|
Các yếu tố ảnh
hưởng đến quá trình tăng trưởng chiều cao và cân nặng của trẻ trong
giai đoạn phát triển
Nguyễn Đình Nguyên
Lớn và phát triển là hai khái niệm cơ
bản trong quá trình đánh giá cho một trẻ chào đời cho đến trưởng
thành. Nói đến phát triển thường bao hàm hai nghĩa, phát triển về
trí tuệ và phát triển về thể chất-chủ yếu chỉ các cơ phận riêng lẻ
và nội tạng, nhưng nói đến lớn thì nghĩa chính là chỉ sự phát triển
thể chất mà cụ thể là phát triển chiều cao cân nặng.
Quá trình lớn của trẻ từ khi chào đời
đến trưởng thành có thể chia ra làm 3 giai đoạn chính: giai đoạn trẻ
em (< 5 tuổi, còn chia làm hai phân đoạn nhỏ là giai đoạn nhũ
nhi: 12 tháng đầu; và giai đoạn trẻ em), giai đoạn thiếu niên, giai
đoạn tiền dậy thì và dậy thì, giai đoạn trưởng thành, nhưng giai
đoạn này chỉ là cái mốc tham khảo, không có ý nghĩa trong việc đánh
giá quá trình lớn.
Nhìn tổng quát trong suốt một quá
trình lớn qua các giai đoạn của trẻ ta có một mô hình lớn như sau:
Trẻ lớn rất nhanh về chiều cao và cân nặng trong giai đoạn nhũ nhi,
lớn nhanh trong giai đoạn sau của trẻ em; sau đó trẻ chững lại nhưng
vẫn tiếp tục tăng cân nặng và chiều cao ở một tỷ lệ chậm và có khi
gần như “dừng” để rồi lớn “bùng phát” trở lại vào giai đoạn tiền dậy
thì và dậy thì (khoảng 11-15 tuổi ở nữ và 14-17 tuổi ở nam), rồi lại
chậm dần và dừng lớn ở tuổi trưởng thành về mặt chiều cao (trung
bình 20-22 tuổi ở nữ và 22-25 tuổi ở nam). Về cân nặng thì tiếp tục
biến động ở tuổi trưởng thành cho đến già. Còn chiều cao thì sẽ
không lớn thêm, mà lại sẽ bị “hao hụt” dần khi về già do sự đè nén
và thoái hoá dần của cột sống.
Mức độ lớn về chiều cao và cân nặng như thế nào? Ta có
thể hình dung được qua các chỉ số sau:
-
Về cân nặng: Trẻ sơ sinh đủ
tháng cân nặng trung bình 3kg, sau 6 tháng sẽ có thể tăng gấp đôi so
với cân nặng khi sinh, đến 1 tuổi tăng gấp 3. Sau đó mỗi năm cho đến
5 tuổi, mỗi năm tăng trung bình khoảng 1.5-2kg/năm, cho đến 5 tuổi
trẻ khoảng 15kg. Giai đoạn phát triển về cân nặng sẽ tăng dần nhưng
với tốc độ khá chậm như vậy cho đến trẻ dậy thì thì sự tăng cân nặng
nhanh trở lại. Mỗi năm trong giai đoạn dậy thì có trẻ tăng đến 5kg.
-
Về chiều cao: Một trẻ sơ sinh
đủ tháng khoẻ mạnh chiều dài trung bình khoảng 50cm. Khi được một
tuổi trẻ sẽ dài thêm khoảng 50% chiều dài so với khi sinh, tức là
khoảng 25cm, nên khi đó trẻ trung bình dài khoảng 75cm. Mỗi năm về
sau trẻ tăng trung bình khoảng 5-7cm/năm cho đến tuổi dậy thì. Trong
giai đoạn dậy thì trẻ tăng vọt chiều cao, có trẻ mỗi năm tăng 10 đến
15cm. Và sau đó thì dừng phát triển chiều cao.
Như vậy những yếu tố nào ảnh hưởng đến
sự tăng trưởng chiều cao và cân nặng?
Cho đến nay có nhiều yếu tố có ảnh
hưởng đến sự tăng trưởng chiều cao và cân nặng của trẻ em nhưng có
thể gộp lại thành hai nhóm lớn là các yếu tố về di truyền và các yếu
tố về môi trường (Xem mô hình). Mỗi yếu tố có một vai trò khác nhau,
tầm mức ảnh hưởng lớn hay nhỏ nhiều hay ít trong từng giai đoạn khác
nhau mà chúng ta có thể vắn tắt dưới đây:
Yếu tố Di truyền:
Các yếu tố di truyền có ảnh hưởng nhiều nhất đến sự phát triển tầm
vóc của trẻ có thể kể đến chủng tộc, giới tính và tầm vóc cha mẹ.
Yếu tố chủng tộc có tác động rõ rệt
đến tầm vóc, thí dụ người Âu-Mỹ có tầm vóc cao hơn người Á, người
Bắc Á có tầm vóc cao hơn người Đông Nam Á. Ngay cả trong chủng tộc
da trắng thì tầm vóc cũng khác nhau, như người Hà lan là người có
tầm vóc trung bình cao nhất Âu châu, hoặc người Pygmeé thấp bé chỉ
có 1.2-1.4m.
Yếu tố giới tính thì rõ rệt nam cao
hơn nữ
Yếu tố cha mẹ thì tầm vóc cha mẹ cũng
có ảnh hưởng đến tầm vóc con cái về sau, nhưng quan trọng hơn cả là
tầm vóc của mẹ.
|
 |
|
Hình:
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao và cân nặng
của trẻ |
Có hai đặc điểm lớn nhất của yếu tố di
truyền tác động vào sự phát triển chiều cao ở trẻ là: Các yếu tố di
truyền có tác động ít đến chiều dài của trẻ khi mới sinh và những
năm đầu đời, chỉ thấy rõ ảnh hưởng khi trẻ chuyển sang thời kỳ tiền
dậy thì, dậy thì và trưởng thành. Trong mô hình ta đọc theo dải băng
màu xanh, biểu diễn tầm mức ảnh hưởng của các yếu tố di truyền lên
sự phát triển. Đặc điểm thứ hai là yếu tố di truyền có ảnh hưởng lớn
đến việc phát triển chiều cao ở tuổi trưởng thành tuy nhiên đây có
thể coi là yếu tố cố định và không có khả năng thay đổi bằng tác
động của con ngưòi. Nếu có thì cũng là sự trái quy luật tiến triển.
Thay đổi di truyền là có tính thích nghi và lâu dài. Trừ yếu tố tầm
vóc cha mẹ, có thể thấy thay đổi rõ hơn theo thời gian qua các thế
hệ ở hầu hết các sắc dân.
Yếu tố Môi trường:
Ngược lại với các yếu tố di truyền, yếu tố môi trường nó lại có ảnh
hưởng nhiều hơn đến việc phát triển tầm vóc trẻ trong giai đoạn thai
kỳ và những năm đầu đời của trẻ hơn. Các yếu tố môi trường là một
phức hợp tương tác của đa yếu tố mà trong đó phải kể đến quan trọng
hơn cả là dinh dưỡng, rồi sức khoẻ cá thể; các yếu tố khác có mức độ
ảnh hưởng ít nhiều tuỳ vào ngữ cảnh như tình trạng kinh tế xã hội,
sức khoẻ cộng đồng, môi sinh, chiến tranh, đời sống gia đình, hoạt
động thể lực.
Các yếu tố môi trường sẽ giảm ảnh
hưởng tương đối so với yếu tố di truyền khi trẻ lớn dần lên. Song, ở
giai đoạn dậy thì, yếu tố dinh dưỡng lại trỗi lên do nhu cầu lớn
nhanh trong giai đoạn dậy thì của trẻ.
Đặc điểm chung của yếu tố môi trường
tác động lên sự phát triển thể lực của trẻ là chúng ta có thể can
thiệp được thí dụ như cải tạo chế độ ăn, chế độ sinh hoạt, cải thiện
môi sinh, sức khoẻ cộng đồng vân vân…
Cho nên, trên một nguyên tắc chính,
đối với một quá trình phát triển thể lực của trẻ, chúng ta cần tối
ưu hoá các điều kiện có thể thay đổi được để cung cấp cho trẻ một cơ
hội tốt nhất để có thể phát triển thể lực; phần còn lại là yếu tố di
truyền là yếu tố chúng ta không thể hoặc chưa thể can thiệp được.
Vậy trong các yếu tố môi trường, yếu
tố nào là quan trọng nhất có ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực:
cân nặng và chiều cao của trẻ về sau?
Qua
các nghiên cứu lớn trên thế giới (các nghiên cứu trên quần thể lớn,
thời gian theo dõi dài), các kết quả cho thấy:
-
Điều kiện dinh dưỡng có tác
động quan trọng đến cả phát triển thể lực và chiều cao cho trẻ.
-
Điều kiện sức khoẻ cá nhân: các
bệnh lý cấp tính tái diễn hoặc các bệnh lý mãn tính đều có ảnh hưởng
nặng đến việc phát triển thể lực, đặc biệt tầm vóc của trẻ.
-
Tình trạng kinh tế xã hội:
nghèo đói kéo theo vòng luẩn quẩn của gia đình cũng có ảnh hưởng rõ
đến phát triển thể lực trẻ.
-
Chiến tranh cũng ảnh hưởng đến
phát triển thể lực của trẻ.
-
Hoạt động thể lực có ảnh hưởng
đến phát triển thể lực của trẻ, tuy nhiên giống như điều kiện dinh
dưỡng, hoạt động thể lực của trẻ tác động mạnh lên việc tăng hoặc
giảm cân nặng nhiều hơn là tác động lên sự phát triển chiều cao.
Cũng có thể nói ảnh hưởng của hoạt động thể lực lên sự phát triển
chiều cao của trẻ trong quá trình lớn (kể cả tuổi dậy thì) là rất ít
hoặc không có ảnh hưởng.
Tuy vậy, không thể tách bạch được một
cách rõ ràng là có thể can thiệp vào khâu nào của các yếu tố trên để
có thể đem lại hiệu quả tối ưu về phát triển thể lực trừ việc tối ưu
hoá các yếu tố như dinh dưỡng và sức khoẻ, cải thiện môi trường.
Hoạt động thể lực có ảnh hưởng đến
việc phát triển chiều cao của trẻ như thế nào?
Trẻ em và người trưởng thành ở nông thôn có tầm vóc thấp
hơn ở thành thị, thế nhưng người nông thôn có chỉ số hoạt động thể
lực cao hơn chỉ số hoạt động thể lực của người ở thành phố. Điều này
có thể quy kết cho yếu tố dinh dưỡng, và tình trạng kinh tế xã hội.
Thế
nhưng, một nghiên cứu ở Bỉ năm 1992 (Physical activity and growth,
maturation and performance: a longitudinal study. của Beunen GP,
Malina RM, Renson R, Simons J, Ostyn M, Lefevre J. đăng ở Med Sci
Sports Exerc. 1992 May;24(5):576-85.), theo dõi hai nhóm trẻ, một
nhóm năng hoạt động (32 trẻ) và một nhóm ít hoạt động thể lực (cũng
32 trẻ) trong vòng 5 năm từ khi trẻ 13t đến 18 tuổi. Khi bắt đầu vào
nghiên cứu thì hai nhóm này hoàn toàn giống nhau về thể lực. Nhóm
trẻ được coi là năng hoạt động là những trẻ có số giờ chơi thể thao
hơn 5 giờ/tuần trong suốt 3 năm đầu nghiên cứu, ngoài ra chúng vẫn
phải tham gia các buổi học thể dục bắt buộc tại trường. Nhóm được
cho là kém hoạt động thì số giờ tham gia thể thao ngoại khoá của
chúng dưới 1giờ rưỡi/tuần trong suốt 3 năm đầu. Các nhà nghiên cứu
ghi nhận lại các chỉ số chiều cao, cân nặng, lớp mỡ dưới da, nhịp
thở, chỉ số thể lực, độ trưởng thành của xương. Sau 5 năm theo dõi,
các nhà nghiên cứu đưa ra kết luận: Những trẻ năng hoạt động thể lực
(có tham gia thể thao ngoại khoá trên 5 giờ/tuần trong 3 năm) thì
chỉ có chỉ số nhịp mạch ổn định hơn và mức độ cong người chấm tay
xuống đất khá hơn trẻ kém hoạt động, ngoài ra những trẻ này hoàn
toàn không có khác gì so với những trẻ được xếp là kém hoạt động về
các chỉ số chiều cao, cân nặng cả!
Một nghiên cứu khác, được tiến hành ở
Mỹ (Physical activity and training: effects on stature and the
adolescent growth spurt. của Malia RM, đăng trên
Med Sci Sports Exerc. 1994
Jun;26(6):759-66.),
người ta cũng tiến hành nghiên cứu trên các nhóm trẻ trai và gái.
Nhóm được gọi là sinh hoạt thể lực hàng ngày, chia làm hai nhóm:
nhóm năng hoạt và nhóm kém hoạt động hơn. Nhóm “vận động viên” là
nhóm được huấn luyện các môn thể thao đều đặn bao gồm các môn như
thể dục dụng cụ, bơi lội, đua thuyền. Dĩ nhiên ngay tại thời điểm
đầu nghiên cứu, thì những trẻ vận động viên bơi lội và điền kinh thì
có tầm vóc cao hơn những trẻ trong đội thể dục dụng cụ. Sau khi điều
chỉnh hết cho những yếu tố này, các nhà nghiên cứu rút ra một kết
luận là việc huấn luyện các vận động viên trẻ không có ảnh hưởng gì
đến việc làm tăng chiều cao mà ngược lại các hoạt động thể lực nặng
(tập thể dục dụng cụ) cũng không làm chậm phát triển chiều cao của
trẻ trong giai đoạn dậy thì.
Điều gì có thể rút ra từ các nghiên
cứu này? Chúng ta có thể thấy rằng, trong cùng một điều kiện dinh
dưỡng và môi trường, thì hoạt động thể lực không có vai trò gì trong
việc làm tăng chiều cao mà cũng không làm thấp chiều cao của trẻ cả.
Vấn đề là dù cho trẻ có không hoạt động đi nữa (trừ những trẻ bại
liệt nằm một chỗ) thì những sinh hoạt hàng ngày ở một cường độ của
một trẻ đang phát triển là có thể đủ đáp ứng cho trẻ lớn, mà chúng
ta không cần có tác động thêm. Việc gia tăng hoạt động thể lực chỉ
có tác dụng gia tăng sức bật và sức bền cho thích nghi với từng loại
hình thể dục thể thao và điều này cần phải tập luyện theo bài bản
riêng biệt cho từng môn. Còn gia tăng hoạt động thể lực cho trẻ em
vị thành niên với mục đích gia tăng chiều cao là không thể đạt
được.
Qua
những điều nêu trên thì nhận thấy rằng
dự án "Nâng cao tầm vóc và thể lực người VN" với dự chi 444 tỉ
của Uỷ ban TDTT mà Viện KH TDTT dự trình là
một việc làm không cần thiết, tốn kém mà lại không có khả thi về mặt
lý luận và thiếu thực tiễn về mặt kết quả thu được.
Trong khi đó mục tiêu tối
hậu cho sức khoẻ con người là gì? Là một cơ thể khoẻ mạnh về thể
chất trong một tinh thần lành mạnh trong một xã hội lành mạnh. Và
như đã phân tích trên, sức khoẻ là một hệ quả của một phức hợp đa
tương tác các yếu tố chứ không thể tác động vào một hoặc hai yếu tố
nào mà có thể đem lại kết quả thay đổi tầm vóc và thể lực của một cá
thể một cách nhanh chóng. Trong khi đó tầm vóc (cao hay thấp) không
phải là yếu tố quan trọng quyết định một con người đó khoẻ mạnh hay
ốm yếu. |