|
Phán quyết sau cùng:
Chất béo không ảnh hưởng đến ung thư và bệnh tim
Nguyễn Văn Tuấn
Tập san JAMA
mới công bố 3 báo cáo khoa học liên quan đến ảnh hưởng của chất béo
trong thực phẩm và ung thư vú, ung thư ruột, và bệnh tim. Phân tích
số liệu từ công tŕnh nghiên cứu Women’s Health Initiative (WHI),
các nhà nghiên cứu đi đến kết luận rằng giảm lượng chất béo trong
thức ăn không có ảnh hưởng đến nguy cơ bị ung thư vú và ung thư ruột,
cũng chẳng làm giảm nguy cơ bị bệnh tim, và không kéo dài tuổi thọ.
V́ qui mô của công tŕnh nghiên cứu, các kết quả này được xem là
“phán quyết sau cùng” về mối liên hệ giữa chất béo và ung thư cũng
như bệnh tim.
Chất béo và
kĩ nghệ tiết thực
Câu chuyện về
mối liên hệ giữa chất béo và sức khỏe bắt đầu từ hơn 50 năm về trước.
Trước thế chiến thứ II, các chuyên gia dinh dưỡng rất quan tâm đến
t́nh trạng thiếu dinh dưỡng và suy dinh dưỡng trong người Mĩ. Lúc
đó, ăn nhiều chất béo không phải là một cái tội, mà có khi c̣n được
khuyến khích. Thế nhưng sau thế chiến thứ II, các nhà khoa học thấy
đàn ông trung niên Mĩ bắt đầu chết như sung rụng. Đến năm 1952, các
nhà khoa học nghi ngờ rằng chất béo trong thực phẩm là một thủ phạm
làm cho đàn ông Mĩ chết sớm. Năm 1961, công tŕnh nghiên cứu nổi
tiếng Framingham công bố kết quả cho thấy một mối liên quan giữa
cholesterol và bệnh tim.
Khởi đầu từ thập
niên 1950s thế kỉ trước, một số nghiên cứu trên chuột cho thấy khá
nhất quán rằng khi chuột được cho ăn thức ăn có nhiều chất béo
thường dễ bị ung thư hơn chuột ăn ít chất béo. Lúc đó ít ai để ư
đến những quan sát này, nhưng đến thập niên 1970s khi có nhiều
nghiên cứu dịch tễ học phát hiện tỉ lệ ung thư vú, ruột, da, v.v…
thường cao hơn ở các quần thể và quốc gia mà chất béo được tiêu thụ
nhiều hơn các quần thể ít ăn chất béo. Ở Nhật, các nhà nghiên cứu
ghi nhận tỉ lệ ung thư đường ruột và ung thư vú gia tăng một cách
nhanh chóng sau khi người Nhật gia tăng tiêu thụ chất béo. Tương tự,
người gốc châu Á khi di dân sang các nước đă phát triển như Mĩ và Âu
châu cũng có tỉ lệ bị ung thư cao hơn người bản xứ Á châu.
Tuy nhiên một số
nghiên cứu dịch tễ khác cho thấy nguy cơ bị ung thư có thể c̣n tùy
thuộc vào loại chất béo. Một nghiên cứu ở Thụy Điển trên 61,471 phụ
nữ trong độ tuổi 40 đến 76, và phát hiện rằng các loại chất béo
monounsaturated (tức chất béo không băo ḥa ở dạng đơn phân), như
dầu olive và dầu canola có xu hướng giảm nguy cơ ung thư vú; nhưng
các loại chất béo như polyunsatured (chất béo không băo ḥa ở dạng
đa phân) như omega-6 fatty acids thường thấy trong dầu ăn làm từ rau
cải có xu hướng gia tăng nguy cơ ung thư vú. C̣n các loại chất béo
saturated thường thấy trong thịt ḅ th́ không có ảnh hưởng đến nguy
cơ ung thư vú.
Đến thập niên
1970s của thế kỉ trước, giới y học nhất trí cho rằng (hay nói đúng
hơn là “tin rằng”) chất béo trong thực phẩm là một yếu tố gây nên
ung thư, làm tăng bệnh tim và làm cho người ta chết yểu. Một giả
thuyết về mối liên hệ giữa chất béo, ung thư và bệnh tim được đề
suất như sau: chất béo làm tăng cholesterol (mỡ trong máu);
cholesterol làm nghẽn động mạch và hậu quả là bệnh đau tim (cụ thể
là bệnh xơ vữa động mạch); chất béo cũng làm tăng nguy cơ ung thư (nhất
là ung thư vú và ung thư ruột); bệnh tim và ung thư làm cho người ta
chết yểu. Do đó, nhiều chất béo trong cơ thể làm cho người ta chết
sớm. Giả thuyết này có thể được tóm gọn như sau:
Chất béo
à cholesterol
à đau tim / ung thư
à chết sớm.
Gần 40 năm qua,
công chúng đă quá quen với cái mệnh đề trên mà giới
y học, chính phủ, truyền thông
không ngớt phát biểu như một tín lí tôn giáo. Từ đó, giới chức y tế
Mĩ khuyên dân chúng nên giảm tiêu thụ chất béo sao cho dưới 30%
trong tổng số calories. Và lời khuyên đó coi như là một chân lí
khoa học.
Cái
“tín lí” đó cho ra đời mộ kĩ nghệ khổng lồ: kĩ nghệ tiết thực (diet
industry). Các công ti dược đa quốc gia phát triển thuốc chống béo,
giảm cholesterol. Các hăng thực phẩm tung ra những sản phẩm có
những nhăn hiệu đại loại như “low-fat diet”. Công ti nước ngọt
Coca-cola và Pepsi có lẽ là những công ti đi đầu và thành công trong
kĩ nghệ này, đến nổi “diet Pepsi” đă trở thành một cái tên mang tính
gia đ́nh. Các trung tâm thể dục cũng đua nhau mọc lên như nấm, với
một mục tiêu: giảm béo, giảm cân. Và họ đă thành công ngoạn mục.
Ngày nay chỉ tính riêng ở Mĩ thuốc Lipitor là thuốc bán chạy nhất và
đem lại món lời lớn nhất (khoảng 10 tỉ USD) cho các công ti dược.
Số người Mĩ sử dụng thuốc này cao đến nổi có người kêu lên Mĩ là một
quốc gia Lipitor!
Công tŕnh
nghiên cứu WHI
Tôi
vừa nói các lời khuyến cáo trên được xem như là một tín lí tôn giáo,
bởi v́ trong thực tế chúng ta chưa có bằng chứng khoa học thuyết
phục để làm cơ sở cho lời khuyến cáo trên. Chưa có bằng chứng là
bởi v́ chưa ai tiến hành một nghiên cứu qui mô, có hệ thống để thử
nghiệm giả thuyết chất béo – tử vong. May mắn thay, mới đây, chính
phủ Mĩ đă quyết định tài trợ 415 triệu Mĩ kim để tiến hành một
nghiên cứu như thế. Công tŕnh nghiên cứu này có tên là Women’s
Health Initiative (WHI).
Khởi
đầu từ năm 1992, các nhà nghiên cứu WHI theo dơi 48.835 phụ nữ sau
thời ḱ măn kinh, tuổi từ 50 đến 79. Đa số phụ nữ là người da trắng
(chiếm 82% tổng số), và một thiểu số là người da đen (11%), người Mễ
(4%), và Á châu (2%). Gần 38% các phụ nữ có body mass index (BMI)
cao hơn 30 kg/m2, tức béo ph́. Gần ba phần tư (74%) phụ
nữ có BMI cao hơn 25 kg/m2, tức quá cân và béo ph́ (1-3).
Để thử nghiệm
giả thuyết về chất béo và bệnh tim và ung thư, họ ngẫu nhiên chia
phụ nữ thành 2 nhóm: Nhóm 1 gồm 19.541 người (tức khoảng 40% của
tổng số) được hướng dẫn cách thức ăn uống sao cho lượng chất béo chỉ
trên dưới 20% tổng số calories; nhóm 2 là nhóm đối chứng (control
group) gồm 29.294 người th́ vẫn ăn uống như thường lệ, không thay
đổi ǵ cả. Suốt từ 1992 đến 2005, các nhà nghiên cứu ghi nhận số
phụ nữ bị ung thư vú, ung thư ruột, bệnh tim, và tử vong. Sau 15
năm theo dơi (trung b́nh là 8 năm), họ phân tích và so sánh mức độ
khác biệt về tỉ lệ mắc bệnh giữa hai nhóm.
Khi
bắt đầu, tỉ lệ lượng chất béo trên tổng số calorie ngang nhau: nhóm
1 có tỉ lệ 38%, nhóm 2 cũng 38%. Đến năm thứ hai và các năm sau đó,
tỉ lệ chất béo trong nhóm 1 giảm xuống c̣n 24%, trong khi đó nhóm 2
th́ vẫn ở độ 35%. Như vậy, việc can thiệp giảm chất béo có hiệu lực.
Phát hiện chính của công tŕnh nghiên cứu có thể tóm lược bằng biểu
đồ và bảng thống kê dưới đây:
·
Sau 8 năm (trung b́nh)
theo dơi nhóm ăn uống chất béo thấp có 655 phụ nữ bị ung thư vú
(tương đương với 0.42% mỗi năm), c̣n nhóm đối chứng có 1072 phụ
nữ bị ung thư vú, với tỉ lệ hàng năm là 0.45%. Tuy nhiên qua phân
tích thống kê, mức độ khác biệt này (0.42% và 0.45%) không có ư
nghĩa thống kê.
·
Đối với ung thư ruột,
tỉ lệ mắc bệnh trong nhóm ăn uống chất béo thấp là 0.13% mỗi năm,
cao hơn nhóm đối chứng là 0.12% mỗi năm, nhưng mức độ khác biệt này
cũng không có ư nghĩa thống kê;
·
Tính gộp chung, qua 8
năm theo dơi, nhóm được can thiệp (ăn uống chất béo thấp) ghi nhận
1357 hay 0.86% phụ nữ mắc bệnh tim (kể cả các bệnh đột quị,
tim mạch, xơ vữa động mạch), trong khi nhóm đối chứng có 2088
hay 0.88% mắc những bệnh tim trên. Mức độ khác biệt quá nhỏ, nên
cũng không có ư nghĩa thống kê;
·
Tính Tỉ lệ tử vong
trong nhóm can thiệp là 0.60% mỗi năm, thấp hơn khoảng 0.01% so
với nhóm đối chứng, nhưng mức độ khác biệt cũng không có ư nghĩa
thống kê.
Các nhà nghiên
cứu c̣n phân tích thêm về mối liên hệ giữa chất béo monounsaturated
và polyunsatured và các bệnh trên, nhưng không phát hiện một mối
liên hệ nào.
Một điều khá trớ
trêu là khi phân tích theo lượng chất béo và ung thư vú th́ trong
nhóm có lượng chất béo cao hơn 35% (tổng số calorie), nhóm can thiệp
có tỉ lệ ung thư vú thấp hơn nhóm đối chứng (tỉ số nguy cơ = 0.78;
95%CI: 0.64 – 0.95)! Cũng qua phân tích này, những phụ nữ ăn trái
cây rau quả nhiều có xu hướng bị ung thư vú cao hơn nhóm đối chứng (tỉ
số nguy cơ: 1.08; 95%CI: 0.9 – 1.29)! Ăn uống nhiều chất béo bảo vệ
chống ung thư vú? Ăn uống nhiều trái cây rau quả làm tăng nguy cơ bị
ung thư vú? Không ai trong giới y khoa có can đảm trả lời “yes” hai
câu hỏi này, cho dù số liệu thực nghiệm cho thấy như thế.
Nói tóm lại,
không có một khác biệt nào về nguy cơ bị ung thư, bệnh tim, hay tử
vong giữa nhóm. Nói cách khác, can thiệp ăn uống chất béo thấp
không có hiệu quả giảm nguy cơ ung thư vú, ung thư ruột, xơ vữa động
mạch, tai biến mạch máu năo, hay tử vong nói chung.
Biểu đồ tóm
lược kết quả công tŕnh nghiên cứu của WHI
|
 |
|
Các biểu
đồ thể hiện nguy cơ tích lũy (cumulative hazard) mắc bệnh
ung thư vú (biểu đổ bên trái), ung thư ruột (biểu đồ giữa)
và bệnh tim (biểu đồ bên phải) theo thời gian theo dơi tính
bằng năm (trục hoành). Đường biểu đồ màu xanh là nhóm sử
dụng thực phẩm có lượng chất béo thấp (low-fat diet); đường
biểu đồ màu xám là nhóm sử dụng thực phẩm có lượng chất béo
b́nh thường (usual diet). Biểu đồ cho thấy không có sự khác
biệt nào đáng kể giữa hai nhóm. |
Bảng thống kê
tóm tắt kết quả nghiên cứu
|
Bệnh |
Nhóm
1 (chế độ ăn uống ít chất béo)a |
Nhóm
2 (chế độ ăn uống b́nh thường)a |
Tỉ số
nguy cơ (và 95% giới hạn)b |
|
Ung thư
vú |
655
(0.42) |
1072
(0.45) |
0.91
(0.83 – 1.01) |
|
Ung thư
ruột |
201
(0.13) |
279
(0.12) |
1.08
(0.90 – 1.29) |
|
Tất cả
ung thư |
1946
(1.23) |
3040
(1.28) |
0.96
(0.91 – 1.02) |
|
Bệnh tim
(CHD) |
559
(0.35) |
863
(0.36) |
0.98
(0.88 – 1.09) |
|
Coronary
bypass graf |
717
(0.45) |
1113
(0.47) |
0.96
(0.88 – 1.06) |
|
Đột quị |
434
(0.28) |
642
(0.27) |
1.02
(0.90 – 1.15) |
|
Ischemic |
256
(0.16) |
383
(0.16) |
1.01
(0.86 – 1.18) |
|
Tất cả
bệnh tim |
1357
(0.86) |
2088
(0.88) |
0.98
(0.92 – 1.05) |
|
Tử vong
(tổng số) |
950
(0.60) |
1454
(0.61) |
0.98
(0.91 – 1.07) |
|
Chỉ số
sức khỏe tổng quan |
2051
(1.30) |
3207
(1.35) |
0.95
(0.90 – 1.01) |
Chú thích:
a:
Con số ngoài ngoặc là số bệnh nhân bị bệnh trong thời gian theo dơi;
số trong ngoặc là tỉ lệ bị bệnh hàng năm tính bằng phần trăm. Ví dụ,
trong thời gian theo dơi, nhóm 1 có 655 phụ nữ bị ung thư vú, tương
đương với 0.42% mỗi năm; c̣n nhóm 2 có 1072 phụ nữ bị ung thư vú,
với tỉ lệ 0.45% mỗi năm. Tỉ số nguy cơ, do đó, bằng 0.91, tức là
nguy cơ bị ung thư vú trong nhóm 1 bằng 91% so với nhóm 2, tuy nhiên
v́ giới hạn 95% vượt qua 1 (tư 0.83 đến 1.01), cho nên sự khác biệt
này không được xem là có ư nghĩa thống kê.
b:
Tỉ số nguy cơ (hazards ratio), 95% giới hạn (95% confidence
interval). Tỉ số nguy cơ thấp hơn 1 có nghĩa là nhóm ăn uống ít
chất béo có lợi thế sức khỏe hơn nhóm ăn uống b́nh thường; Tỉ số
nguy cơ cao hơn 1 có nghĩa là nhóm ăn uống ít chất béo có tỉ lệ bị
bệnh cao hơn nhóm ăn uống b́nh thường; khi 95% giới hạn bao gồm cả 1
có nghĩa là mức độ khác biệt giữa hai nhóm không có ư nghĩa thống kê.
Trong bảng tóm lược này, tất cả những khác biệt về các chỉ tiêu bệnh
tật và tử vong giữa hai nhóm đều không có ư nghĩa thống kê.
Nguồn:
Prentice
RL, et al, JAMA 2006; 295:629-642; Beresford SAA, et al, JAMA 2006;
295:643-654; Howard BV et al, JAMA 2006; 295:655-666.
Ư nghĩa
Công
tŕnh nghiên cứu WHI được xem là viên ngọc quí trong các viên ngọc
về nghiên cứu lâm sàng dịch tễ học trên thế giới. Những người tham
gia vào công tŕnh nghiên cứu này đều là các chuyên gia hàng đầu về
lĩnh vực chuyên môn như dịch tễ học, thống kê học. Công tŕnh được
thiết kế rất cẩn thận, có nhóm đối chứng, với hơn 40 ngàn t́nh
nguyện viên, được theo dơi suốt 15 năm trời, v.v… cho nên những ước
tính về nguy cơ được xem là chính xác hơn những nghiên cứu vài trăm
bệnh nhân. Thực vậy, khi kết quả nghiên cứu được đi ra phản nghiệm,
không ai có thể bắt bẽ được, cũng không ai có thể t́m thấy những sai
sót về phương pháp.
V́ tính khoa học cao của công tŕnh WHI, những kết quả trên được xem
là “phán quyết sau cùng”, rằng chế độ ăn uống ít chất béo không làm
giảm nguy cơ tử vong, không làm giảm nguy cơ ung thư, và cũng không
làm giảm nguy cơ bệnh tim.
Có
thể xem những phán xét sau cùng của WHI một lần nữa nói lên giá trị
khoa học của các nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên
(randomized controlled clinical trials, hay RCT). Theo y học thực
chứng, chỉ có các dữ kiện từ RCT là đáng tin cậy nhất. Thế nhưng,
như đề cập trên, đă hơn 50 năm nay, đại đa số giới y tế đều nhất trí
rằng chất béo có hại cho sức khỏe, làm tăng nguy cơ bị ung thư và
bệnh tim, và làm cho người ta chết yểu. Cái niềm tin này được xây
dựng dựa trên những nghiên cứu trên chuột, những
nghiên cứu đối chứng (case-control studies) hay nghiên cứu
cắt ngang (cross-sectional studies). Nhưng các nghiên cứu này có
giá trị khoa học không cao v́ do ảnh hưởng của các yếu tố gián tiếp
(confounders) mà nhà nghiên cứu không kiểm tra được.
Công tŕnh của
WHI c̣n là một cảnh báo một lần nữa cho những niềm tin y khoa thiếu
cơ sở khoa học. Đây không phải là lần đầu tiên một tín lí y khoa bị
khoa học đánh đổ; trong quá khứ đă có nhiều tín lí bị thay đổi. Từ
lâu, giới bác sĩ Tây phương thường khuyên các bà mẹ nên cho trẻ em
mới sinh ngủ nằm sấp, v́ họ tin rằng cách ngủ này sẽ làm giảm xác
suất trẻ em chết đột ngột (c̣n gọi là Sudden Infant Death
Syndrome). Măi cho đến thập niên 1980s, có người đặt vấn đề là có
bằng chứng nào làm cơ sở cho lời khuyên này. Theo sau đó là một
loạt nghiên cứu lâm sàng cho thấy rơ ràng các trẻ sơ sinh nằm sấp có
nguy cơ bị chết cao hơn các trẻ ngủ nằm ngửa. Và thế là một phong
trào “Back to sleep” được phát động để khuyến khích trẻ em ngủ nằm
ngửa. Nếu câu hỏi trên được đặt ra vài mươi năm trước th́ có biết
bao trẻ em được cứu sống v́ SIDS.
Đầu thập niên
1980s và 90s, giới thầy thuốc trên thế giới là những “cảm t́nh viên”
của HRT (hormone replacement therapy, hay c̣n gọi là Phương pháp
thay thế kích thích tố), thường được dùng để chữa trị những triệu
chứng sau thời kỳ măn kinh như nóng bừng và loăng xương. Thời đó,
giới bác sĩ tin rằng HRT sẽ làm cho phụ nữ trẻ trung hơn, sẽ ngăn
ngừa bệnh tim mạch và loăng xương trong những phụ nữ có tuổi. Trong
các trường y, một số giáo sư c̣n đi xa hơn, giảng dạy sinh viên rằng
vấn đề HRT chưa được dùng rộng răi trong các phụ nữ sau thời măn
kinh là một tội phạm trong ngành y! Thế nhưng đến năm 1998, kết quả
của một nghiên cứu lâm sàng “Heart and Estrogen / Progestin
Replacement Study” công bố cho thấy estrogen không ngăn ngừa bệnh
tim, nhưng lại có một mối đe doạ khác là tăng nguy cơ bị chứng vón
cục máu (blood clot). Kết quả nghiên cứu này làm cho giới bác sĩ
lại ngẩn ngơ!
Riêng người viết
bài này cho rằng giới nghiên cứu Tây phương (mà người viết là một
thành viên trong đó!) nhiều khi bị ảnh hưởng của chủa nghĩa giản hóa
luận (reductionism) quá đáng. Con người phải ăn uống để sống. Và
mức độ calories thu nhận hàng ngày qua thức ăn thường cố định trong
từng người. Giả dụ như mức độ calories đó là C, và C là tổng số
calories từ của hai thành phần thức ăn A và B: C = A + B. Nếu một
người dùng nhiều thành phần A, th́ có thể người đó phải dùng ít
thành phần B, sao cho C cố định. Đó là một sự cân bằng tự nhiên.
Cứ mỗi giả thiết cho rằng con người bị bệnh v́ dùng nhiều chất A,
người ta cũng có thể phát triển một giả thiết khác rằng con người bị
bệnh v́ dùng quá ít chất B. Mặc cho mọi ḱ vọng từ các phong trào
chống béo, quần chúng vẫn duy tŕ một độ calories gần như cố định.
Có thể họ giảm chất béo, nhưng dùng nhiều thức ăn carbohydrates, và
cuối cùng th́ lượng calories vẫn không thay đổi. Vấn đề cộng-trừ
này cho chúng ta một cách diễn dịch mới cho mọi kết quả nghiên cứu
về chế độ ăn uống và chất béo. Thành ra, nếu chỉ tập trung nghiên
cứu A (như chất béo) th́ khó mà cho ra một kết quả công bằng, bởi v́
A cũng phải tương tác với B để điều chế hệ thống nội tiết.
Phong trào chống
chất béo được phát động dựa trên cơ sở rằng cái yếu tố xấu (chất béo)
là nguyên nhân, và bệnh tim hay ung thư là hệ quả của việc dùng quá
nhiều chất xấu. Nhưng cũng có thể bệnh tim là hậu quả của việc dùng
chưa đủ những chất tốt. Thành ra, chúng ta cũng có thể đặt lại vấn
đề: có thể chúng ta dễ bị bệnh tim v́ chúng ta thiếu hàm lượng chất
béo!
Khi phong trào
chống chất béo được phát động, giới chức y tế hi vọng rằng người dân
sẽ dùng nhiều rau cải và trái cây. Nhưng điều này không xảy ra
trong thực tế. Ai cũng có thể trồng rau cải. Kĩ nghệ thực phẩm
không có động cơ để quảng cáo một món hàng không có bản quyền thương
mại như rau cải. Thay vào đó, khoảng 30 tỉ Mĩ kim hàng năm dành cho
quảng cáo là nhằm buôn bán carbohydrates ngụy danh dưới các dạng
thực phẩm ăn liền như sodas, snacks, và kẹo. Carbohydrates từ đó
trở thành một món ăn quen thuộc của người Âu Mĩ.
Carbohydrates có
cái mặt trái của chúng. Đưa chất protein tinh khiết vào chế độ ăn
uống là một việc làm cực ḱ khó khăn; do đó, một chế độ ăn uống thấp
chất béo là đồng nghĩa với một chế độ ăn uống chứa nhiều chất
carbohydrates. Một số lớn nghiên cứu cho thấy chế độ ăn uống chứa
nhiều chất carbohydrate có thể làm tăng lượng triglyceride, sản sinh
ra những phần tử LDL,
và làm giảm HDL, một sự phối hợp, cùng với
chứng “kháng insulin” (hay insulin resistance), được mệnh danh là
“Hội chứng X” (syndrome X). Khoảng 30% đàn ông và 10% đến 15% phụ
nữ sau thời ḱ măn kinh có hội chứng X. Những người này thường có
nguy cơ bị bệnh tim rất cao, dù lượng LDL b́nh thường. Khi đàn ông
được đặt vào một chế độ ăn uống với lượng carbohydrate cao, lượng
cholesterol của họ thay đổi từ mức độ b́nh thường sang hội chứng X.
Nói một cách khác, thay thế chất béo băo ḥa (saturated fats) bằng
carbohydrates là nguyên nhân gây nên hội chứng X và làm tăng nguy cơ
bị bệnh tim. Một số nhà nghiên cứu quả quyết rằng khuynh hướng này
giải thích tại sao tỉ lệ người béo ph́ và quá cân tăng trong vài
thập niên qua trong khi lượng tiêu thụ chất béo th́ giảm.
Một khía cạnh
đáng quan tâm hơn trong vấn đề cân bằng giữa chất béo và
carbohydrate là đối với một số người, họ rất dễ tăng kí với một chế
độ ăn uống ít chất béo và nhiều chất carbohydrate hơn là một chế độ
ăn uống với nhiều chất béo. Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự
thèm ăn là chỉ số glycemic (hay glycemic index). Chỉ số
glycemic đo lường tốc độ chuyển hóa từ chất carbohydrates thành chất
đường và lưu chuyển trong máu. Những thức ăn có chỉ số glycemic cao
là đường và các thức ăn được chế biến tự gạo như ḿ, bún, những thức
ăn làm tăng hàm lượng đường trong máu sau bữa ăn rất nhanh. Trái
cây, rau cải, đậu ... cũng làm tăng hàm lượng đường trong máu, nhưng
với tốc độ chậm.
Các nhà nghiên
cứu giả thiết rằng dùng các loại thức ăn với chỉ số glycemic cao làm
tăng sự thèm khát. Nếu giả thiết này đúng, th́ lượng calories từ
các loại carbohydrates được chế biến bằng các qui tŕnh kĩ nghệ (tức
loại thức ăn hàng ngày của người Mĩ) không tương đương với lượng
calories từ chất béo, protein trong nỗ lực giảm cân. Những thức ăn
này (có chỉ số glycemic cao) có lẽ làm thay đổi hệ thống nội tiết và
hormones và làm cho người dùng chúng cảm thấy thèm khát và lên cân.
Năm 1979, một
nhà nghiên cứu uy tín trong lĩnh vực nội tiết
viết trên Tập san Lancet, một tập san y học lừng
danh trên thế giới, rằng sau hơn 30 năm
nghiên cứu và kinh nghiệm, chưa ai biết chắc
rằng thay đổi chế độ ăn uống sẽ có ảnh hưởng ǵ đến nguy cơ bị bệnh
tim mạch. Ư kiến này vẫn c̣n có giá trị thực trong bối cảnh ngày
nay. Thực vậy, không ai dám nói một cách khẳng định rằng có thể
giảm cân qua một chế độ ăn uống đơn giản.
Nhưng thuốc có
thể làm giảm hàm lượng cholesterol. Có nhiều loại thuốc tương đối
rẻ tiền có thể giảm lượng cholesterol đến 30%. Và, dựa vào kết quả
ngoạn mục này, phần lớn y sĩ ngày nay đều dùng thuốc để pḥng ngừa
bệnh tim. Chế độ ăn uống có thể giảm cholesterol khoảng 10% hay
thấp hơn; chưa có chế độ ăn uống nào giảm cholesterol đến 20 hay
30%. Nhưng giới chức y tế vẫn khuyến cáo dân chúng nên giảm chất
béo trong chế độ ăn uống, dù bằng chứng khoa học cho thấy rơ ràng
rằng giảm cholesterol chẳng kéo dài thêm tuổi thọ của dân chúng.
Cái lô-gích đằng sau khuyến cáo này là giảm chất béo là một điều dễ
làm, và đơn giản, ai cũng hiểu. C̣n lời khuyến cáo có tính khoa học
hay không không phải là điều đáng quan tâm. Trong bối cảnh mà câu
trả lời dứt khoát chưa có, người ta sẵn sàng bằng ḷng với một câu
trả lời dù không khẳng định nhưng cũng chẳng có hại.
Ăn ít chất béo,
sống lâu hơn. Đó là cái thông điệp y tế 30 tuổi mà đến nay nó đă
trở thành một thứ tín lí. Nhưng “sống lâu hơn” là bao lâu? Từ năm
1987 đến 1992, có 3 nhóm nghiên cứu độc lập dùng computer để t́m câu
trả lời bằng các mô h́nh toán học. Cả ba nghiên cứu cho thấy nếu
lượng calories từ chất béo trong tổng số calories giảm xuống c̣n 10%
như lời khuyên của chính phủ, th́ tuổi thọ sẽ kéo dài khoảng 3 ngày
đến 3 tháng!
Thế th́ câu hỏi
cần được đặt ra là chúng ta phải ăn uống ǵ? Câu trả lời ngắn gọn
là "trung b́nh", là "điều độ", tức không thái quá một món nào cả.
Theo giới dinh dưỡng học, một bữa ăn hàng ngày cần phải có khoảng 30
đến 35% chất béo tốt, 15 đến 20% protein (như cá, thịt gà, và trừng),
và phần c̣n lại là carbohydrates. Nhưng phải chú ư loại
carbohydrates mà chúng ta ăn uống hàng ngày. Loại thức ăn
carbohydrates mà giới dinh dưỡng học khuyên chúng ta nên dùng nhiều
hơn là rau cải và "whole grains" tức bao gồm gạo, lúa ḿ, bắp (ngô),
ngũ cốc, v.v... và những loại carbohydrates chúng ta nên ăn ít hơn
là đường và các loại thức ăn đă qua quá tŕnh chế biến bằng công
nghệ (processed foods). Ngoài ra, các nhà nghiên cứu dinh dưỡng
cũng đồng ư là ăn càng ít chất béo xấu (chất béo từ động vật như bơ,
phó mát) càng có lợi cho sức khỏe, nhưng đồng thời nên tăng cường
chất béo tốt (tức chất béo không băo ḥa như đậu phụng, cá, dầu thực
vật, avocado - lê Tàu).
Chú thích:
Chi tiết về loạt
bài về chất béo và ung thư và bệnh tim do JAMA công bố có thể t́m
theo tài liệu tham khảo sau đây:
1. Prentice RL, et
al. Low-fat dietary pattern and risk of invasive breast cancer: the
Women's Health Initiative Randomized Controlled Dietary Modification
Trial. JAMA 2006 Feb 8;295(6):629-42.
2. Beresford SA,
et al. Low-fat dietary pattern and risk of colorectal cancer: the
Women's Health Initiative Randomized Controlled Dietary Modification
Trial. JAMA 2006 Feb 8;295(6):643-54.
3. Howard BV, et
al. Low-Fat Dietary
Pattern and Risk of Cardiovascular Disease: The Women's Health
Initiative Randomized Controlled Dietary Modification Trial.
JAMA 2006 Feb 8;295(6):655-66. |
|