|
Con chó, văn học
và dân tộc
(*)
Đặng Tiến
Năm nảo, năm nao, năm nào
cũng vậy, mỗi lần Tết, viết báo Xuân, th́ một ư tưởng lại về. Năm
ngoái đă viết câu này, năm nay viết lại : quê tôi có câu hát ru thậm
hay :
Con mèo, con chó có lông,
Cây tre có mắt, nồi đồng có gai
Câu hát giàu chất thơ, nằm
ngoài cái hay từ chương, học được ở nhà trường hoặc qua sách vở. Lời
thơ đơn giản trong từ vựng cũng như bút pháp, và không mang một
lượng thông tin nào đáng kể cho người nghe, v́ chỉ nói lên những
điều hiển nhiên, tầm thường, người người đều biết. Lời nói xem như
không có nội dung, mà vẫn đứng vững được đời này sang đời khác ; như
vậy, câu nói tự lấy ḿnh làm nội dung, ngôn ngữ tự lấy ḿnh làm cứu
cánh. Đấy là một câu thơ đích thực, theo quan niệm hiện đại. Mà lại
là một câu thơ hay, phần nào nhờ giàu nhạc tính, phụ âm k luyến láy
ở những vị trí trọng yếu, làm nổi bật động từ có, vừa là sở
hữu (avoir) vừa là hiện hữu (être). Bộ lông là hiện thân, là thành
phần bản thể tự nhiên của con mèo, con chó. Câu thơ gợi lên một
không gian im ĺm, thân thuộc : mảnh vườn, góc sân, xó bếp, trong
tâm trạng thư thái, hạnh phúc, tin cậy vào cuộc sống. Phong cảnh ở
đây ngưng bóng thời gian, ngoại quan là một tâm cảnh, một tâm cảm dù
không có chữ nào diễn đạt tâm t́nh.
Dù vậy, không phải ai
ai cũng thích ; Xuân Diệu đă chê gắt gao : « đó là một kiểu mẫu
về câu thơ vô vị (…) trần trụi như mèo chó đă bị vặt lông ( !) và
nghe đến nó th́ ống tre cũng không hứng thú ǵ mà có mắt nữa »
( !)
.
Tệ đến thế là hết nấc !
Về chó, ca dao ta c̣n có câu
cực hay :
Bực ḿnh con chó nhỏ sủa
dai
Sủa nguyệt lâu đài, sủa
bóng trăng lu
Nhà thơ Tô thùy Yên,
khi trích dẫn câu này, đă b́nh luận : « nhóm từ ‘nguyệt lâu đài’
không rơ nghĩa, nhưng dàn dựng cho lời thơ một cảnh sắc hoang đường
lạ lẫm. Thi tính, đôi khi nếu chẳng phải là thường khi, vượt ra
ngoài những diễn luận thông phàm. Một trong những kỳ tích của thơ,
có lẽ cũng của t́nh yêu nữa, là ôm cơng được cái thực tách khỏi chỗ
thường nhật. Cái thực trong thơ là cái thực ṛng »
Tô Thùy Yên sành văn học dân
gian và do đó dè dặt hơn Xuân Diệu. Câu ca dao trách con chó sủa
dai, phá giấc ngủ, lúc nào cũng sủa được : trăng lu cũng sủa, trăng
sáng lại sủa. ‘Nguyệt lâu đài’ là cảnh trời mây huy hoàng
tráng lệ khi trăng bỗng nhiên rực rỡ, đối lập với ‘bóng trăng lu’.
Thơ Xuân Diệu :
Đêm nay rằm yến tiệc sáng
trên trời…
…Trăng đĩa ngọc giữa mâm
trời huyền bí
Thơ Hàn Mạc Tử :
Trăng tan tành rơi xuống
một cù lao
Hóa đài điện đă rất nên tráng lệ
(Phan Thiết)
Điều lạ làm lạc hướng Tô
Thùy Yên, là một người thơ dân gian, vô danh, không chuyên nghiệp,
đă sáng tạo ra được h́nh ảnh ‘sủa nguyệt lâu đài’, tân kỳ, hư
ảo và diễm ảo.
*
Trong văn học thành văn, con
chó cũng đă góp mặt rất sớm qua bài thơ Vô Đề, mở đầu Quốc
Âm Thi Tập của Nguyễn Trăi, tác phẩm b́nh minh trong nền thi ca Việt
Nam :
Ao bởi hẹp ḥi khôn thả
cá
Nhà quen xú xứa ngại nuôi
vằn
Ngày xưa nước ta con chó
không có tên, được ô theo màu lông, con vằn, con vện, con mực, con
khoang… Vằn, vện cùng nguồn gốc ngôn từ, là chữ văn
trong Văn Lang, văn hóa, văn minh ; có khi phát âm ra vân
trong quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân… Câu thơ Nguyễn
Trăi : xú xứa nghĩa là xuề x̣a, xuềnh xoàng ; ngại nuôi vằn
v́ bạn ḿnh ưa lục lọi, nên tục ngữ có lời khuyên : chó treo, mèo
đậy ; nhà thơ mải lo tiếp mây khách khứa, nguyệt anh em
ắt không mấy để tâm đến việc đậy điệm, treo leo.
Tác phẩm Nguyễn Trăi c̣n lưu
truyền đến nay là nhờ vua Lê Thánh Tông giải oan và ra lệnh sưu
tầm ; Thánh Tông sống sót là do Nguyễn Trăi bao che, và lên ngôi nhờ
công Nguyễn Xí phù lập. Nguyễn Xí lập sự nghiệp bắt đầu từ việc…
nuôi chó : ông có tài điều khiển đàn chó săn hàng trăm con của Lê
Lợi, trước khi cầm quân thời khởi nghĩa Lam Sơn và trở thành danh
tướng.
Bóng dáng, tiếng sủa của con
chó gắn bó với phong cảnh làng mạc Việt Nam, được Nguyễn Khuyến ghi
lại bằng câu thơ tài t́nh :
Trâu già gốc bụi ph́ hơi
nắng
Chó nhỏ bên ao cắn tiếng
người
Lời lẽ nôm na, toàn những
tiếng đơn âm, gợi lên phong cảnh, khí hậu buổi trưa hè Việt Nam
trong những chi tiết độc đáo và chọn lọc, hơi thở mạnh của con trâu
trong khí nóng bức và im ắng , khiến một âm hao nào đó của con người
cũng đủ khuấy động không gian, làm giật ḿnh con « chó nhỏ » thơ
ngây. Câu thơ nôm na như vậy dễ làm người đọc quên nguyên tác bằng
chữ Hán :
Ngọa thụ b́ ngưu hư thử
khí
Cách tŕ tiểu khuyển phệ
nhân thanh
Bài này Nguyễn Khuyến làm để
tặng người anh họ là Đặng Tự Ư và tự dịch ra quốc âm. Có lẽ câu thơ
dịch hay hơn nguyên tác, v́ hợp t́nh hợp cảnh hơn.
Thời thế đổi thay, con chó
cũng đổi thay. Có lần Tổng đốc Nam Định là Vũ văn Báo, theo lệnh
chính quyền Pháp, vời Nguyễn Khuyến đến nhà, có ư mời ra làm quan.
Nguyễn Khuyến cùng đi với con cả là Nguyễn Hoan, vào đến cổng dinh
tổng đốc th́ gặp viên công sứ Pháp đi ra, lại bị con chó tây chồm
lên cắn ; Nguyễn Khuyến hoảng hốt đẩy con ra chắn chó. Sau đó, trong
câu chuyện với chủ nhân, ông đă làm thơ tức cảnh :
Hốt đáo nhĩ môn phùng nhĩ
cẩu
Cấp tương ngô tử thế ngô
thân
Tạm dịch :
Chợt đến cửa ngươi, gặp
chó ngươi
Kíp đưa con mỗ thay thân
mỗ
Không rơ đây là chuyện thật,
hay là giai thoại , hư cấu theo chuyện Nguyễn Khuyến từ quan nhưng
đẩy con trai, phó bảng Nguyễn Hoan, ra tham chính thay ḿnh. Dù sao
h́nh ảnh con chó tây xuất hiện ở đây, cũng đánh dấu một giai đoạn xă
hội khác, đời mới, người mới, chó mới, như trong bài văn tế Ri-vi-e
(Henri Riviere), chết tại trận Ô Cầu Giấy, năm 1883 :
Nhớ ông xưa
Mắt ông xanh lè, mũi ông
tḥ lơ
Đít ông cưỡi lừa, mồm ông
huưt chó
Loại chó tây này, càng về
sau, càng rơ nét hơn như trong bài thơ Thăm bạn, 1937 của Vơ
Liêm Sơn (1888-1949) :
Lâu ngày đi thăm bạn
Đến ngơ chó tuôn ra
Những con to và béo
Tiếng
sủa như đồng loa
Thấy
chó biết nhà chủ
Làm
ăn rày khá mà.
Thôi thế, cũng là đủ
Bất
tất phải vào nhà.
Có những con chó
làm cho con người gần nhau.
Hay xa nhau.
*
Trong quá tŕnh phát triển
của đất nước, Nam Bộ gia nhập vào văn học muộn màng ; có khi nhờ vậy
mà ít vướng mắc vào những kiêng dè đề tài, và đề cập nhiều đến chó.
Huỳnh Mẫn Đạt (1807-1883)
quê Gia Định, có bài thơ đề cao công trạng chó, tự ví ḿnh với con
chó già, than thân chó, trách phận ḿnh, lời thơ ưu ái :
Con chó già
Tuy rằng muông cẩu có ân
ba
Răng rụng lâu năm nó phải
già
Bởi đuổi hươu Tần nên mỏi
gối
V́ lo khỉ Sở mới dùng da
Không ai trấn Bắc ngăn
bầy cáo
Ít kẻ ngừa Tây giữ đứa tà
Mạnh mẽ khi xưa c̣n hớn
hở
Bây giờ yếu đuối hết xông
pha
(Hươu Tần, khỉ Sở : điển
tích về việc tranh bá đồ vương thời Tần Hán, và nhiệm vụ săn bắt của
loài chó)
Nguyễn văn Lạc (1842-1915)
thường được gọi là Học Lạc, quê Mỹ Tho, có bài thơ nhiều người biết
:
Chó chết trôi
Sống th́ bắt thỏ, thỏ kêu
rêu
Thác thả ḍng sông xác
nổi phều
Vằn vện xác c̣n phơi lửng
dửng
Thúi tha danh hăy nổi lều
bều.
Tới lui bịn rịn bầy tôm
tép,
Đưa đón lao xao lũ quạ
diều.
Một trận gió dồn cùng
sóng dập
Tan tành xương thịt biết
bao nhiêu.
Thảm cảnh một xác chó, dưới
một góc độ nào đó, cũng ẩn dụ thân phận con người.
Nói đến Mỹ Tho, chạnh nhớ
đến nhà thơ Phạm Công Thiện, quê miệt ấy, khoảng 1970, trôi dạt sống
tại Paris, đi lang bang trong chợ trời Montreuil, có bài thơ thân
phận :
Thân anh như con chó
Treo bảng bán chợ chiều
Một lần em qua đó
Con chó đứng nh́n theo...
Một bạn thơ khác,
Luân Hoán có một thi phẩm tên Trôi Sông, lấy ư từ thành ngữ
“lạc chợ trôi sông”, nói lên cảnh ch́m nổi, trôi giạt của một thế hệ
thanh niên. Bạn bè nghịch ngợm lại đùa, cho rằng anh lấy ư ở ca dao
: Em như cục cứt trôi sông /
Anh như con chó đứng trông trên bờ.
Dĩ
nhiên là chuyện đùa vui giữa bạn bè thân thiết. Chốn văn học nghiêm
trang, không ai dám nói thế.
Nhưng
dường như các nhà thơ phía Nam ưa tả chó : Nguyễn đ́nh Chiểu
(1822-1888), tả cảnh lụt : Lổm xổm giường cao thấy chó ngồi.
Tuy là cảnh hiện thực, nhưng ư lấy từ thành ngữ chó nhảy bàn độc,
ám chỉ những tiểu nhân đắc chí trong cảnh nước mất nhà tan, bốn
mặt giang sơn ngập cả rồi.
*
Giữa chó và lịch sử
dân tộc truyền thuyết dân gian đă thiết lập mối quan hệ lâu đờI : An
Dương Vương Thục Phán chấm dứt triều đại các vua Hùng, lên ngôi năm
258 trước Tây lịch, dời đô từ miền trung du Vĩnh Phú về miệt đồng
bằng Sông Hồng. Vua định đô tại làng Tó (Uy Nỗ), rồi dời về g̣ Cổ
Loa là theo chân… đàn chó, có lẽ là chó săn v́ các thủ lănh bộ lạc
là những thợ săn lỗi lạc – Lê Lợi về sau cũng vậy. Con chó được vua
sủng ái nhất, có lẽ là chủ soái đàn chó săn, cũng dời về Cổ Loa để
lót ổ đẻ con. Ngày nay, dân địa phương c̣n chọn nơi chó đẻ để làm
nhà, cho là đất phát phúc
.
Ông
vua xây dựng cơ chế quốc gia độc lập lâu dài cho nước Đại Việt là Lư
Công Uẩn, sinh năm Giáp Tuất, 974, cầm tinh chó. Truyền thuyết kể
rằng bà mẹ họ Phạm sống trong chùa, nằm mơ thấy thần chó đá và thụ
thai. Sinh con trai, bà mang đến chùa Cổ Pháp và con chó bằng đồng
của chùa bỗng sủa mừng; Sư cụ là Lư Khánh Vân cho là điềm lành, ứng
vào sấm kư của chùa, rước nuôi đứa bé và đặt tên Công Uẩn, cho mang
họ của ḿnh. Cậu bé theo học thầy Vạn Hạnh, thành đạt, làm tướng
giỏi, sau lên ngôi vua, 1009.
Năm
sau, Canh Tuất 1010, Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La,
gần Cổ Loa, đặt tên Thăng Long. Lúc dời đô, có con chó cái bơi từ Cổ
Pháp vượt sông Hồng, theo vua, về lót ổ đẻ bên Hồ Tây, chỗ hồ Trúc
Bạch bây giờ c̣n dấu tích. Truyền thuyết khác, kể rằng con chó Cổ
Pháp vượt sông lót ổ đẻ trên núi Nùng, nên Lư Thái Tổ dời đô về
phía ấy và chọn núi Nùng làm chính diện, lập đền thờ. Đại Việt Sử Kư
Toàn Thư c̣n kể chuyện con chó châu Cổ Pháp, đẻ con sắc trắng có
đốm đen thành ra hai chữ “thiên tử”, kẻ thức giả nói đó là điềm
người sinh vào năm Tuất làm thiên tử, quả là ứng nghiệm (vào Lư
Công Uẩn).
Dĩ nhiên đây là
huyền thoại. Nhưng huyền thoại do đâu mà ra ? Học giả Kiều Thu Hoạch,
trong một bài báo nghiêm túc, cho rằng do tục thờ chó đá cổ truyền,
c̣n vết tích tại Hà Nội, như Tô Hoài đă kể cặn kẽ trong Chuyện Cũ
Hà Nội, 1998, mục Con Chó Đá . Và một vài nơi khác ở Hà
Tây, và Vĩnh Phúc. Ông Kiều Thu Hoạch trích dẫn chính xác nhiều
sách Hán Nôm ghi lại những truyền thuyết về chó và vua Lư Thái Tổ
.
*
Chế độ thuộc địa
Pháp cáo chung vào năm 1945 và dẫn đến cuộc chiến tranh Việt Pháp.
Người
lính da trắng đầu tiên của Việt Minh là Erwin Borchers lấy tên Việt
Nam là Chiến Sĩ và có lẽ là công thần ngoại quốc số một. Ông là lính
lê dương gốc Đức, thuộc quân số Trung Đoàn 5 REI lừng danh, quan hệ
với phong trào Việt Minh từ 1944 v́ chuyện... một con chó ! Ông kể
lại là đă chứng kiến hai cảnh ngộ : một đầu bếp Việt Nam thịt con
chó của ông chủ người Pháp, th́ lănh một tháng tù ; c̣n anh lính lê
dương đâm chết một phu xe Việt Nam v́ ḱ kèo tiền xe th́ lănh 15
ngày tù : vậy sinh mệnh con người Việt Nam chỉ đáng giá nửa con chó
tây. Đây là khởi điểm một ư thức chính trị đă đưa ông đến
quyết định đào ngũ và hợp tác với phong trào giải phóng, chủ yếu là
viết bài cho báo Le Peuple, về sau phụ trách huấn luyện, phục
kích và địch vận, quân hàm thiếu tá
.
Những ngày đầu toàn quốc
kháng chiến, Quang Dũng là một tác giả hiếm hoi ghi lại đôi mắt con
chó, khi Trung Đoàn Thủ Đô rút quân :
Nhớ buổi trung đoàn ta ra
đi
Dân ta gánh gồng cả cơ
nghiệp
Mái nhà trăm năm thôi để
lại
Lạc chủ chó gầy mắt hoang
dại
(1947, Sử
Một Trung Đoàn)
Khi phát động du kích, 1947,
những hy sinh hằng loạt đầu tiên, là những con chó, để bảo vệ bí mật
chuyển quân. Hai mươi năm sau, 1968, trong vụ Tổng công kích Mậu
Thân, những ngày áp Tết, loài chó, một lần nữa lại nhất loạt hy
sinh. Sau trận tập kích, những con chó lạc chủ lang thang lại mất
mạng. Cứ mỗi lần đất nước có biến động lớn lao, loài chó là những
nạn nhân tiền tiêu. Và món thịt cầy cũng tùy nghi thăng trầm, phát
triển, chúng tôi xin miễn dẫn chứng hay lư luận chi tiết ở đây, e
mất vui ngày Tết.
Lạ một điều : thơ
đương đại ít khi tả chó, dù nó vẫn là bóng dáng và âm vang quen
thuộc của làng quê. Trong tập « Bức tranh Quê », 1941, Anh
Thơ đă tả chó sáu lần. Huy Cận thường tả cảnh nông thôn, nhắc đến
nhiều súc vật, mà dường như không tả chó. Hay là nhà thơ Ngô văn
Phú, chuyên viên về đời sống nông thôn, trong một tuyển tập dày cộm
gồm 400 bài, chỉ một lần tả chó, mà là chó đất làm đồ chơi, con
ṭ he
.
Người đọc khó bề giải thích
sự việc này bằng chính sách, lập trường. Tuy nhiên ta có thể nhận
xét trong thơ đương đại, những tác giả bên lề đường lối, lại thường
nhắc đến chó : Phùng Cung trong tập thơ Xem Đêm, 1995, có đến
những mười bài nói đến chó, Hoàng Hưng có nhiều bài thơ về đề tài
này :
Chó Đen và Đêm
1
Con chó
Con chó đen
Con chó đen chạy vào đêm
Đêm gừ gừ, ấm ấm
2
Chó đen sủa bông sứ máu
3
Chó đen ngửa mặt nh́n
trăng
4
Chó đen rin rít những
điều khó hiểu
Hồn ai đang lang thang
trong đêm
5
Buồn quá chó ơi
Ai cũng bỏ ta rồi
Ph́ ph́ mày ghếch mơm vào
môi
6
Chó đen sùng sục suốt đêm
Nỗi ngứa ngáy tiền kiếp
Phát điên v́ không nói
được
Chó ở đây không phải là một
súc vật có thật – nó sẽ là chó Mực – mà biểu tượng cho bóng tối, đau
thương, cô đơn, u uẩn, uất ức. Trong tập thơ Hành Tŕnh mới
đây, 2005, Hoàng Hưng lại có bài Chó Rừng u uất như vậy.
Cùng cảm hứng này, Tuệ
Sĩ có bài Tĩnh Thất
dài 32 khổ, làm năm Tân Tỵ, hai khổ 5 và 6 như sau :
Lon sữa ḅ nằm im bên chợ
con chó lạc
đến vỗ nhịp
trời mưa
Tôi lang thang
đi t́m cọng cỏ
Nó nh́n tôi
vô tư..
Trời cuối thu se lạnh
Chó giỡn nắng bên hè
Nắng chợt tắt
Buồn lê thê.
Trong các bộ môn văn học
nghệ thuật, thơ là một thể loại nặng tính cách chủ quan, riêng tây,
nhưng ngược lại, cũng giàu chất đại đồng (universalité) nhất ; những
câu thơ Tuệ Sĩ, Hoàng Hưng, Phùng Cung là cách nh́n, cảm xúc cá
nhân, nhưng như xé ra những mảng da thịt rớm máu từ lịch sử dân tộc.
Những biểu tượng tù đày, oan khiên, tuyệt vọng không nói nên lời. Để
có cái nh́n thảm thiết kia, các tác giả phải trải qua những nghịch
cảnh, những oan khuất. Họ không làm thơ ngẫu hứng, tự trào, ngâm
vịnh buồn vui ; họ cũng không đẽo gọt những h́nh ảnh văn chương trác
tuyệt lưu lại cho sử sách, do đó mà đă sử dụng h́nh ảnh con chó, vốn
được yêu thương và bị nguyền rủa và… thưởng thức. Nghiệm trong lịch
sử dân tộc gần đây, không ai, và không cái ǵ là vô tội, con chó
cùng chung số phận : chó là một gia súc bán hợp pháp, một hồ sơ chưa
kịp, hay chưa cần thụ lư.
*
H́nh ảnh con chó đa dạng, đa
nghĩa, hàm súc, thâm trầm và hoa mỹ nhất là trong thơ Tô Thùy Yên,
tôi đếm được 15 lần trong hơn 30 năm - nhất định là thiếu sót.
Bài
Vườn Hạ tạo nên không gian an b́nh, hạnh phúc, như thiên
đường xanh những mối t́nh thơ dại trong thơ Baudelaire:
Mênh
mang lưu thủy trường trăng lạnh
Con chó tung
tăng giỡn bóng ḿnh
Mương
nước ŕ rào sao sáng thở
Đài
hoa sương nạm hạt lân tinh
Thơ
Tuyển, tr.93
Tác
giả không ghi thời điểm sáng tác; dường như là khoảng 1974. Bài thơ
gồm 17 khổ thật hay, về hạnh phúc của quê hương thơ ấu miền Nam Bộ.
Trong không gian thiên đường xa xôi ấy, cảnh tử biệt sinh ly vẫn êm
ả, thơ mộng:
Con chim lạc bạn
kêu trời rộng
Hồn
chết trôi miền dạ lư hương
Thơ
Tuyển, tr.94
Nhưng
chiến tranh đă ập đến. Cuộc tranh chấp năm châu thế giới đă ̣a ập
xuống đầu một dân tộc nhỏ bé, trên quê hương mong manh trăng tơ và
nắng lụa:
Xa
nghe đợt gió lên cơn băo
Nhân
loại quay cuồng biến đổi sâu
Bầy
chó năm châu cắn sủa rộ
Quỷ
ma cười khóc rợn đêm thâu...
Thơ
Tuyển, tr. 46
Tiếp
theo là h́nh ảnh con chó, trong bài Mùa Hạn , 47 khổ, làm
trong trại tù Nghệ Tĩnh, năm 1979 :
Làng
mạc giờ đây đă trống trơn
Con dê con chó
cũng không c̣n
Người
đi bỏ xác nơi bờ bụi
Miếu
sạt, thần hoàng rũ héo hon
Con chó không c̣n, nhưng
vẫn c̣n tiếng tru rân:
Cái
chết tru rân giờ nguyệt tận
Máu
bung từ mỗi lỗ chân lông
Mọi
người nghe chính ḿnh kêu rú
Liệu
sáng mai c̣n ai nữa không ?
Thơ
Tuyển, tr.104-103
Sau
13 năm tù, tác giả sang định cư tại Hoa Kỳ từ 1993. Bài Nhà Xưa,
Lửa cất ủ, trong Thắp Tạ, gồm 21 đoạn, làm năm 1997 :
Nghe
trong xanh thẳm thời gian
Dai dẳng
Tiếng
con chó nhỏ bên hè
Sủa
bóng trăng lu
...
Bàn
thờ nhện giăng
Nói
chi cơm cúng
Tội
cho hồn con chó nhỏ vẫn nằm chờ
Mơ
màng người chủ vừa ra đi.
Đây
là cảnh ngộ của nhiều người, tiêu biểu cho một giai đoạn lịch sử.
Nhà thơ gửi thêm vào một hoài niệm riêng:
Em
đứng lại, khóc cựu t́nh sơ ngộ
Nghe
hồn con chó nhỏ quấn mừng em.
Thắp
tạ, tr. 60,62 và 66
Nhưng
rồi con chó già đi, hao ṃn kư ức :
Nắng
mưa thấm thoát đời ta
Mối
mọt căn nhà rệu ră
Đ̣i
phen năm tháng cũ ḍ về
Chó
già lạ hơi sủa
Chuyện
đời như thất thiệt
Vàng
đá c̣n không giữ nổi ḿnh
Biết
nhờ đâu xác chứng ?
... Quê nhà nghe
nói có
Chỉ
dấu t́m không ra
2002, Thắp tạ, tr.100-102
Con chó đeo đẳng măi với
thơ Tô Thùy Yên, càng ngày càng bi thiết. Trong bài mới làm hồi
tháng 5-2005, anh tự xem ḿnh là “Khất giả”:
Chỉ
mong đồng loại chớ xua đuổi
Giờ
này thế giới kín khuya khoắt,
C̣n
cửa nào cho ta gơ đây ?
Lũ
chó sủa rong theo
Quả đáng ngờ vực,
mọi nhân dạng
Câu
cuối chua xót : con người mất xứ sở, mất tài sản tinh thần, may
c̣n tiếng nói tùy thân, mất niềm tin, nơi ḿnh, nơi kẻ khác. Ngờ
vực cả nhân gian, nhân dạng, cả nhân t́nh, nhân tính. Lũ chó sủa
rong theo là một biểu tượng cay nghiệt và cay đắng.
*
Chuyện
ngày Tết, lẽ ra phải vui, nhưng cuộc đời vẫn có chuyện không vui,
cho dù ngày Tết. Trong tiếng Việt, chó là lời nguyền rủa. Thường
thường là nặng nề và oan ức. Con chó tự nó không có ǵ xấu; cái ta
cho là xấu là do con người sai khiến, luyện tập. Trong hoàn cảnh xă
hội đảo điên, lịch sử nghiệt ngă, chó trở thành biểu tượng u uất,
đa nghĩa, như trong đoạn thơ Tô Thùy Yên dưới đây :
Chuyện
kể cốt qua đêm, nề chi chuyện kể lại
Chó
tru, miền xa tối rợn gai
Nơi
hốc đá một cành hoa đợi sáng nở
Đi. Đi qua. Đi qua nữa.
Đi qua nữa nữa.
2003,
Thắp tạ, tr. 116
Làm nhớ thơ Phùng Cung :
Chạng vạng chiều – rơi
Trên xóm nhỏ
Con chó hoang
Ngoạm vành khăn tang
Rượt theo ḷng xóm
Tới ngă ba - nhớn nhác
Lại cắm đầu rượt tiếp
Phía trước mặt trời đang
tắt
Vầng trăng đang mọc phía
sau
(bài Chạng Vạng)
Những lời thơ thống thiết.
Nhưng vẫn c̣n lóe lên một tia hy vọng, với một cành hoa đợi sáng
nơi Tô Lang hay vầng trăng đang mọc phía sau của Phùng
Quân
*
Chúng ta đă thấy con chó gắn
bó thế nào với con người, văn học và lịch sử Việt Nam. V́ gắn bó, nó
thành liên đới và chia sẻ số phận với con người. Mà không cứ ǵ là
người Việt Nam.
Chó làm bạn, làm đồng minh
với nhân loại từ 15.000 năm nay, khắp nơi trên mặt đất. Chó thời
tiền sử giúp con người săn bắt, bồi dưỡng chất đạm cho lương thực,
chó canh chừng giấc ngủ an toàn cho chủ nhân. Ăn ngon ngủ yên, con
người gia tăng sức lực, và thảnh thơi hơn, để phát triển kinh
nghiệm, ngôn ngữ, tín ngưỡng, chăn nuôi, nông nghiệp, tổ chức xă
hội, chính trị, kinh tế. Nói khác đi, chó là kết quả, thành phần và
tác nhân của các nền văn minh, văn hóa văn hiến. Dần dà, có lúc, có
nơi người phụ chó, chứ ít khi chó phụ người.
Ngày Tết, nói chuyện chó, là
nhắc lại chút nghĩa cũ càng.
E một mai có ĺa tơ ư...
Đặng
Tiến
Tết
Bính Tuất,
Orléans,
22/01/2006
(*) Bài có gửi đăng Diễn đàn số tháng 2-2006
|