?)
Theo nội dung bài nói chuyện của Lê
Duẩn tại Hội nghị TW lần thứ 14, vào đầu năm 1968, Miền Bắc đă mạnh
hơn Mỹ và Đồng Minh về phương diện quân sự. Mặc dù về quân số, tỉ lệ
là 3/1, nhưng lực lượng cơ động Bắc quân 2, phe Mỹ và Đồng Minh chỉ
có 1. Duẩn khẳng định: “Địch chưa bao giờ diệt ta một đại đội [sic];
Ta diệt từng tiểu đoàn địch.” “Về quân sự nó thua rồi.” Bởi thế phải
nắm lấy “thời cơ,” tiến công” (Tổng tấn công) theo đúng lời Karl
Marx và Lenin chỉ dạy: “Cách mạng là tiến công; không tiến công là
thất bại.” Trong khi đó, những chuyển biến chính trị trong hai
năm 1966-1967 cho thấy chế độ miền Nam sắp suy sụp, phe Miền Bắc sẽ
thay Phật Giáo làm chủ t́nh h́nh chính trị các tỉnh lỵ và thị xă.
Duẩn giải thích thêm: Từ khi Phật Giáo thất bại (“tự thiêu là
bạo lực”), “quyền lănh đạo thuộc về ta;” Sài G̣n có vài ba vạn
[20,000-30,000] đảng viên đang nằm im; “Ta làm chủ Đà Nẵng 70 ngày;”
“cuối năm 1967, ta đă chỉ đạo quần chúng đô thị;” “Quần chúng đă
chín muồi, muốn nắm chính quyền;” “hầu hết đô thị đều sôi nổi, coi
như bây giờ không có con đường nào khác, phải khởi nghĩa, phải đánh
đổ Mỹ.” Vấn đề quan trọng là “làm sập chính quyền của nó;” “phải phá
hết, phá rất dữ hậu cứ của nó;” “Phải chuyển qua tổng công kích,
tổng khởi nghĩa.” Mỹ thua, sẽ phải ngồi vào bàn hội nghị. Rồi Duẩn
hy vọng “300,000 người Sài G̣n cầm súng đánh Mỹ;” “Ta mạnh lên,
chúng vọt xuống;” “tất cả các lực lượng phản chiến sẽ ngả về ta.”
Duẩn cũng nhấn mạnh: Tổng tấn công là “một chiến dịch”, “một giai
đoạn”, 3 tháng, 6 tháng, c̣n kéo dài. Và tiết lộ “đă bàn với TWC;”
“thấy nhu cầu của quần chúng thực sự, nguyện vọng quần chúng thực sự;”
“Ta không bàn với ai, bí mật lắm.” Chủ trương lớn, đă đề ra từ nghị
quyết 11, 12 [năm 1965]; Duẩn từng nói với Lưu Thiếu Kỳ và Leonid
Brezhnev. “Ta khởi đầu, ta sẽ kết thúc. Độc lập, không nghe ai cả.”
(26)
Trung
tướng Trần Độ–tức Tạ Ngọc Phách (1923-2002), Phó Chính ủy B-2, người
được giới t́nh báo, truyền thông phong (một cách lầm lẫn) là cấp chỉ
huy của mặt trận Sài G̣n–tiết lộ với một kư giả vào năm 1981 rằng
Miền Bắc tin tưởng có thể thắng lợi, chiếm giữ được một số thành phố.
Riêng về phản ứng chính trị ở Mỹ chỉ là điều may mắn, không trù liệu
trước.( 27) Nhận xét này phản ánh nội dung bài nói chuyện dẫn trên
của Lê Duẩn. Tuy nhiên, c̣n quá ít tài liệu để phán xét mức độ sâu
sát của lời chứng trên. Dù ở cương vị Phó Chính Ủy B-2 chưa hẳn Trần
Độ biết rơ hết những lư do thầm kín của cuộc Tổng Tấn Công-Tổng Khởi
Nghĩa Mậu Thân 1968.
Y sĩ
Dương Quỳnh Hoa–một cán bộ MTDTGPMN, từng bí mật vào Sài G̣n “công
tác” trong trận Mậu Thân, và từng có chân trong Chính phủ Lâm thời
Cộng Ḥa miền Nam– cũng than van, vào năm 1981, rằng Hà Nội đă “tính
toán sai lạc” một cách thảm hại, khiến suy yếu cuộc nổi dậy ở miền
Nam (Karnow 1984:545). Giống như trường hợp Trần Độ, nhận xét này
phần nào hữu lư, nếu chỉ dựa trên những lời tuyên bố của Lê Duẩn tại
Hội nghị trung ương thứ 14; đặc biệt là “nguyện vọng” nổi dạy lật đổ
chính quyền của dân chúng miền Nam (Tổng Khởi Nghĩa).
Y sĩ
Hoa, cùng nhiều thành viên MT/GPMN, cũng hàm ư rằng Hà Nội đă nhân
cơ hội Mậu Thân làm suy yếu lực lượng vơ trang của MT/GPMN, hầu có
thể chi phối hoàn toàn t́nh thế. Từ Hội nghị 14 (khóa III), Hà Nội
đă dự trù cho khai sinh một Măt Trận II, chuẩn bị thành lập một
chính phủ trung ương lâm thời cho miền Nam Việt Nam, với những khuôn
mặt mới mẻ hơn, kể cả vài khuôn mặt thân Pháp.( 28)
Tuy nhiên, nếu khách quan phân tích,
khi tung ra cuộc tự sát tập thể Mậu Thân 1968, Hà Nội đă nhắm vào ba
mục tiêu chính: gỡ rối về quân sự, mở mặt trận chính trị ở quốc
ngoại, và làm suy yếu tiềm lực chống Cộng của thị dân miền Nam.
Một
trong những mục đích chính của Hà Nội nhằm khích động tinh thần cán
binh. Như chúng ta đă biết, từ năm 1965, cường độ các trận đánh giữa
Bắc quân và lực lượng Đồng Minh ngày thêm gia tăng. Số tổn thất của
Bắc quân về phi pháo rất cao.( 29) Đáng lưu ư hơn nữa là cái chết
của Nguyễn Chí Thanh vào mùa Thu 1967.( 30)
Trong khi đó, kế hoạch phong tỏa kinh
tế và những cuộc hành quân b́nh định của VNCH–do 555 toán Xây Dựng
Nông Thôn phụ trách dưới sự bảo vệ của các đơn vị chủ lực, cùng tài
trợ, cố vấn của Bộ Tư lệnh MACV và các nha sở liên hệ, dưới sự phối
hợp của Robert W. Komer–khiến tinh thần cán binh đối phương xuống
rất thấp.( 31) Số cán bộ hồi chính ngày một lên cao (20,242 cho cả
năm 1966, 13,551 người trong 4 tháng đầu năm 1967, và lên tới trên
27,000 cho trọn năm). (The Pentagon Papers (Gravel), I:15)
T́nh trạng “lạc ngũ”–tức bỏ đơn vị, lang thang trong rừng–cũng xuất
hiện. Đánh vào thành phố, bởi thế, là đi vào cửa chết để t́m cái
sống.
Trước hết, tấn công vào các thành phố
sẽ khiến Đồng Minh và quân VNCH phải cắt giảm các cuộc hành quân
truy diệt, rút về thế thủ, bảo vệ các ṿng đai an ninh. Các đoàn Xây
Dựng Nông Thôn sẽ mất lực lượng quân sự yểm trợ, dễ bị thanh toán.
Lực lượng Nghĩa quân (Dân vệ) hay Địa Phương quân (Bảo An) cũng bị
xuống tinh thần. Tại vùng IV, chẳng hạn, khoảng 400 tiền đồn đă rút
lui không một tiếng súng kháng cự trong dịp Tết Mậu Thân. Những viên
chức hành chính địa phương cũng mất điểm tựa cần thiết. Các cơ sở
nông thôn của đối phương sẽ có cơ hội khôi phục.
Dĩ nhiên, một cuộc tấn công qui mô như
thế phải tổn thất lớn lao về nhân mạng và vũ khí.( 32) Chưa tài liệu
khối Nga-Hoa hay Miền Bắc nào cho biết yếu tố tổn thất có được
nghiên cứu hay chăng. Sự im lặng này–dù đă gần 40 năm trôi qua–chứng
tỏ hành động thí quân của giới lănh đạo Miền Bắc: Chẳng những thản
nhiên ném hơn 80 chục ngàn cán binh vào tử địa–mà một số không nhỏ
c̣n dưới 18 tuổi–Lê Duẩn, Lê Đức Thọ cùng các cán bộ cao cấp c̣n làm
cho họ tin là nhất định sẽ chiến thắng, giải phóng trọn vẹn được
miền Nam, dân chúng các đô thị đang trông chờ họ, và nhất định sẽ có
tăng viện cho các đoàn quyết tử tiền phong. Ba tiếng “Tổng Khởi
Nghĩa” được điền thêm vào kế hoạch Tổng Tấn Công nguyên thủy có lẽ
phần nào mục đích tác động (động viên) tinh thần này, hơn thực tâm
tin tưởng rằng Miền Bắc đủ khả năng lật đổ chế độ có vẻ suy yếu sau
nhiều biến loạn chính trị tại miền Nam từ năm 1963. Lê Minh, người
chỉ huy mặt trận Huế, cũng thú nhận và ngầm chỉ trích sách lược thí
quân của Hà Nội.
Song
song với ư niệm thí quân để giải tỏa áp lực của Đồng Minh tại nông
thôn–nguồn cung cấp tài nguyên nhân, vật lực–là một mặt trận ngoại
giao vừa hé mở.
Từ năm 1962, đă bắt đầu có những cuộc
tiếp xúc bí mật giữa Mỹ và Bắc Việt. Chiều ngày 22/7/1962, nhân dịp
kư Hiệp ước về Lào, Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm gặp W. Averell
Harriman tại khách sạn Hotel Suisse, Geneva. Harriman cho Khiêm biết
rằng Kennedy đă quyết định tăng viện cho Nam Việt Nam v́ cuộc chiến
tranh du kích tại miền Nam do miền Bắc điều khiển (bằng chứng là báo
cáo của UBQT/KSĐC), và Mỹ sẽ chấm dứt sự hiện diện quân sự nếu Hà
Nội trở lại t́nh trạng Hiệp định Geneva qui định. Khi Khiêm biện
bạch đây thuần chỉ là cuộc nổi dậy của dân chúng miền Nam, không hề
có lính miền Bắc tham chiến, Harriman nói không muốn thảo luận nhiều
về vấn đề này, và tuyên bố sự can thiệp của Mỹ chỉ chấm dứt khi nào
Bắc Việt ngừng xâm lăng miền Nam. Từ ngày này, có nhiều nỗ lực bí
mật của phe “chủ ḥa” miền Bắc, qua trung gian nhiều chính phủ và tổ
chức–đặc biệt là Liên Xô, Liên Hiệp Quốc, Pháp và Vatican–để t́m
giải pháp ḥa b́nh. Tuy nhiên, măi tới đầu năm 1967, Phó Thủ Tướng
kiêm Ngoại Trưởng Nguyễn Duy Trinh mới nêu lên điều kiện để ḥa đàm:
ngưng oanh tạc Bắc Việt và triệt thoái quân viễn chinh Mỹ khỏi Việt
Nam vô điều kiện. (33)
Ngày 8/2/1967, TT Johnson viết thư cho
HCM, và được phúc đáp tương tự. Bảy tháng sau, ngày 26/9, Johnson
đồng ư ngưng oanh tạc có điều kiện (thường được biết
như Phương thức San Antonio). Cuối năm 1967, sau những chuyến xuôi
ngược của đại diện Vatican giữa Roma và Hà Nội (Johnson
1971:268-269), Trinh lại thêm một lần đề cập đến vấn đề “điều kiện”
ḥa đàm. Cơ hội cho ḥa đàm đă hé mở.
Tuy nhiên, ḥa đàm ở thế nào, mạnh hay
yếu? Muốn thắng lợi ở bàn hội nghị, cần mạnh ở chiến trường. Hoặc,
phải tạo được chứng cớ để thổi phồng sức mạnh của ḿnh ở chiến
trường. Thực tế, về trang bị, vũ khí hay khả năng tác chiến, Miền
Bắc khó thể đương đầu một đạo quân hùng mạnh, cơ giới tối tân như
lực lượng Mỹ và Đồng Minh. Dẫu vậy, đạo quân Mỹ cũng có nhược điểm:
cần một thời gian khá dài để ổn định t́nh h́nh, và nhiều quân số hơn
nữa để chiến thắng. Nhưng Johnson từng tuyên bố cuộc tham chiến của
Mỹ sẽ ngắn hạn, ánh sáng ở cuối đường hầm không xa, và để chiến
thắng tổng số quân Mỹ cần thiết chỉ lên tới 525,000 người vào giữa
năm 1968. Đáng lo hơn nữa, cứ bốn năm nước Mỹ có một cuộc tranh cử
Tổng Thống cùng một nửa số ghế trong Thượng Viện; và, một Tổng Thống
chỉ có thể giữ chức vụ tối đa trong hai nhiệm kỳ, tức 8 năm. Đó là
chưa nói Việt Nam–ngoài công dụng ngăn chặn sự bành trướng ảnh hưởng
của Liên Xô xuống vùng Đông Nam Á–chẳng có ǵ quyến rũ. Mỹ tiếp tục
giữ quân chiến đấu ở Việt Nam phần lớn v́ niềm kiêu hănh của một
siêu cường, v́ an ninh, thịnh vượng chung của toàn vùng Đông Nam Á,
và v́ những cuộc bầu cử tại chính nội địa Mỹ–tức không một Tổng
thống hay một chính đảng nào, dù Dân Chủ hay Cộng Ḥa, muốn đi vào
lịch sử như đă bại trận tại Việt Nam–hơn quyết tâm biến miền Nam
Việt Nam thành một tiền đồn đích thực của tự do, dân chủ. Nói cách
khác, mục đích công khai của Mỹ là ngăn chặn sự bành trướng của khối
Cộng Sản xuống vùng Đông Nam Á, và như một hệ luận, chỉ muốn có một
chính phủ “thân hữu” ở miền Nam, tức một tiền đồn chống Cộng.
Cuộc tấn công của Bắc quân vào Sài G̣n,
Huế và các thành phố miền Nam có lẽ c̣n nhằm mục đích ngoại giao này.
Từ tháng 1/1967, Bộ Chính trị, Quân ủy TW và rồi Hội nghị TW lần thứ
13 (khóa III) đă quyết định chấp nhận vừa đánh, vừa đàm–mở đường cho
tuyên ngôn của Nguyễn Duy Trinh ngày 27/1/1967. Tháng 6/1967, tại
Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (thứ nhất), Lê Duẩn đă công bố quyết
định tổng tấn công để khai thác cuộc tranh cử năm 1968 tại Mỹ. (34)
Những nỗ lực dàn xếp một giải pháp chính trị của nhiều quốc gia và
tổ chức quốc tế–kể cả Liên Xô, Pháp, Vatican và đường giây
“Pennsylvania” của Kissinger-Sainteny (hay Aubrac-Mai Văn Bộ)–khiến
Hà Nội chưa có quyết định dứt khoát. Cái chết của Nguyễn Chí Thanh
cũng có thể là một yếu tố gây nên sự đ́nh trễ này.
Hiện chưa đủ tài liệu để xác định vai
tṛ của Nga – Hoa trong cuộc Tổng Tấn Công 1968. Theo Lê Duẩn, kế
hoạch Tổng tấn công được hoàn toàn bảo mật, và là quyết định riêng
của Bộ Chính Trị. Tuy nhiên, chính sách đối với Mỹ của hai đàn anh
trong khối XHCN ít nhiều ảnh hưởng đến quyết định của Hà Nội. Tưởng
cũng nên lược thuật qua thế “một cổ hai tṛng” của Hồ Chí Minh và Lê
Duẩn trong giai đoạn 1954-1967 để có thể phân tích sâu sát hơn vai
tṛ của Mat-scơ-va và Bắc Kinh.
Từ
năm 1954, và nhất là sau khi Nikita S. Khrushchev lên chức Bí thư
thứ nhất năm 1957, điện Kremli phát động chính sách sống chung hoà
b́nh. Tháng 10/1959, khi thăm Bắc Kinh, Khrushchev đề nghị Mao không
nên dùng vơ lực để trắc nghiệm sự vững chăi của chế độ tư bản. Bắc
Kinh, từ Hội nghị Geneva 1954, và rồi Hội nghị Bandung 1955, cũng
khẳng định lập trường sống chung ḥa b́nh. Nhưng sau khi Khrushchev
hạ bệ Stalin năm 1956, rạn nứt Nga-Hoa bắt đầu. Tháng 4/1960, Nhân
Dân Nhật Báo [Renmin Ribao] đăng bài “Chủ thuyết Lenin vạn tuế,”
gián tiếp tấn công Khrushchev. Từ đó, những cuộc trao đổi lời nhục
mạ không ngừng leo thang. Liên Xô chỉ trích kế sách “Bước Đại Nhảy
Vọt” của Mao là “khùng” và đi theo “đường lối Trotskyite.” Trung Hoa
th́ chê Khrushchev “xét lại.” Sau Đại hội thứ XXII của Đảng CS Liên
Xô, Mao lên án Khrushchev đă phản bội sử mệnh đấu tranh giai cấp.
Mao c̣n đưa ra thuyết “thế giới thứ ba,” tức các nước nghèo và kém
phát triển, như một đối lực với hai siêu cường Nga-Mỹ. Rạn nứt
Nga-Hoa lên cao điểm sau những cuộc chạm súng ở biên giới, dài theo
sông Ussuri (1969).
Hồ Chí Minh và Đảng LĐVN phải nỗ lực
đi giây giữa hai đàn anh–nguồn cung cấp quân và kinh viện cần thiết.
Hồ c̣n muốn đứng ra ḥa giải hiềm khích giữa Mat-scơ-va và Bắc Kinh,
nhưng thất bại.
Về trường hợp thống nhất Việt Nam,
Mat-scơ-va nhấn mạnh vào nỗ lực t́m một giải pháp ḥa b́nh. V́ vậy,
năm 1956, Nga đồng ư với Bri-tên giúp Pháp cởi bỏ trách nhiệm về
hiệp định Geneva. Mat-scơ-va cũng khuyên nhủ Hà Nội chấp nhận nền
trung lập ở Lào và Miên; và, chống đối việc đánh chiếm miền Nam bằng
vơ lực. Tại Đại hội kỳ III của Đảng LĐVN (9/1960), các viên chức Nga
vẫn khuyên Hồ t́m đường thống nhất đất nước một cách ḥa b́nh, theo
tinh thần Hiệp định Geneva. (Zhai 2000:89)
Để lôi kéo Hà Nội về phe ḿnh, Bắc
Kinh–song song với những nỗ lực khai thác sự mâu thuẫn giữa Đảng
LĐVN và Nga–bí mật tiếp tay Hồ chí Minh và Lê Duẩn trong việc
đấu tranh chính trị và vơ trang giới hạn ở miền Nam.
Tháng 10/1959, khi Phạm Văn Đồng qua
Bắc Kinh xin quân viện và cố vấn, Chu Ân Lai gửi một phái đoàn
chuyên gia xuống Bắc Việt, do Đại tướng La Thụy Khanh [Luo Riqing]
cầm đầu. La Thụy Khanh nhận lệnh là Bắc Kinh, trong khả năng, sẽ
thỏa măn tất cả những yêu cầu của Hà Nội. Tới Hà Nội ngày
10/11/1959, Khanh đi khảo sát cả 5 quân khu, phi trường, hải cảng và
các nhà máy của Miền Bắc. Thủ tướng Đồng ba lần bày tỏ hy vọng lớn
lao ở viện trợ của Bắc Kinh. Bắc Việt cũng xin được xây dựng một số
kho tiếp liệu ở sát biên giới và trong lănh thổ Trung Hoa. Tháng
3/1960, Bắc Kinh bắt đầu gửi chuyên viên qua Bắc Việt. (Zhai
2000:82-83)
Tháng 5/1960, khi thảo luận về chiến
lược tại miền Nam, Chu Ân Lai và Đặng Tiểu B́nh đề nghị áp dụng một
chiến lược linh động: tranh đấu chính trị tại các đô thị và quân sự
tại nông thôn; nhưng không muốn leo thang chiến tranh. Tháng
12/1960, sau khi MTDTGPMN thành lập, Bắc Kinh công nhận ngay. Khi Lê
Duẩn hỏi Chu Ân Lai về kinh nghiệm “công xă nhân dân” của Bước Nhảy
Vọt, Chu khuyên chỉ nên chú trọng vào hợp tác xă nông thôn và kỹ
nghệ nhẹ. Chu cũng đề cập đến thuyết “thế giới thứ ba” và yêu cầu Hà
Nội ủng hộ cuộc tranh chấp biên giới của Trung Hoa. Tuy nhiên Hà Nội
muốn đứng ngoài mọi tranh chấp giữa các nước anh em. (Zhai
2000:83-89)
Từ năm
1962, Bắc Kinh và Hà Nội xích lại gần nhau hơn. Bắc Kinh tiếp viện
cho MT/GPMN 97,000 vũ khí đủ loại. Bắc Kinh cũng nhấn mạnh vào giải
pháp trung lập miền Nam. Đầu năm 1963, nhiều nguồn tin Pháp ghi nhận
số cố vấn Liên Xô giảm từ 60 tới 15% trong hai năm 1960-1961; trong
khi cố vấn TH tăng từ 28% tới 80%. (FRUS, 1961-1963, III:271)
Trong
khi đó Liên Xô vẫn theo đuổi lập trường “sống chung ḥa b́nh” với
khối tư bản. Năm 1963, Khrushchev c̣n kư với Mỹ và Bri-tên Hiệp định
hạn chế thí nghiệm bom nguyên tử. Việc này khiến Hà Nội nghiêng hẳn
về Bắc Kinh. Sau khi Mao Trạch Đông lên tiếng chống đối ngày
31/7/1963, báo Nhân Dân trong hai ngày 6 và 9 tháng 8/1963, và tạp
chí Học Tập số tháng 9/1963 nhiệt liệt ủng hộ. Tháng 10/1963, Nhân
Dân lại đả kích Yugoslavia theo đúng lập luận của Bắc Kinh, lên án
Tito là dụng cụ của đế quốc Mỹ, và đang phản bội Marxist-Leninism,
trở lại với tư bản. Tháng 11/1963, Học Tập chỉ trích việc Liên Xô
bảo vệ Tito, và bênh vực cho những điều mà Liên Xô lên án là “giáo
điều.”
Tuy
nhiên, Hà Nội vẫn giữ bề ngoài trung lập trong cuộc đương đầu
Nga-Hoa. Khi Chu Ân Lai triệu tập một buổi họp với các lănh tụ CS
Đông Nam Á tại Quảng Đông vào hạ tuần tháng 9/1963 để bàn việc thành
lập một liên minh 11 đảng “chống lại bọn xét lại Nga Sô,” Lê Duẩn
không đồng ư. Duẩn cũng không tán thành đề nghị viện trợ một tỉ Mỹ
Kim của Đặng Tiểu B́nh, nếu Hà Nội ngưng nhận viện trợ của Mat-scơ-va.(
36)
Bắc
Kinh vẫn không ngớt tiếp tục khoét sâu mâu thuẫn giữa Hà Nội và Mat-scơ-va.
Nhân cơ hội Mat-scơ-va đ̣i Hà Nội trả nợ, ngày 4/6/1963, Mao Trạch
Đông nói với một đại biểu của phái đoàn Hà Nội tại Vũ Hán là Trung
Hoa th́ khác, khi các đồng chí vay của Trung Hoa, bao giờ muốn trả
cũng được, mà không trả cũng chẳng sao.( 37)
Hội
nghị TW lần thứ 9 khóa III của Đảng LĐVN (12/1963) có thể coi như
dấu mốc tách biệt chính sách miền Nam giữa Mat-scơ-va và Hà Nội.
Tháng 12/1963, Tướng Lư Thiên Hữu [Li Tianyou], Phó Tổng Tham Mưu
trưởng QĐGPND, dẫn một phái đoàn qua Bắc Việt. Lư Thiên Hữu ở lại
miền Bắc tới 2 tháng và trao cho Hà Nội một kế hoạch chống kế hoạch
chống phản loạn của Mỹ. (Zhai 2000:120) Ngày 27/12/1963, Mao c̣n
viết thư cho Hồ, khen ngợi là đă có một buổi hội kiến xuất sắc với
Mao. (38)
Việc Mỹ bắt đầu oanh tạc trả đũa Bắc
vĩ tuyến 17 từ ngày 8/2/1964, khiến Lê Duẩn và nhóm chủ chiến mạnh
hơn. Nỗ lực vận động t́m giải pháp chính trị cho miền Nam Việt Nam
của Liên Xô, và nhất là Thủ tướng Alexi N. Kosygin, khiến Hà Nội
thân thiết hơn với Bắc Kinh. Ngày 7/2/1964, có tin cán bộ cao cấp
của Trung Hoa và Bắc Việt họp tại Mông-tự (Mengtzu), gần biên giới
Hoa-Việt. Phi cơ chiến đấu của Trung Hoa tập trung tại khu vực này.
(FRUS, 1964-1968, I:64)
Ngày 30/8/1964, Bắc Kinh lên án Liên
Xô yểm trợ Mỹ can thiệp vào Việt Nam, qua Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên,
sau khi Hà Nội đưa ra đề nghị ngày 22/2/1965 là các nước anh em XHCN
công khai lên án Mỹ gia tăng chiến tranh xâm lược ở miền Nam, sáu
ngày sau, 28/2, Bắc Kinh từ chối. Trong năm 1965, Bắc Kinh c̣n bốn
lần bác bỏ đề nghị của Liên Xô phối hợp hành động ủng hộ Miền Bắc,
lập cầu không vận qua Trung Hoa, hay thành lập phi trường trên lănh
thổ TH để chuyển tiếp vận cho Bắc Việt. (Sách Trắng, 1979:48) Năm
1966, Mao hai lần phản đối việc thành lập Mặt trận Quốc tế ủng hộ
Việt Nam do Hà Nội và đại diện Đảng Cộng Sản Nhật Bản đề nghị, v́
không muốn Liên Xô tham dự. (Sách Trắng, 1979:48-49) Dụng tâm của
Bắc Kinh là muốn Hà Nội cùng hai nước Miên và Lào phải nằm trong
vùng ảnh hưởng của ḿnh. Để lôi kéo Hà Nội, Bắc Kinh khôn khéo sử
dụng viện trợ như những sợi giây cương.
Ngày
8/4/1965, Lưu Thiếu Kỳ nói với Lê Duẩn là Bắc Kinh sẵn sàng giúp Bắc
Việt bất cứ những ǵ Hà Nội cần. Duẩn và Giáp xin tăng viện trợ và
quân chiến đấu Trung Hoa. Duẩn nói cần “phi công chí nguyện, bộ binh
chí nguyện, cùng tất cả các chuyên viên cần thiết.” Duẩn c̣n muốn
quân Trung Hoa thực hiện 4 nhiệm vụ: giới hạn việc Mỹ oanh tạc phía
Nam vĩ tuyến 19 hoặc 20; bảo vệ Hà Nội; bảo vệ vài trục lộ tiếp vận
chiến lược; và, giúp lên tinh thần [to boost morale]. (Zhai,
2000:133)
Trong
hai ngày 21-22/4/1965, Vơ Nguyên Giáp thảo luận với La Thụy Khanh và
Dương Thành Vũ, Đệ nhất Phó T/TMT, tại Bắc Kinh việc gửi quân Trung
Hoa qua Việt Nam. Chu Ân Lai cũng thành lập hai bộ phận để điều
khiển việc viện trợ cho Hà Nội. Một Ủy ban Viện trợ Việt Nam tại Hội
đồng Trung ương Nhà Nước, do Dương Thành Vũ và Lư Thiên Hữu cầm đầu;
và Đoàn Chỉ huy Viện Trợ Việt Nam, do La Thụy Khanh trách nhiệm tại
Ban Trung ương Đảng. (Zhai, 2000:134)
Tháng
5/1965, khi HCM qua Bắc Kinh cầu viện, được Mao tiếp ở Trường Sa [Changsa].
HCM yêu cầu TH giúp tu bổ 12 trục lộ phía Bắc Hà Nội. Tháng 6/1965,
Văn Tiến Dũng đạt thỏa ước viện trợ với La Thụy Khanh. Nhưng ngày
16/7/1965, Bắc Kinh thông báo cho Hà Nội biết là chưa tiện gửi phi
công chí nguyện qua Bắc Việt. ( Sách Trắng, 1979:47-48; Zhai,
2000:134-135)
Trong hai năm 1966-1967–dù Hoa lục
đang xáo trộn v́ cuộc “cách mạng văn hóa” (văn cách), khiến gần 100
cán bộ lănh đạo, kể cả Chủ tịch Nhà Nước, Phó Chủ tịch Đảng CSTH Lưu
Thiếu Kỳ, Tổng Bí thư Đặng Tiểu B́nh, Bí thư Bắc Kinh Bành Chân, Đại
tướng La Thụy Khanh, Tổng Tham Mưu trưởng, v.. v... bị hạ bệ, nhục
mạ–Bắc Kinh vẫn đều đặn viện trợ cho Hà Nội. Tổng số viện trợ của
Bắc Kinh lên tới 20 tỉ Mỹ kim–từ trang bị khí giới, đạn dược cho 2
triệu người, tới vải vóc, vật dụng xây cất đường xe lửa, cầu cống
tới loại lương khô chế biến đặc biệt từ một xưởng sản xuất ở Thượng
Hải. Bắc Kinh c̣n gửi qua Bắc Việt trên 20,000 chuyên gia cùng trên
300,000 chí nguyện quân phụ trách việc giao thông vận tải, và nhất
là pḥng không, trú đóng tại Yên Bái, Thái Nguyên, v.. v... (39) Bắc
Kinh cũng thiết lập một Bộ Tư lệnh Tây Nam, đề pḥng Mỹ tấn công.
Thống chế Bành Đức Hoài được cử làm Phó Tư lệnh.
Tuy
nhiên, Hà Nội vẫn luôn e ngại tham vọng “bá quyền nước lớn” của
Trung Hoa, sợ Bắc Kinh sẽ dùng xương máu trai tráng Việt để mặc cả
với Mỹ trên đầu cổ ḿnh. Nỗ lực của Bắc Kinh mở rộng ảnh hưởng tại
Lào và Miên càng khiến Lê Duẩn và các lănh đạo Hà Nội thêm hoài nghi.
(Sách Trắng, 1979:49-51)
Dẫu
vậy, ở thời điểm cuối 1967, đầu 1968, Lê Duẩn vẫn giữ bề ngoài thuần
phục Bắc Kinh, và nghiêng dần về chính sách “vừa đánh, vừa đàm” của
Mat-scơ-va. Tháng 12/1967, Bộ Chính trị Đảng LĐVN quyết định mở cuộc
tổng tấn công. (Hiệp, 2002:197-198) Nhưng măi đến ngày 21/1/1968 mới
chọn Giao Thừa Mậu Thân làm giờ G.
Ngày
Tết Mậu Thân 1968 là thời điểm lư tưởng nhất, v́ mùa tranh cử sơ
tuyển (giữa những ứng cử viên của mỗi đảng, Dân Chủ hoặc Cộng Ḥa)
tại Mỹ sắp bắt đầu. Cho dẫu thất bại về quân sự cũng đủ gây tiếng
vang trong dư luận Mỹ. Và, qua hệ thống tuyên truyền cùng t́nh báo
tinh vi, cuộc tấn công có thể giúp mở ra một mặt trận chính trị ngay
trong nội địa Mỹ–mặt trận có tính cách quyết định.
Đă dầy
kinh nghiệm về việc mở mặt trận chính trị tại nội địa Pháp những năm
đầu thập niên 1950, Liên Xô và Hà Nội chỉ thay đổi chút ít chiến
thuật cho phù hợp với “những túi khôn nhân loại” ở Mỹ–đại diện bằng
những người viết tham luận (editorials) trên các tờ báo có nhiều độc
giả, hay các nhà “thông thái” của ba đài truyền h́nh–những cá nhân
chẳng có nhiều kiến thức về Việt Nam nói chung, và nhất là lối “lư
luận” của những “người Cộng Sản Việt Nam” nói riêng. Thủ thuật của
Hà Nội, bởi thế, trước hết muốn chứng tỏ được sự ĺ lợm và quyết tâm
chịu đựng để kéo dài cuộc chiến (theo kiểu Việt Nam). Đồng thời,
khéo léo và tỉ mỉ khai thác mâu thuẫn giữa các nước Tây phương với
Mỹ, và giữa các phe nhóm Mỹ, phát động phong trào phản chiến ở Mỹ.
Những ai đă sống ở “lục địa đă mất”
(lost continent), hẳn biết rơ người dân Mỹ b́nh thường dưới phố
chẳng mấy quan tâm, và cũng không có th́ giờ để quan tâm, đến t́nh
h́nh thế giới. Cuộc mưu sinh nghiệt ngă và nếp sống của một xă hội
hậu kỹ nghệ hoá khiến chủ nghĩa cá nhân lên cao cùng độ. Một trận
football (bóng bầu dục), baseball (khúc côn cầu), basketball (bóng
rổ), hay một buổi đại nhạc hội lôi kéo số người xem nhiều hơn một
bài diễn văn của Tổng thống Mỹ hay chuyến viếng thăm của một quốc
trưởng nước bạn. Nước Mỹ quá rộng lớn–bờ biển Đông (Đại Tây Dương)
và Tây (Thái B́nh Dương) khác biệt nhau tới ba giờ, tức một phần tư
khoảng cách từ Mỹ sang Việt Nam–nên truyền h́nh, truyền thanh và báo
chí đóng một vai tṛ quan trọng trong việc hướng dẫn dư luận. Và,
những nhân vật ảnh hưởng mạnh mẽ các tổ hợp truyền thông này không
phải là chính quyền, mà chính giới đại tài phiệt, tức những người
cung cấp tiền quảng cáo. Nước Mỹ, dù không c̣n giàu có như xưa, vẫn
là đại siêu cường kinh tế. Đời sống ở Mỹ, dù chưa và sẽ chẳng bao
giờ là thiên đường, nhưng ḥa b́nh, sung túc nhất trần gian. Nên ít
thanh niên Mỹ muốn đi lính, nhất là phải thiệt mạng ở một xứ nhỏ bé
nhiệt đới như Việt Nam. Và, chẳng có ǵ ngạc nhiên khi khối Liên
Xô-Bắc Việt đă đưa tinh thần phản chiến và phong trào ḥa b́nh lên
hàng đầu tại Mỹ.
Để tiếp tay cho các phong trào phản
chiến Mỹ, Liên Xô c̣n vận động các phong trào chống đối việc Mỹ tham
chiến tại Việt Nam trên khắp thế giới. Cũng chính từ thời điểm này,
xuất hiện một loại văn chương tuyên truyền ca ngợi ḷng ái quốc của
Hồ Chí Minh và những đảng viên CSVN. Đồng thời là những nỗ lực bôi
bẩn chế độ miền Nam, nhấn mạnh sự độc lập và tính chất “tự phát” của
MTDTGPMN; hoặc, loan tin một chiều, chỉ nói lên những nửa sự thực ở
miền Nam, quên bẵng đi những sự thực tồi tệ, sắt máu hơn ở miền Bắc.
Tác phẩm đầy lỗi lầm của những cây bút phản chiến Pháp như Jean
Lacouture, Philippe Devillers, Paul Mus, v.. v... được chuyển dịch
qua Mỹ ngữ, hay trích dẫn trong các tác phẩm nghiên cứu nặng mùi
chính trị của nhiều học giả Mỹ. Ngay đến hồi kư của Jean Sainteny
cũng được dịch qua Mỹ ngữ. Dù phải ít năm sau mới sản xuất ra những
trí thức phản chiến David G. Marr, Gareth Porter hay Frances
Fitzgerald, tất cả đă khởi đi và phát triển từ cuộc Tổng Tấn Công
Mậu Thân 1968.( 40)
Ngay
sau khi cuộc Tổng tấn công vừa bắt đầu, giới truyền thông Mỹ nghiêng
hẳn về phía Miền Bắc, khích động những xúc động và tinh thần chủ
ḥa. Chuyến viếng thăm miền Nam của Walter Cronkite, trưởng ban tin
(anchor) của tổ hợp truyền h́nh CBS, trong tháng 2/1968 đánh dấu sự
thay đổi lập trường này. Ngay đến một số công chức cũng bị ảnh
hưởng. Bởi thế, trong các cuộc họp mật của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia
[HĐ/ANQG] Mỹ vào hai ngày 12 và 13/2/1968, các cố vấn cao cấp của
Johnson chia làm hai phe rơ ràng–McNamara, dù sắp rời chức vụ vào
cuối tháng, chủ trương hoà đàm. Phe “diều hâu” có Tướng Earle C.
Wheeler, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên quân, và giới quân sự. Wheeler đề
nghị động viên các quân nhân trừ bị để tăng viện cho chiến trường
Việt Nam.
V́ đă được Tướng Matthew Ridgway, cựu
Tư lệnh mặt trận Nam Hàn trong thập niên 1950, cảnh cáo rằng hiện
trạng quân lực Mỹ không đủ khả năng phản ứng hữu hiệu nếu xảy ra một
biến loạn nào đó ngoài Việt Nam–như trường hợp Berlin hay Bắc Hàn
chẳng hạn–Johnson chỉ chấp thuận tạm thời gửi qua Việt Nam một Lữ
đoàn TQLC và một Trung đoàn thuộc Sư đoàn 82 Dù, khoảng hơn 10,000
người (Johnson 1971:385-387). Sau chuyến viếng thăm các binh sĩ trên
ngày 17/2, trước khi họ lên đường qua Việt Nam, Johnson bỗng đổi ư
về cuộc chiến, và cử Wheeler qua thị sát t́nh h́nh để có quyết định
dứt khoát.
Ngày 21/2, Wheeler rời Oat-shinh-tân,
trực chỉ Sài G̣n. Westmoreland đề nghị Wheeler gửi thêm 205,000 quân
tăng viện trước cuối năm 1968 để, nếu cần, mở rộng chiến tranh qua
biên giới Miên, Lào và vĩ tuyến 17 hầu tiêu diệt các căn cứ hậu cần
của Miền Bắc. Tuy nhiên, McNamara không chấp thuận. Johnson cũng
không có quyết định dứt khoát, giao cho người sẽ kế vị McNamara là
Clark Clifford cầm đầu một ban điều nghiên để có quyết định cuối
cùng.
Trong khi đó, Hà Nội lại tung ra những
cuộc tấn công ngoại giao mới. Ngày 21/2, Tổng thư kư Liên Hiệp Quốc
là U Thant gặp Johnson, thông báo rằng có tin Hà Nội sẽ đồng ư
thương thuyết nếu Mỹ ngưng oanh tạc tức khắc–một nguồn tin chẳng có
ǵ mới lạ, đă được U Thant tung ra từ năm 1965. Năm ngày sau, cơ
quan CIA báo cáo cũng có tin Hồ Chí Minh đang chờ đợi để thương
thuyết, nhưng với điều kiện phải ngưng oanh tạc trước. Cuối tháng
2/1968, thêm một nhân viên ngoại giao India mật báo rằng Hà Nội muốn
thương thuyết tức khắc, và đồng ư không xâm nhập quân vào miền Nam
sau khi Mỹ ngưng oanh tạc. Dù tất cả các nguồn tin trên đều không
được kiểm chứng, nhưng những chiếc bong bóng ḥa b́nh tiếp tục được
thả ra cho tới đầu tháng 3/1968 (Johnson 1971:395, 401).
Bởi thế, trong phiên họp HĐ/ANQG Mỹ
hai ngày 4-5/3/1968, Johnson dứt khoát bác bỏ đề nghị xin tăng viện
của Westmoreland, và sẽ chỉ gửi thêm không quá 22,000 quân qua Việt
Nam. Johnson cũng nghiêng về đề nghị của Ngoại trưởng Rusk là nên
tạm ngưng oanh tạc phía Bắc vĩ tuyến 20 từ tháng 4/1968, khi mùa mưa
bắt đầu, để chờ phản ứng của Hà Nội, và sẽ công bố trong một bài
diễn văn sắp tới (Johnson 1971:399-400). Điều này có nghĩa Johnson
đă chịu nhường bước trước đ̣i hỏi của Miền Bắc, dù bán chính thức.
Trong những ngày kế tiếp, qua các cuộc họp và tham khảo ư kiến với
cố vấn, các chuyên viên, cũng như Đại sứ Ellsworth Bunker và Tướng
Creighton Abrams, Johnson đi dần đến một quyết định lịch sử–không
tái tranh cử nhiệm kỳ Tổng thống thứ 2, 1969-1973, để t́m cách rút
chân khỏi Việt Nam trong danh dự.
Đánh
vào thành phố c̣n là phương thức sử dụng “bạo lực cách mạng” quen
thuộc của chủ thuyết Cộng sản.
Trước
hết nó có thể vô hiệu hóa những phần tử chống Cộng độc lập và uy
hiếp tinh thần thị dân. Chỉ nguyên việc mang chiến tranh vào thành
phố–nghĩa là đưa điêu tàn, đổ nát, xáo trộn vào những khu vực vốn
được coi như an toàn của miền Nam–đủ minh chứng nghệ thuật cao đẳng
trong việc sử dụng “bạo lực cách mạng” của Lê Duẩn: khủng bố tinh
thần dân lành, khiến họ phải ngưng cộng tác với chính quyền hiện
hữu, hoặc ít nữa “b́nh chân như vại.”
Chưa hết. Tại các khu vực Bắc quân tạm
chiếm, việc truy lùng, ám sát, thủ tiêu những nhân vật chống Cộng có
thành tích là một việc làm quen thuộc, có chỉ thị rơ ràng. Năm 1969,
chẳng hạn, đài phát thanh Hà Nội nh́n nhận đă “tiêu diệt hơn 3,000
tên ác ôn, phản động” ở Huế trong dịp Tết Mậu Thân. Hơn một thập
niên sau những cựu đao thủ phủ Tết 1968 vẫn c̣n kiêu hănh tuyên bố
với một toán làm “lịch sử truyền h́nh” Mỹ rằng họ chỉ “trừng trị”
những “con rắn độc” phản động, chống đối cách mạng. Ngay đến năm
1988, có người c̣n khoe khoang công lao “trừng trị... Việt gian”
của ḿnh (Huế 1988:75).
Tuy
nhiên, giới truyền thông quốc tế hầu như không một phản ứng. Ngược
lại, người ta khai thác tối đa tấm ảnh Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan
bắn chết một sĩ quan đặc công đối phương. Người chụp được tấm h́nh
này–Eddie Adams–bỗng nổi danh thế giới, được trao tặng giải thưởng.
Sự thiên vị của giới truyền thông quốc t& |