WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   
[2006/200602/include/sobao.htm]

 BRI-TÊN GIÚP PHÁP TÁI CHIẾM MIỀN NAM

 1945-1946 (*)

Vũ Ngự Chiêu

 

Như đă lược thuật, ngày 24/7/1945, Hội Đồng Tối Cao Quân sự Đồng Minh tại Potsdam quyết định chia Đông Dương làm hai vùng hoạt động–phía Bắc vĩ tuyến 16 là vùng hoạt động của Trung Hoa; và phía Nam giao cho Bri-tên. Sự phân chia này, ngoài vấn đề thể diện của Thống chế Tưởng Giới Thạch, phần nào nhằm giải quyết hiềm khích giữa Tướng Albert C. Wedemeyer, Tư lệnh lực lượng Mỹ tại Trung Hoa kiêm Tổng Tham Mưu trưởng của Tưởng Giới Thạch từ năm 1944, và Đô Đốc Louis Mountbatten, Tư lệnh Bri-tên tại Đông Nam Á. Nhưng trên lănh vực chính trị, nó gây nhiều vấn nạn. Một mặt, phe Bri-tên và Pháp không hoàn toàn thoả măn: Cả hai chẳng bao giờ coi Trung Hoa có cùng vai vế cường quốc thế giới; và, chia cắt Đông Dương có nghĩa tạo thêm rắc rối cho Pháp trong việc tái chiếm thuộc địa này. Mặt khác, Tướng Wedemeyer và Đại sứ Patrick J. Hurley cảm thấy thất vọng, v́ họ hiểu rơ tham tâm thuộc địa của cả Pháp lẫn Bri-tên. Hơn nữa, những tổ chức người Việt kháng Pháp từng hợp tác với Mỹ hoặc Trung Hoa, coi đây là một sự bội ước của Đồng Minh. Đó là chưa nói đến uy tín của Liên Bang Mỹ đối với thế giới thứ ba nói chung và Đông Nam Á nói riêng: Thời gian này, Mỹ được coi như cứu tinh của cả thế giới. Ngay chính Hồ Chí Minh cũng hơn một lần ca ngợi Mỹ như “cứu tinh của các quốc gia” và “nhà vô địch về dân chủ.” (1) Cách nào đi nữa, quyết định chia Đông Dương làm hai vùng chiếm đóng không thể thay đổi. Những phe phái liên hệ bắt buộc phải t́m ra phương cách để thi hành.

 

I. QUÂN BRI-TÊN Ở MIỀN NAM: 

Giữa lúc Hội nghị Potsdam đang diễn ra ở Germany, Đảng Lao Động (Labour) đả bại đảng cầm quyền của Winston Churchill tại Bri-tên. Clement Attlee được cử làm Thủ tướng, và Ernest Bevin thay Anthony Eden ở Bộ Ngoại giao. Ngày 20/8/1945–tức năm ngày sau khi Nhật chính thức đầu hàng–Bevin đọc một diễn văn quan trọng trước Hạ viện Bri-tên. Trong diễn văn này, Bevin chỉ chú trọng vào triển vọng kinh tế hậu chiến hoàn cầu. Về Viễn Đông, Bevin không hề nhắc đến Đông Dương. Sự im lặng này phần nào làm nổi bật quan điểm của Bevin: Đông Dương là vấn đề nội bộ của Pháp, một đồng minh mà Bevin muốn có giao t́nh đẹp đẽ nhất.( 2)

Trên phương diện tuyên truyền, chính phủ Attlee nhiều hơn một lần khẳng định Bri-tên chỉ chiếm đóng quân sự Đông Dương trên danh nghĩa Đồng Minh, và không can thiệp vào nội t́nh xứ này. Ngày 11/10/1945, sau khi Bộ trưởng Chiến tranh John L. Lawson tuyên bố rằng Bri-tên có “bổn phận với Pháp và Dutch [Hoà Lan] trong việc đối xử với các chính phủ bù nh́n người An-nam và Indonesia,” Attlee hết sức bênh vực là báo chí thuật không đúng sự thực.

Thực ra, vị thế “không can thiệp vào nội t́nh Đông Dương” là một thủ thuật chính trị, và một cách “chơi chữ” của Bri-tên. Nó hàm ư mặc nhiên công nhận chủ quyền Pháp, chẳng cần đề cập hay thảo luận thêm. Công hàm ngày 16/8 của Đại sứ Bri-tên tại Trùng Khánh gửi Ngoại Kiều Phủ phản ảnh rơ điều này–London yêu cầu Trung Hoa xác nhận rằng “mục tiêu chung của hai chính phủ nhằm tái thiết lập chính quyền Pháp ở Đông Dương và tạo điều kiện cho sự trở lại của quân đội và viên chức hành chính Pháp càng sớm càng tốt.”( 3)

Măi tới ngày 24/10, sau khi Pháp đă tái chiếm Sài G̣n và các tỉnh lÿ quan trọng ở miền Nam, Ngoại trưởng Bevin mới công khai tuyên bố:

Đă có sự hợp tác chặt chẽ và thân thiện giữa các cấp chỉ huy Bri-tên và Pháp [trong việc tái chiếm Việt Nam]. Đồng thời, mọi nỗ lực [của Bri-tên] đă thực hiện nhằm đẩy mạnh việc chuyển vận quân Pháp vào Sài G̣n cho đầy đủ nhân số hầu giúp họ thay thế quân Bri-tên. [Nguyên văn: There has also been close and friendly co-operation between the British and French Commanders. In the meanwhile, every effort is being made to expedite the movement of French troops to Saigon in sufficient numbers to enable them to take over from the British forces]. (4) 

Phụ Bản I.

No.4: Statement made by the Foreign Secretary in the House of Commons, 24 October, 1945

In Indo-China as in Java the Japanese followed a policy of encouraging the growth of nationalism and with Japanese backing and arms nationalist groups were able in August last to establish what has become known as the Viet-Nam Republic, comprising the coastal territories of Tonkin, Annam and Cochin China.

After the Japanese general surrender, responsibility for disarming and controlling all Japanese forces and for releasing and evacuating A1lied prisoners of war and internees in Southern Indo-China up to the boundary between South-East Asia Command and the China Theatre, which for operational purposes had been established along the para1lel of 16th N., revolved on forces under Admiral Mountbatten's command.

Unfortunately, in fulfilling the primary task entrusted to him, the British Force Commander in Indo-China, General Gracey, found himself obliged to contend with continual looting and attacks by Annamite armed bands on [54] French civilians and property and with conflicts between these bands and the French forces under his command. On General Gracey's advice, the senior French officer agreed to meet Annamite representatives and arrangements were made for a truce to run from the 2nd October. In face of the evident inability of the Annamite leaders to exercise efIective control over their own armed forces, General Gracey warned them on the 5th October that should their forces break the truce he would have no option but to take whatever steps might be necessary to ensure the proper execution of his task. There has been sporadic fighting involving British forces in the outskirts of Saigon.

As stated by the Prime Minister in reply to a question on the situation in Java on the 17th October His Majesty's Government do not desire to be unnecessarily involved in the administration or in the political afIairs of non-British territories, and their object is to withdraw British troops as soon as circumstances permit. As the House is no doubt aware, the French Government, in a declaration of policy issued on the 24th March last, promised a wide measure of autonomy to Indo-China, and I should like to take this opportunity of informing the House that this liberal attitude on the part of the French Government has been reflected in the very conciliatory manner in which the local French representatives have dealt with the Annamite leaders. There has also been close and friendly co-operation between the British and French Commanders. In the meanwhile, every effort is being made to expedite the movement of French troops to Saigon in sufficient numbers to enable them to take over from the British forces.

Treaty Series No.5 (1942) ”, Cmd. 6388. 

Thực ra, từ đầu tháng 8/1945, Bộ Tổng Tham Mưu Bri-tên đă cho Mountbatten những lệnh rơ ràng về Đông Dương. Đó là kiểm soát Thống chế Terauchi Juichi (1879-1946) và Bộ Tư lệnh Lộ Quân miền Nam; quân Bri-tên không cần chiếm đóng nhiều lănh thổ hơn các vị trí cần thiết để thực hiện mục tiêu này; sau đó, sẽ triệt thoái khi tất cả quân Nhật bị giải giới, tập trung, và tù binh Đồng Minh đă hồi hương. Nói cách khác, nhiệm vụ của quân Bri-tên chỉ thuần có tính cách quân sự, và tạm thời–các lực lượng quân sự cùng viên chức hành chính Pháp sẽ chịu trách nhiệm cai quản miền Nam Đông Dương, kể cả những vùng quan trọng mà quân đội Bri-tên được lệnh hoạt động. Như thế Leclerc phải được khuyến khích, và yểm trợ, để kiểm soát miền Nam Đông Dương càng sớm càng tốt. [Nguyên văn: My specific instructions from the Chiefs of Staff were to secure control of the Supreme Headquarters of the Japanese Expeditionary Forces of the Southern Regions: the Headquarters of Field-Marshal Count Terauchi, which was now located in Saigon. . . . that my forces were not to occupy more of French Indo-China than would be necessary to ensure this control; and that they should be withdrawn as soon as their military task – the round-up and disarming of the Japanese, and the Recovery of Allied Prisoners of War and Internees – was completed. . . . that French forces, with Civil officials, would be responsible for the administration of the country, Civil administration being carried out by the French even in the key areas in which my forces would be operating]. (5) 

V́ hiểu rằng London cho Pháp toàn quyền sử dụng mọi phương tiện cần thiết để tái lập chủ quyền tại Đông Dương, Mountbatten sốt sắng yểm trợ. Không những liên tiếp yêu cầu Bộ Tổng Tham Mưu Bri-tên giúp phương tiện đưa hai Sư đoàn Pháp qua Đông Dương càng sớm càng tốt, Mountbatten c̣n đề nghị sẽ giúp Pháp thêm hai sư đoàn Bri-tên để văn hồi an ninh trật tự, nhưng Leclerc từ chối. Mặt khác, Mountbatten cho phép “Đại tướng” Douglas D. Gracey, Tư lệnh lực lượng chiếm đóng Đông Dương, thi hành một số biện pháp “đặc biệt” để duy tŕ an ninh và trật tự. Những biện pháp này gồm cả sử dụng tù binh Nhật, và tung quân Bri-tên tiến chiếm những địa phương không được liệt kê là mục tiêu quan trọng, rồi giao cho Pháp–một vi phạm trầm trọng qui ước quốc tế về tù binh. Để bảo vệ quyết định của ḿnh, Mountbatten biện minh:

Ngoài những vùng quan trọng [tức Sài G̣n], Việt Minh hoàn toàn làm chủ Nam Đông Dương. Chính phủ Pháp đă đề nghị cho dân An-nam được tự trị theo giai đoạn; nhưng dân An-Nam tuyên bố ư định thực hiện độc lập tức khắc–bằng vơ lực nếu cần. Ngày 2/9, trước khi lực lượng SEAC tới, một vụ bạo động lớn xảy ra, may nhờ sự can thiệp dũng cảm của các tù binh chiến tranh gốc Bri-tên và Australia, cùng một số sĩ quan thuộc đoàn Hồi hương Tù binh Chiến tranh Đồng Minh và Kiểm soát Tù binh đă có mặt. Ngày 17/9, ngày mà nền độc lập của Cộng Hoà Việt Nam được tuyên bố [sic], Việt Minh cho lệnh cấm họp chợ, và lao công tẩy chay các chủ nhân người Pháp. Những cuộc đụng độ lẻ tẻ xảy ra trong thành phố; nhưng phần lớn không có tính cách chính trị, do bọn tệ đoan [hooligans] muốn lợi dụng cơ hội hỗn loạn để làm càn. Sự nghiêm trọng là ở chỗ không có luật pháp và đảng Việt Minh (tự nhận là có quyền chỉ huy) chẳng có biện pháp nào để duy tŕ trật tự. [Nguyên văn: 24. Outside the key areas. the Viet Minh were in complete control in Southern French Indo-China. The French Government had offered the Annamites the attainment of self-government by stages; but the latter had declared their intention of achieving immediate independence – if necessary, by force. On the 2nd September, before the arrival of S.E.A.C. forces, a serious riot had taken place, which had only been prevented from assuming grave proportions by the courageous action of released British and Australian prisoners of war, who were unarmed, and of the few Repatriation of Allied Prisoners of War and Internees Control officers who had already been flown in. On the l7th September, the day on which the independence of the Viet-Nam Republic was declared [sic], the Viet Minh closed the markets in Saigon and a boycott of all French employers was enforced. Sporadic fighting took place in the town; but this was mainly unpolitical, and was engaged in by hooligans [49] profiting from the prevailing atmosphere of unrest. The seriousness of the situation, however, lay in the fact that no legal writ ran; and that the Viet Minh party (who claimed to be in control) were taking no steps to see that order was maintained]. (6)

 

Mountbatten c̣n thêm rằng Việt Minh luôn luôn gây khó khăn cho Pháp, và trong thời gian thế chiến, đă được Nhật bảo trợ. Bởi thế, để ngăn ngừa bạo động, và với sự chấp thuận của Bộ trưởng Chiến tranh Lawson, Mountbatten cho lệnh các cấp chỉ huy Bri-tên và Pháp phải thương thuyết với Việt Minh, trong khi chờ đợi viện binh Gurkha và Pháp.

Chẳng hiểu Mountbatten đă t́m đâu ra những chi tiết khá sai lầm về Việt Minh–như ngày tuyên bố độc lập 17/9/1945–nhưng nhiệt t́nh giúp Pháp tái chiếm Đông Dương của Mountbatten là điều khó chối căi. Các quan tướng Pháp đều nh́n nhận hảo ư này.( 7)

Để trợ giúp Pháp hữu hiệu hơn, Tư lệnh Lục quân SEAC là Tướng William J. Slim đích thân chọn Gracey và Sư đoàn 20 Gurkha, một đơn vị từng tham chiến ở Burma [Miến Điện]. Gracey, ngoài chức vụ Tư lệnh lực lượng chiếm đóng, được kiêm thêm chức Chủ tịch Ủy ban Kiểm soát Sự Đầu hàng của Nhật Số 1. Theo dự trù, Gracey sẽ cùng 1,200 lính Gurkha thuộc Lữ đoàn 80 tới Sài G̣n trong hai ngày 12 và 13/9/1945.( 8)

Ngày 4/9–tức hai ngày sau vụ bạo động ở Sài G̣n, khiến 2 người Pháp chết, và 19 bị thương–Gracey cùng đại diện Pháp là Đại tá A. H. Martin gặp đại diện Nhật tại Rangoon, để bàn về chi tiết kế hoạch giải giới quân Nhật. Trong hội nghị kéo dài tới ngày 5/9 này, Gracey cho lệnh chính cá nhân Thống chế Terauchi, Tư lệnh Lộ Quân Miền Nam, phải chịu trách nhiệm duy tŕ trật tự, cũng như bảo vệ an ninh cho người Pháp. Ngày 13/9, khi rời Singapore qua Sài G̣n, Gracey khẳng định:

Vấn đề chính quyền ở Đông Dương là riêng của Pháp.... Kiểm soát dân sự và quân sự là riêng của Pháp.( 9) 

Ngày hôm trước, một tiểu đoàn Gurkha cùng một đơn vị biệt động (commando) Pháp đă tới Sài G̣n. Trong khi các sĩ quan Biệt động Pháp dưới quyền Trung tá Rivier cùng Jean Cédile–đại diện Calcutta, đă nhảy dù xuống Tây Ninh từ ngày 22/8, rồi được Nhật dẫn về Sài G̣n tổ chức Ủy Ban Tiếp đón Đồng Minh–ráo riết chuẩn bị cướp chính quyền tại Sài G̣n, Gracey cho lệnh Lâm Ủy Hành Chính Nam Bộ phải rút khỏi mọi công sở, kể cả Dinh Thống đốc Nam Kỳ.( 10)

Gracey cũng cảnh cáo toán OSS Mỹ của Trung Tá A. Peter Dewey về việc liên lạc với “bọn phản loạn,” chỉ thị phải ngưng mọi hoạt động và cấm treo cờ Mỹ trên xe Phái đoàn OSS, tức Embankment, của Dewey đă tới Sài G̣n ngày 3/9/1945. Dewey cũng đă môi giới cho Pháp và Việt Minh gặp nhau trong tháng 9/1945.( 11)

Xứng đáng được chính phủ Pháp ban thưởng Bắc đẩu Bội Tinh hơn nữa là Gracey c̣n chấp thuận tái trang bị quân nhân Pháp đă bị Nhật cầm tù, chuẩn bị đánh đuổi Việt Minh khỏi Sài G̣n.

 

A. CUỘC ĐẢO CHÍNH 22-23/9/1945:

Thái độ của Gracey lập tức tạo nên phản ứng cứng rắn từ phía Việt Minh, những phản ứng có lẽ không ngoài điều Mountbatten và Gracey dự tính.

Báo chí Việt tại Sài G̣n và Hà Nội nhất loạt phản kháng hành động của “Anh” (tức Bri-tên) và bày tỏ quan điểm chống Pháp. Từ chiến dịch Meigo (9-10/3/1945), nỗ lực tuyên truyền độc lập của Nhật và chính phủ Trần Trọng Kim (4-8/1945) đă đun sôi tinh thần yêu nước và nhu cầu độc lập trong mọi giới, đặc biệt là thanh niên, trai tráng thị dân. Cuộc “cách mạng từ trên xuống” này được hỗ trợ bằng một cuộc cách mạng khác, “từ dưới lên,” do Đảng Cộng Sản Đông Dương và chính phủ Hồ Chí Minh phát động từ ngày 17/8/1945 khiến các thành thị Việt Nam trở thành “ḷ lửa cách mạng,” sôi động tinh thần chống Pháp nói riêng và bài ngoại nói chung. Ngay đến những tổ chức đen ngoài xă hội như B́nh Xuyên cùng cựu phạm nhân h́nh tội của các ngục thất Pháp-Nhật cũng bị lôi cuốn vào cơn sốt cách mạng, với bạo lực là chủ tể. Lần đầu tiên sau gần trăm năm Pháp thuộc, bạo lực được vinh danh. Những người được giao phó trách nhiệm cắt cổ, mổ bụng, khoét mắt, cho nạn nhân “ṃ tôm” được mang những tước hiệu cao quí như đoàn “Việt Hùng” hay “Tự Vệ.”

Cuộc bạo động ngày 2/9/1945 ở Sài G̣n trong khu vực nhà thờ Đức Bà chỉ là biến cố đầu tiên có tiếng vang quốc tế nhờ những phóng viên Tây phương hiện diện, và cũng phần nào do các cơ quan tuyên truyền Pháp, Bri-tên và Việt Nam khuếch đại lên do những mục tiêu khác nhau. Nhân buổi lễ tuyên bố độc lập của Hồ Chí Minh này, một số Pháp kiều– để giải tỏa nỗi phẫn hận và khủng hoảng tinh thần từ tháng 3/1945–đă trực diện đương đầu các toán Tự Vệ Việt. Mặc dù vai tṛ của Đại tá Cédile và các tổ chức “Pháp tự do” chưa được rơ ràng, kết quả là 2 Pháp kiều chết, 19 người khác bị thương. Phần người Việt, 2 chết, trên 20 bị thương.( 12)

Cán bộ Việt Minh đă khéo léo tận dụng cơn sốt độc lập và bạo lực này để đương đầu với Gracey. Ngày 14/9, Việt Minh tổ chức biểu t́nh rầm rộ tại Hà Nội và Sài G̣n. Phạm Văn Bạch (1910-1987)–mới nhậm chức Chủ tịch Lâm Ủy Hành Chánh 6 ngày trước (13)–công khai lên án Pháp và Bri-tên âm mưu vi phạm nền độc lập của Việt Nam. Ba ngày sau, 17/9, Bạch ra lệnh đ́nh công băi thị.

Gracey càng mạnh tay hơn, Gracey đề nghị lên Mountbatten một số biện pháp cấp thời để “văn hồi trật tự”–tức sử dụng tù binh Nhật và qui trách nhiệm cho chính Terauchi; đồng thời, yêu cầu gửi ngay toàn bộ Sư đoàn 20 tới Sài G̣n.( 14)

Cũng trong ngày 17/9, các viên chức Bri-tên và Pháp bàn về dự thảo Bản Tuyên Cáo số 1 của Gracey, dự trù sẽ ban hành ngày 19/9/1945. Qua ngày 18/9, các đơn vị Lữ đoàn 80 Gurkha hoàn tất việc thay thế quân Nhật tại các chốt quan trọng như nhà hàng Continental, khách sạn Majestic và khu vực hành chính. Phần Biệt động Pháp cũng chiếm được một số vị trí cần thiết để khởi đầu việc hành chính.( 15)

Tối đó, Cédile mật báo với Gracey đă kiểm soát được kho đạn, và trong ngày sẽ phát vũ khí cho 1,500 Pháp kiều. Ngày hôm sau, 19/9, Tướng Slim tới Sài G̣n đích thân thông báo cho Gracey biết Mountbatten đă chấp thuận mọi đề nghị của Gracey. Chiều đó, Cédile vào gặp Gracey và yêu cầu giúp sức v́ có tin Việt Minh đang chuẩn bị chiến tranh. Gracey bèn cho lệnh quân Bri-tên tiến chiếm tất cả các công sở do Việt Minh giữ. Cùng ngày, Gracey chấp thuận dự thảo “Thông cáo số 1,” gồm những điểm chính sau:

1...... Quan Đô đốc Lord Louis Mountbatten Tổng tư lịnh các đạo quân Đồng Minh tại Đông Nam Á Châu ... đă giao quyền cho ta là Đại tướng D.D. Gracey ... cai quản tất cả quân đội (Anh, Pháp và Nhựt) cùng các đội bảo an hoặc quân đội khác.

2. Mỗi người phải hiểu rỏ rằng: Ta nhất định sẽ dùng các phương pháp một cách trung lập đến triệt để đặng mà thi hành sự trần thuật ôn hoà trong thời kỳ giao thời giữa buổi chiến tranh và lúc hoà b́nh ...

3. Thay mặt cho quan Tổng Tư lịnh quân đội Đồng Minh, Ta bảo cho tất cả dân chúng phải hợp tác một cách triệt để mà thực hành cái mục đích đă nói trên. Luôn đây Ta bảo cho những kẻ bất lương nhứt là trộm cướp ... biết rằng: chúng sẻ bị tữ h́nh ngay.

4. Nhửng lịnh sau đây sẻ thi hành lập tức:

a. không được phép tổ chức cuộc biểu t́nh và cuộc biểu diễn nào hết.

b. không được hội hợp đâu hết.

c. không được phép mang vỏ khí bất kỳ là thứ nào cho đến gậy, giáo, tầm vông, vọt nhọn ., vân vân.. trừ ra quân đội Anh và Đồng Minh và các quân đội nhà binh hay là Bảo An có Ta cho phép riêng mới được.

d. Thiết quân luật theo lịnh Ta mà nhà binh Nhật đă buộc ở trong châu thành SAIGON-CHOLON từ 21 giờ rưởi cho đến 5 giờ rưởi sáng sẽ c̣n thi hành và quang soát một cách nghiêm nhặt.

Saigon, le 19 Septembre 1945

Kư tên: D. D. Gracey

Quan Tổng Tư lịnh lục quân Đồng Minh

Đóng ở miền nam Đông Dương

 

Phụ Bản II

No.2 Proclamation issued by General D. D. Gracey, Saigon, 21 September, 1945

I. With the unconditional surrender to the Allied Nations by all Japanese Forces signed in the name of the Emperor of Japan at Tokyo on 2nd September, 1945, the Supreme Allied Commander of all Allied Forces in South-East Asia Command, Admiral Lord Louis Mountbatten, G.C.V.O., K.C.B., D.S.O., has delegated to me, General D. D. Gracey, C.B., C.B.E., M.C., the Command of all British, French and Japanese forces and all police forces and armed bodies in French Indo-China south of 16th latitude with orders to ensure law and order in this area.

2. Let it be known to all that it is my firm intention to ensure with strict impartiality that this period of transition from war to peace conditions is carried out peaceably with the minimum dislocation to all public and utility services, legitimate business and trade, and with the least interference with the normal peaceful activities and vocations of the people.

3. I call on all citizens in the name of the Supreme Allied Commander to co-operate to the fullest extent to achieve the above object and hereby warn all wrongdoers especially looters and saboteurs of public and private property and those also carrying out similar criminal activities, that they will be summarily shot. [53]

4. The fo1lowing orders will come into immediate effect.

A. No demonstrations or processions wi1l be permitted.

B. No public meetings wi1l take place.

C. No arms of any description, including sticks, staves, bamboo spears, etc., wi1l be carried except by British and A1lied troops and such other forces and police which have been specia1ly authorised by me.

D. The curfew already imposed on my orders by the Japanese authorities between 21.30 and 05.30 hours in Saigon and Cholon will be continued and strictJy enforced.

 

Tuy nhiên, thông cáo này chưa được yết thị ngay. Gracey chỉ gửi một bản cho Phạm Văn Bạch, cùng thư cảnh cáo rằng sẽ không khoan hồng bất cứ một cuộc tẩy chay hay đ́nh công, băi thị nào. Cùng ngày, quân Bri-tên nắm quyền kiểm soát các nhà tù. Tất cả các nhà in cũng bị lục soát để bảo đảm rằng báo chí tiếng Việt không xuất bản được.

Bạch và Lâm Ủy Hành Chánh chẳng có biện pháp nào khác hơn là xuống “Hịch” cho lệnh “tổng băi công” và chuẩn bị kháng chiến, cùng di tản đàn bà, con trẻ khỏi thành phố.( 16)

Ngày Thứ Sáu, 21/9, Bạch ra lệnh đ́nh công băi thị ở Sài G̣n/ Chợ Lớn. Gracey cũng chính thức niêm yết Cáo thị số 1. Đồng thời, cho phép Trung Tá Rivier vào các trại tập trung tù binh Pháp thuộc Trung đoàn 11 Thuộc địa, tổ chức 12 đại đội tác chiến, với quân số khoảng 1,400 người.

Qua ngày Thứ Bảy, 22/9, quân Pháp chiếm nhà tù, bưu điện, ty cảnh sát Sài G̣n. Một số nhân vật thân Pháp–như Nguyễn Văn Tâm (1895-?), Jean Léon Leroy–được phóng thích. Rivier cũng hoàn tất việc trang bị vũ khí cho 12 đại đội của Trung đoàn 11 Bộ binh thuộc địa.

Rồi mờ sáng Chủ Nhật, 23/9, Pháp chiếm Sài G̣n. Quân Bri-tên giữ an ninh ở Chợ Lớn.( 17)

Lâm Ủy Hành Chính phải di tản ra ngoại ô, nhưng các đơn vị Tự vệ và Vệ quốc vẫn chốt chặn quanh Sài G̣n-Gia Định. Buổi chiều, Gracey băi bỏ lệnh giới nghiêm. Khoảng 20,000 Pháp kiều hớn hở ăn mừng chiến thắng bằng cách sỉ nhục và hành hung bất cứ người Việt nào họ gặp mặt trên đường. Hung hăng nhất là một nhóm thanh niên lai Tây, cánh tay bạo lực của phong trào tự trị sau này.

Chiến thắng dễ dàng trên khiến Mountbatten điện về London khen ngợi Gracey, đồng thời đưa ra hai kế hoạch hành động–một, chính phủ Bri-tên tuyên bố chấp thuận tuyên cáo của Gracey và cho phép duy tŕ chính quyền quân quản khắp Nam Đông Dương; hoặc, vẫn chỉ giới hạn trong việc kiểm soát Lộ quân miền Nam của Nhật. Mountbatten muốn thực hiện kế hoạch thứ nhất, v́ trong buổi họp ngày 23/9, Leclerc khẳng định là chưa muốn nắm quyền chỉ huy quân sự cũng như dân sự, v́ quân số Pháp c̣n quá ít.

Trong khi đó, Sài G̣n ngày thêm ngột ngạt sắt máu. Các lực lượng vơ trang Việt t́m cách chống lại liên quân Pháp-Bri-tên. V́ vũ khí thô sơ, mục tiêu dễ dàng nhất của họ là những Pháp kiều hoặc bất cứ người da trắng nào.

Ngày 24/9, Gracey cho lệnh Nhật phải mang đại diện Việt Minh tới thương thuyết về vấn đề an ninh, trật tự.( 18)

Trước khi rút khỏi Sài G̣n, mờ sáng ngày 25/9, lực lượng B́nh Xuyên tấn công cư xá Hérault [Heyraud] tại Tân Định. Vài ba người Pháp bị giết, khoảng 50 người bị bắt làm con tin; rồi bị giết. Để hâm nóng dư luận quốc tế, các cơ quan tuyên truyền Pháp đưa số nạn nhân lên “hàng trăm” Pháp kiều vô tội. 10 giờ sáng hôm đó, Gracey bắt Trung tướng Numata phải chịu trách nhiệm giữ an ninh.

Hôm sau, 26/9, Gracey gọi Terauchi vào Dinh Norodom, để nhận lệnh thẳng tay đàn áp, bắn giết người An-na-mít nếu cần, hầu bảo vệ an ninh cho ngoại kiều ở Sài G̣n cũng như sinh mạng những nguời mới bị bắt giữ làm con tin. Gracey c̣n nhấn mạnh rằng đích thân Terauchi sẽ phải chịu trách nhiệm, và việc hồi hương quân Nhật tùy thuộc vào việc “hợp tác toàn diện” để bảo vệ an ninh cho Đồng Minh. Gracey cũng bắt Terauchi rời Đà Lạt xuống Sài G̣n để trực tiếp điều khiển thuộc hạ. Terauchi chẳng có biện pháp nào khác hơn là tuân lệnh; dù trước đó, ngày 21/9, Tham Mưu Trưởng của Terauchi đă chọn giải pháp tự tử v́ không đang tâm giúp Pháp tái chiếm Việt Nam theo l65nh Gracey. Ngày này, lần đầu tiên lính Nhật dùng súng cối chống lại Việt Minh.( 19)

Trong khi đó, tại Singapore, Mountbatten và Lawson họp mật với Leclerc về Đông Dương. Trước thế mỏng về quân sự, Mountbatten quyết định đẩy mạnh việc chuyển quân Pháp và hai lữ đoàn c̣n lại của Sư đoàn 20 Gurkha vào Nam bộ.

Mountbatten c̣n gọi Gracey và Cédile qua Rangoon báo cáo t́nh h́nh. Sau đó, chỉ thị Cédile t́m cách hoà đàm, chờ đại quân của Leclerc đổ bộ.

Trong báo cáo lên Leclerc, Cédile cũng nhấn mạnh cần gửi gấp đại quân qua Đông Dương, v́ theo Cédile,

Cuối cùng, ư kiến nhất trí được lập lại với tôi suốt từ ngày đầu đặt chân tới đây là bọn An-na-mít không thể chống cự được trước sức mạnh, và cần chứng tỏ sức mạnh đó hầu lôi kéo những người ôn hoà về phía chúng ta. [Nguyên Văn: “Enfin, l'avis unanime qui m'était répété depuis mon arrivée était que les annamites ne tiendraient pas devant un simple déploiement de forces et qu'il suffisait de se montrer pour que les modérés, tous les gens bien viennent à nous.” ] (20) 

Thời gian này, một tai nạn xảy ra vào trưa ngày 26/9 gây tử thương cho Trung tá Dewey, trưởng toán Embankment của OSS Mỹ. Phái đoàn Embankment đă từ Karachi đến Sài G̣n từ thượng tuần tháng 9/1945, với nhiệm vụ truy t́m tù binh Đồng Minh và tội phạm chiến tranh. V́ vậy, Dewey và nhân viên OSS đă tiếp xúc mọi giai tầng xă hội, kể cả đại diện Việt Minh. Các viên chức Pháp không hài ḷng, nhiều lần khiếu nại, nên Dewey bị triệu hồi. Trong khi chờ đợi phi cơ rời Sài G̣n, Dewey bị phục kích chết trên đường từ phi trường về trụ sở OSS, thi hài bị mất tích. Cuộc điều tra của OSS cho biết Việt Minh đă giết Dewey, v́ muốn giết bất cứ người da trắng nào, nhưng Gracey lại không cho phép trương cờ Mỹ. Nhiều năm sau, một người tị nạn Việt ở Pháp tuyên bố nhóm sát nhân thuộc một toán Thanh Niên Tiền Phong do Mười Cương và Bảy Tây cầm đầu. Có người chứng thấy Bảy Tây đeo khẩu súng Colt 12 của Dewey. Riêng xác Dewey bị ném xuống giếng phi tang, rồi sau đó dời qua An Phú Đông.( 21)

Cái chết của Dewey rúng động Hà Nội. Trong thư gửi Truman ngày Thứ Bảy, 29/9/1945, Hồ đích thân xin lỗi chính phủ Mỹ, giải thích là chỉ biết tin cái chết của Dewey qua đài phát thanh Sài G̣n ngày 27/9. V́ Sài G̣n đang nằm trong tay quân Bri-tên, chưa thể điều tra rơ ràng, chỉ hy vọng không đúng sự thực. Hồ cũng yêu cầu từ nay cho biết trước sự di chuyển của kiều dân Mỹ, và bày tỏ ḷng tri ơn “Liên bang Mỹ bảo vệ công lư quốc tế và ḥa b́nh.” Hồ c̣n cam đoan với Tướng Philip E. Gallagher–cố vấn trưởng của Lư Hán, Tư lệnh lực lượng Trung Hoa giải giới quân Nhật ở phía Bắc vĩ tuyến 16, kiêm Trưởng đoàn liên lạc Mỹ–rằng nếu ở miền Bắc, thủ phạm phải bước qua xác Hồ.( 22) Sau đó, Trần Văn Giàu và Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt) bị gọi ra Bắc.

Mountbatten cũng lập tức chỉ thị cho Gracey và Cédile tiếp xúc ngay với Việt Minh. Ngày Thứ Bảy, 29/9, Ủy viên Ngoại Giao Phạm Ngọc Thạch viết thư cho Gracey yêu cầu hạn định thời gian và địa điểm gặp gỡ. Ngày 1/10, Gracey và Cố vấn chính trị là H. N. Brain gặp mặt đại diện Việt Minh lần đầu tiên. Hai bên đồng ư ngưng bắn để thương thuyết.( 23) Nhưng thực tâm Bri-tên chỉ muốn kéo dài thời gian, chờ viện quân. Ngày 5/10, Gracey cảnh cáo là Việt Minh sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu vi phạm hưu chiến. Nhưng Việt Minh khó thể tuân hành, v́ tin quân Pháp sắp đổ bộ như những tia lửa điện truyền vào bầu không khí đầy hỗn hợp khí đốt.

Cédile cũng gặp đại diện Việt Minh ngày 3/10; nhưng trở thành cuộc đối thoại giữa người điếc–Lâm Ủy Hành chánh đ̣i liên quân Pháp và Bri-tên phải rút về những vị trí trước ngày 23/9; trong khi Cédile chỉ mong chờ tăng viện. Ngày 6/10, sau khi Leclerc nhảy dù xuống Tân Sơn Nhất, hai bên tạm ngưng họp.

Tưởng cũng nên ghi nhận, ngày 26/9/1945, Hồ Chí Minh nhân danh Ngoại trưởng VNDCCH gửi công điện cho Thủ tướng Attlee phản đối quân Bri-tên đă vi phạm chủ quyền Việt Nam, không thi hành chính sách trung lập mà Liên Hiệp Quốc ủy thác. Tuy nhiên không rơ Bri-tên có phúc đáp hay chăng.( 24)

Phụ Bản III

No.3: Telegram from the Foreign Minister of the Democratic Republic of Viet-Nam to the Prime Minister, 26 September, 1945

Foreign Minister of Viet-Nam Republic to Premier Attlee, London.

The release of French prisoners of war with arms and ammunitions leading to the French attack against Saigon and the arrests of members of the People’s Committee constitutes a great violation of our national rights and is an offense to our national dignity, a non-fulfilment of the mission placed on Commander British Forces in South Indo-China by the United Nations, a failure in the carrying out of the Atlantic Charter(l) and non-observation of attitude of neutrality by the British Disarmament Forces. We therefore lodge a most emphatic protest against such smoke-screening of French aggression and express earnest hope that you would interfere on basis full respect for the indepcndence of Viet-Nam Republic.

 

B. VẾT DẦU LOANG:

Thời gian này, thế lực liên quân Pháp / Bri-tên đă vững mạnh hơn. Ngày 29/9, Lữ đoàn 32 Gurkha tới Sài G̣n, tản ra đóng ở Thủ Dầu Một, Biên Ḥa và Lái Thiêu. Từ London, ngày 1/10, Tổng Tham Mưu trưởng Bri-tên cũng chấp thuận đề nghị của Mountbatten, cho phép Gracey sử dụng quân Gurkha giúp Pháp tái chiếm miền Nam Đông Dương. Một tuần sau, ngày 8/10, đơn vị cuối cùng của SĐ 20 Gurkha (Lữ đoàn 100) tới Sài G̣n. Ngay trong ngày, lính Gurkha chạm súng dữ dội với quân Việt Minh khi mở rộng ṿng đai pḥng thủ ở hướng Bắc.

Về phía Pháp, ngày 3/10, đoàn tàu chở quân tăng viện đă cặp bến Cap St Jacques (Vũng Tàu) hay đang hướng về Sài G̣n. Tàu Richelieu đổ bộ một toán commando (55 người) và 2 đại đội Bộ binh (6 sĩ quan, 100 lính) xuống Cap St Jacques Tàu Triomphant mang theo Trung đoàn 5 RIC tới Sài G̣n.( 25)

Chiều 5/10, sau khi nhận được thư riêng ngày 29/9 của de Gaulle cho lệnh phải đến Sài G̣n càng sớm càng tốt, Leclerc đặt chân xuống Tân Sơn Nhất, rồi tạm trú trong Dinh Gia Long giữa cơn giông nhiệt đới tầm tă. Ba ngày sau nữa, 8/10, Bri-tên và Pháp kư Tạm ước [Minutes] về vấn đề hành chính và tư pháp phía Nam vĩ tuyến 16.( 26)

Hôm sau, 9/10, Leclerc cùng Gracey và Cédile qua Rangoon gặp Mountbatten bàn thảo kế hoạch giải tỏa Sài G̣n. Cũng ngày 9/10, tại London, chính phủ Attlee khẳng định yểm trợ việc Pháp tái chiếm Việt Nam, chấp nhận chính quyền Pháp ở Sài G̣n, và tuyên bố giao quyền cai trị Nam vĩ tuyến 16 cho Pháp. Trong buổi họp cuối cùng với đại diện Việt Minh ngày 10/10 tại Sài G̣n, Gracey báo cho nhóm Phạm Ngọc Thạch biết sẽ mở rộng vùng kiểm soát ra ngoại ô thủ phủ miền Nam. Các đại diện Pháp-Việt cũng nói chuyện lần cuối cùng, sau đó để súng đạn quyết định lẽ thiệt hơn.

Như một vết dầu loang, liên quân Bri-tên, Pháp và tù binh chiến tranh Nhật bắt đầu mở rộng ṿng đai pḥng thủ từ sáng 11/10. Hôm sau, 12/10, chiếm Thủ Dầu Một và Biên Hoà. Ngày 15/10, một số đơn vị của Sư đoàn 9 Thuộc địa, Lữ đoàn Thiết Giáp của Jacques Massu, và Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến trên hai tàu Béarn và Ville de Strasbourg cặp bến Sài G̣n. Ba ngày sau, 18/10, Liên quân Bri-tên/tù binh Nhật chiếm Chợ Lớn. Một tuần sau nữa, Pháp chiếm Mỹ Tho và G̣ Công. Cuối tháng 10, tới lượt Cần Thơ, thủ phủ miền Tây.

Trong những tháng cuối năm 1945 và đầu năm 1946, quân viễn chinh Pháp tái chiếm hầu hết các tỉnh, quận lÿ và trục lộ quan trọng, như Rạch Giá (26/1), Đà Lạt, Phan Rang, Ba Ng̣i, Nha Trang, Ninh Ḥa. Cà Mau, quận lÿ cực Nam, lọt vào tay Pháp ngày 4/2/1946. Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ của Phạm Văn Bạch phải siêu tán ra tận vùng Khánh Ḥa, Tuy Ḥa.

Ngày 31/1/1946–giữa lúc Ṭa Án Quốc Tế Tội Phạm Chiến Tranh đang xét xử các lănh tụ phe Trục, và sau khi hoàn tất nhiệm vụ giúp quân Pháp tái hiện diện ở miền Nam vĩ tuyến 16–Gracey dẫn Sư đoàn 20 Gurkha triệt thoái. Không một thế lực quốc tế nào lên tiếng đ̣i mang Hoàng đế George, chính phủ Attlee cùng những Churchill, Mountbatten hay Gracey ra trước Ṭa án tội phạm chiến tranh. Thế giới năm 1945-1946 là một thế giới của luật kẻ mạnh. Nhiều thập niên sau, Mountbatten c̣n tuyên bố rằng quyết định chia Đông Dương làm hai khu vực giải giới quân Nhật là một “tội,” v́ nếu Trung Hoa không chiếm phía Bắc vĩ tuyến 16, Mountbatten đă giúp ngăn chặn hai cuộc chiến tranh Pháp-Việt, và rồi Mỹ-Việt.( 27)

 

Nhưng chiến thắng quân sự của Pháp trong những tháng cuối năm 1945-1946–đúng như dự đoán của một số quan sát viên khách quan đương thời, và phải nhiều năm sau các cấp chỉ huy Pháp mới nh́n nhận–chỉ ở mặt ngoài, hiệp đầu của một cuộc chiến tranh khốc liệt sẽ đóng góp vào sự thay đổi cuộc diện thế giới. Không thể trực diện đạo quân vũ khí tối tân, Việt Minh phát động chiến thuật du kích. Hầu hết các lực lượng vơ trang không Cộng Sản cũng rút ra bưng kháng chiến. Đáng kể nhất là các đơn vị Ḥa Hảo, Cao Đài và Đệ tam Sư đoàn (Việt Nam Quốc Dân Đảng). Cuộc kháng chiến của quốc dân Nam Bộ ngày một thêm kiên quyết, sắt máu. Trong khi Pháp dần dần làm chủ các quận lỵ, tỉnh lỵ hay thị xă, cùng các trục lộ giao thông chiến lược, vùng nông thôn hầu như bỏ ngỏ cho đủ loại thế lực kháng Pháp. Ngay tại Sài G̣n cũng không bảo đảm an ninh. Những cuộc đột kích, ám sát, bắt cóc tiếp tục xảy ra ngay giữa trung tâm Sài G̣n và các đô thị. Các cơ quan an ninh Pháp phải áp dụng những biện pháp thanh lọc dân hồi cư mà ngay chính một số Pháp kiều cũng phải ta thán là chẳng khác ǵ những thủ đoạn của Hitler đối xử với dân Pháp trong thời gian chiếm đóng.( 27bis)

Phía kháng chiến cũng có những khó khăn riêng. Nhóm Trần Văn Giàu, Hoàng Quốc Việt (Hạ Bá Cang), Bourov Dương Bạch Mai t́m đủ cách âm thầm tiêu diệt các “sứ quân” phản động–điển h́nh qua việc lùng bắt Huỳnh Phú Sổ, Trần Quang Vinh, và nhất là nhóm “Trốt-kít” như Huỳnh Văn Phương, Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm trong tháng 9/1945. Cuối Thu 1945, Nguyễn B́nh–tức Nguyễn Phương Thảo (1910-1951), nguyên Tư lệnh Đệ tứ Quân Khu ở Bắc, một cựu đảng viên VNQDĐ–được điều vào Nam thay nhóm Giàu và Cang. Hồ Chí Minh cũng kêu gọi toàn dân kháng chiến, gửi viện binh từ Bắc và Trung.

Nguyễn B́nh–người được Tướng Raoul Salan đánh giá cao hơn Vơ Nguyên Giáp về khả năng quân sự–áp dụng chính sách “nhà không đồng vắng” hay “tiêu thổ kháng chiến” bắt dân chúng phá hủy nhà cửa, ruộng vườn, cầu cống, đường xá, khiến ai nấy đều bị lôi cuốn vào cuộc chiến, hoặc đúng hơn–chiến tranh hoá đời sống. Những cơ sở kinh tế thuộc địa của tư bản Pháp–đặc biệt là những kho tàng và đồn điền cao su, trà v.. v..– trở thành mục tiêu của khủng bố, phá hoại. Hầu hết các kế hoạch khai thác Đông Dương sau chiến tranh của Pháp bỗng trở thành ảo ảnh biển hồ giữa sa mạc.

Lực lượng Việt Minh của Nguyễn B́nh, trên thực tế cũng chỉ là một thứ “sứ quân,” dù Phạm Ngọc Thạch, và rồi Phạm Văn Đồng từ cuối năm 1946, trên danh nghĩa vẫn là đại diện chính phủ trung ương. Điểm đặc biệt của phe Việt Minh, như đă lược nhắc, là vai tṛ của các cán bộ Cộng Sản mới ra khỏi các trại tù từ tháng 8/1945. Mặc dù ở hàng ngũ lănh đạo có sự tranh chấp giữa nhóm Trần Văn Giàu với những lănh tụ mới từ Côn Đảo trở về như Lê Duẩn, Phạm Hùng (Phạm Văn Thiện), cùng sự chia rẽ giữa hai tổ chức Việt Minh cũ và Việt Minh mới, số cán bộ và cán binh tăng viện từ miền Bắc giúp khai sinh một xứ ủy mới cho miền Nam, với Lê Duẩn làm Bí thư. (28)

Lê Duẩn–một cựu Ủy viên Ban Trung Ương Chấp Ủy lâm thời và Bí thư xứ ủy Trung Kỳ từ cuối thập niên 1930, trước khi bị bắt giữ ngày 17/1/1940 tại Sài G̣n–là tàn dư của tinh thần Cộng Sản quá khích thập niên 1930, với những khẩu hiệu và tâm niệm như “thanh trừ trí, phú, địa, hào, đào tận gốc trốc tận ngọn,” hay “cách mạng là tấn công.” Một trong những cộng sự viên của Duẩn–Bourov Mai hay Nguyễn Văn “Bảy” Trấn–cũng sắt máu không kém. Một công tố viên quân sự Pháp tại miền Nam từng mô tả Bourov Mai như “một con thú dữ hung bạo xổ xiềng,” gây nên bao cuộc thảm sát ở miền Đông Nam bộ–kể cả những cuộc thủ tiêu các lănh tụ “Trốt kít” như Trần Văn Thạch (1905-1945), Phan Văn Hùm (1902-1945), v.. v...– những trí thức chỉ phạm tội là đă yêu nước và chống lại tinh thần giáo điều Stalinism.( 29)

Dẫu vậy, bạo lực và sức mạnh tổ chức giúp Đảng CSĐD, dưới chiêu bài Việt Minh, thâu tóm dần độc quyền kháng chiến chống Pháp. Những an toàn khu tại Cà Mau (U Minh), Long An (Đồng Tháp Mười), B́nh Dương (chiến khu D), Phan Rang, Quảng Ngăi-B́nh Định (Liên Khu V) ngày thêm củng cố.

Trong khi đó, những thành phần không Cộng Sản tách biệt dần khỏi Việt Minh. Từ đầu năm 1946, giáo phái Cao Đài công khai chống Việt Minh. Giáo phái Ḥa Hảo–sau vụ án “đảo chính” ở Sài G̣n và cuộc đàn áp ở Cần Thơ vào tháng 9/1945–cũng kháng chiến theo phương cách riêng, ngả dần về lập trường chống Cộng. Sư đoàn 3 Dân quân của Nguyễn Ḥa Hiệp, về hợp tác với Pháp từ giữa năm 1946, với hy vọng lôi kéo những người quốc gia, không Cộng Sản, khỏi hàng ngũ Việt Minh. Một số giáo sĩ và giáo dân vơ trang tự bảo vệ, tiến dần đến việc thành lập Các Đơn Vị Lưu Động Bảo Vệ Giáo Xứ Thiên Chúa [UMDC] dưới quyền Thiếu úy Jean Léon Leroy. Ngay đến B́nh Xuyên cũng tự hùng cứ tại vùng Rừng Sác, không thần phục Nguyễn B́nh. Các quan Tướng Pháp, dĩ nhiên, không ngừng khai thác sự mâu thuẫn này, t́m cách “b́nh định” các sứ quân mới trên. Vào khoảng giữa năm 1946, miền Nam trên thực tế là lănh địa của nhiều sứ quân mà Pháp và Việt Minh chỉ là hai sứ quân mạnh nhất.

Chẳng cần là một nhà chiến lược siêu việt cũng có thể đoán biết cuộc chiến sẽ kéo dài.

 

II. PHÁP “MỚI:” 

Đô Đốc Georges Thierry d'Argenlieu (1889-1964), tân Cao Ủy Đông Dương, là người do de Gaulle đích thân tuyển chọn để dẫn “con tàu lạc bến” Đông Dương trở lại với đế quốc Pháp. Là một cựu sĩ quan Hải Quân, đi tu năm 1920 và được thụ phong linh mục, nhưng rồi bỏ tu theo pḥ de Gaulle chống chế độ Vichy từ năm 1940, ngay sau khi được bổ nhiệm làm Cao Ủy, d'Argenlieu vội dàn xếp một buổi yết kiến Hồng Y Roncalli (người sẽ trở thành Giáo Hoàng Giovani [John] XXIII, 1958-1963) để xin phép làm chính trị. Bộ Ngoại Giao Pháp cũng xin được giấy chấp thuận của triều đ́nh Vatican vào ngày 27/8/1945.( 30)

Rời Paris ngày 5/9, d'Argenlieu tạm thời đặt bản doanh ở Chandernagor, gần Calcutta (India), và cử Leclerc làm Đại biểu miền Nam vĩ tuyến 16. Măi tới ngày 30/10, sau khi Leclerc đă tái chiếm các đô thị lớn và do sự thúc dục của Leclerc cùng de Gaulle, d'Argenlieu mới tới Sài G̣n. Hai ngày sau, 1/11–đúng lúc đoàn tàu chở Sư đoàn 9 của Tướng Jean Valluy cặp bến–d'Argenlieu đọc một bài diễn văn truyền thanh ra mắt dân Đông Dương. D'Argenlieu tuyên bố:

Chúng tôi đến đây, tôi khẳng định, không để chinh phục, thống trị, bóc lột, nhưng để tái lập trật tự trong một căn nhà chung, dưới danh nghĩa một nước Pháp mới, cương quyết chống đối mọi nền độc tài, cải thiện việc an sinh xă hội, những nền tảng kinh tế, lư tưởng dân chủ, và như thế, một cuộc cải cách hành chính và chính trị cho những phần tử tiến bộ về tri thức cũng như tinh thần trong Liên Hiệp Pháp. [Nguyên văn: “Nous ne venons pas, je l'affirme, pour conquérir, dominer, exploiter, mais rétablir l'ordre dans la mission commune, au nom de la France nouvelle, forgés dans la résistance à toute dictature, plus que jamais éprise de progrès social, de franchises économiques, d'idéal démocratique, et donc, d'émancipation administrative et politique pour les membres intellectuellement et moralement évolués de l'Union Francaise)] (31)

 

Cũng trong ngày 1/11, d'Argenlieu kư một loạt Dụ [Ordonnance] và Nghị định [Décret], thành lập Hội đồng Liên bang Đông Dương (số 1), và những bổ nhiệm hành chính khác. Chính phủ Liên bang này gồm 10 “Cố vấn” hay Ủy viên [conseillers], do d'Argenlieu làm Chủ tịch, và Leclerc, Phó Chủ tịch, kiêm Ủy viên quân sự. Các Ủy viên gồm có Albert Torel, Tư pháp; Achille Clarac, Ngoại giao; Jean de Raymond, Chính trị; Esquisseaux, Kinh tế [sau đó, Guillanton]; Francois Bloch-Lainé, Tài chính; Marcel Ner, Giáo dục; Gassier, Công chính; và Solier, Y tế. Trong khi đó, Alessandri được cử làm Ủy viên Cộng Hoà [Commissaire République]–tức người cầm đầu hành chính–tại Kampuchea (Cao Miên); Cédile tại Nam kỳ; Maurice Vallat, Nam Trung Kỳ; Sainteny tại Trung và Bắc kỳ; và Đại tá Imfeld, Lào (15/10/1945).( 32)

Mặc dù coi cộng đồng Pháp kiều tại Đông Dương như xương sống của chế độ, d'Argenlieu phát động ngay chiến dịch “thanh trừng” [épuration] dư đảng Vichy, bằng Nghị định thành lập Ủy ban Thanh trừng các công chức Pháp ngày 15/11/1945. (33)

Từ tháng 10/1945, khi c̣n ở Chandernagor, d'Argenlieu đă cho lệnh dẫn giải cựu Toàn quyền Jean Decoux cùng các cộng sự viên cao cấp về nước. Ngoại trừ Georges Gautier, cùng vài người đă kịp chạy thoát qua Hoa Nam theo đạo quân của Tướng Sabattier và Alessandri như Louis Arthur Longeaux, Albert Torel, Jean de Raymond, tất cả đều bị câu lưu và cáo buộc các tội trạng từ “phản quốc” tới “làm mất quốc thể.” Những công chức cấp nhỏ hơn th́ phải trải qua một cuộc thanh lọc trước khi được tái bổ nhiệm. Trong khi đó, các phần tử cựu kháng chiến–phần đông gồm giới chủ đồn điền cùng các luật sư, kư giả lai Tây–thống trị sân khấu chính trị miền Nam.( 34)

D'Argenlieu chia miền nam vĩ tuyến 16 làm nhiều tiểu khu (secteur) để tiện việc b́nh định các vùng lănh thổ tái chiếm. Hầu hết các viên chức hành chính đều là quân nhân, với những phụ tá xuất thân ngành cảnh sát. Một số cựu công chức hoặc quân nhân người Việt có Pháp tịch hay hai ḍng máu Pháp-Việt được nắm giữ một số đơn vị hành chính. Lê Tấn Nẫm làm Tỉnh trưởng Tân An (15/11/1945). Thái Lập Thành, Tỉnh trưởng G̣ Công. “Hùm Sám” Nguyễn Văn Tâm–hung thần của Đảng Cộng Sản Đông Dương tại Cai Lậy (Mỹ Tho) trong đầu thập niên 1930 và nhất là hai năm 1940-1941–được giao lại quận cũ (25/12/1945). Leroy phụ trách b́nh định đảo An Hóa, tỉnh Bến Tre (1946). Các chỉ huy trưởng quân khu cũng tái lập những Ban Hội tề bản xứ. Binh sĩ phụ lưc th́ tuyển từ người Việt gốc Miên, Ê-đê và giáo dân Ki-tô.

Lực lượng Pháp tự do, dĩ nhiên, tụ họp ngay được một số hợp tác viên chân thành. Chính sách sắt máu của Việt Minh–như “ṃ tôm,” cắt đầu, móc mắt, cắt lưỡi, mổ bụng những nạn nhân bị cáo buộc là “Việt Gian” hay “phản cách mạng,” và tàn sát một số nhân vật tên tuổi như Bùi Quang Chiêu, Phủ Bảy Lê Quang Liêm, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Dương Văn Giáo, Huỳnh Văn Phương, v.. v..– tạo sự công phẫn cùng độ trong nhiều giới. Đại đa số những người sống sót và con cháu, thân quyến các nạn nhân t́nh nguyện ngả về phe Pháp, chống lại Việt Minh.( 35) Một trường hợp ngoại lệ là Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, người được giao trách nhiệm tổ chức Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam năm 1959, rồi trở thành Thủ tướng chính phủ lâm thời Cộạng Ḥa miền Nam Việt Nam từ ngày 6/6/1969. Cha, chú và cô ruột Phát đều bị Việt Minh hạ sát.( 36)

Tới tháng 11/1945, Pháp đă giúp tái khai sinh 4 đảng chính trị trong khu vực chiếm đóng. Đó là Đông Dương Tự Trị Đảng, Đảng Nam Kỳ, Đảng Dân Chủ, và Việt Nam Tân Dân Đảng. Đảng Nam Kỳ–gồm Luật sư Joseph Béziat, Omar Sarraut (con trai Albert Sarraut), William Bazé, Trần Văn Khá, Jacques Lê Văn Đức, Bùi Thế Kham và Nguyễn Tấn Cường–là tổ chức thân Pháp nồng nhiệt. Đảng này hứa cộng tác toàn diện với Pháp để “văn hồi luật pháp và an ninh trong thời khoản ngắn nhất,” và trong khuôn khổ Tuyên cáo 24/3/1945–tức thiết lập một Liên bang Đông Dương có năm xứ với quyền tự trị rộng răi hơn thời tiến chiến. Đảng Tân Dân Chủ của Y sĩ Nguyễn Văn Thinh (1888-1946) và những tổ chức khác th́ nuôi hy vọng lôi kéo được những người quốc gia rời bỏ hàng ngũ Việt Minh. Lănh tụ của những tổ chức này đều tham gia Hội Đồng Tư Vấn Nam Kỳ đầu tiên do Cédile thành lập vào tháng 2/1946.( 37)

Nhưng tại các vùng “Tề,” đời sống cũng đầy bấp bênh. Những cuộc ruồng bố của Mật Thám và pḥng nh́ Pháp, cùng những biện pháp tra tấn man rợ của các nhân viên thẩm cung, gây bất măn và kinh sợ cho mọi tầng lớp thị dân. Ngày 20/12/1945, chẳng hạn, Paris Presse đăng bài của René Dussart, tố cáo những hành động man dă mà quân đội Pháp đối xử với cán bộ Việt Minh (“atrocités commises par les militaires francaises sur la personne d'Annamites du Viet Minh”). Hai ngày sau, 22/12, Franc-Tireur viết bài Xă luận “La tâche de sang” [Ố Máu] nhắc đến một lá thư của một binh sĩ Pháp so sánh sự tàn bạo của lính Pháp tại Nam Bộ với những việc làm tương tự ở Oradour. Hăng Associated Press [AP] cũng đi tin của kư giả gốc Australia Nathan Bloch về sự tàn bạo của lính Pháp; và các báo Anh ngữ trên thế giới đều đăng tin này. Bloch, trên New York Herald Tribune [Diễn Đàn Tiền Phong New York] ngày 17/1/1946, c̣n tố cáo sự tàn bạo của Mật Thám Pháp tại Đông Dương. Ngay Cédile, nhiều hơn một lần than phiền về sự tàn bạo của quân viễn chinh Pháp.( 38)

Các nhóm tả phái Pháp kiều tại miền Nam, như nhóm văn hóa Marxist của Canac, cũng bí mật viết thư cho Phó Thủ tướng Maurice Thorez công khai phản đối, nhưng chẳng thay đổi được thói quen hung bạo của một số quân viễn chinh Pháp cùng các đơn vị lính đánh thuê. D’Argenlieu không có phản ứng, nhưng vài tháng sau, khoảng 400 binh sĩ xông vào đập phá ṭa soạn hai tờ báo tả phái, lục soát nhà tư một chủ báo, và lôi một kư giả từ giường bệnh ra ngoài đường hành hung dă man, trong sự thờ ơ của đông đảo lực lượng quân cảnh và an ninh đang đứng đầy trục lộ từ phi trường Tân Sơn Nhất tới Dinh Norodom để chờ đón d’Argenlieu từ Paris về.( 39)

Về phương diện kinh tế, d'Argenlieu và các cộng sự viên dành ưu tiên cho mục tiêu tái chiếm các kho tàng gạo và cao su thô mà chính phủ Decoux đă chôn dấu trong hai năm 1944-1945. Nguyên từ năm 1944, khi Nhật không thể chở cao su và gạo về mẫu quốc, Decoux phải mua lại một số cao su và gạo ứ đọng, tích trữ ở miền Nam. Sau khi chiến tranh chấm dứt, do t́nh trạng khan hiếm gạo và cao su ở ngay các nước sản xuất, phe Đồng Minh phối hợp việc xuất cảng hai nguyên liệu này qua cơ quan International Emergency Food Council [IEFC], hậu thân của Combined Food Board [CFB] trong thời chiến. Những mục tiêu giải toả của quân Đồng Minh và tù binh chiến tranh Nhật trong tháng 10/1945 gồm hầu hết các đồn điền Pháp trong khu vực Tây Ninh, Thủ Dầu Một và Biên Ḥa/Bà Rịa. Tính đến ngày 1/12/1945, Pháp đă thu hồi được 64,000 tấn cao su ở phía Bắc Sài G̣n, và 17,000 tấn ở phía Đông. trong tổng số hơn 170,000 tấn (chính phủƯ Pháp làm chủ 103,118 tấn, Germany sở hữu 15,000 tấn, và tư nhân làm chủ 52,250 tấn). Nhờ vậy, từ tháng 1/1946, Đông Dương đă xuất cảng được cao su và gạo.( 40)

Tuy nhiên, những khó khăn trên mặt trận kinh tế cũng bắt đầu hiển lộ. Việt Minh kiểm soát việc vận tải thực phẩm và lúa gạo cho các thành phố lớn, đặc biệt là Sài G̣n/Chợ Lớn; trong khi Pháp kiểm soát các mặt hàng tiêu dùng, thuốc men và xăng nhớt. Một thị trường đen phát triển mạnh, nhất là đường giây mua bán vũ khí, đạn dược. Vị thế các Hoa thương trên thị trường đen ngày một gia tăng. Nhờ được hưởng qui chế ngoại kiều Âu châu qua Hiệp ước Trùng Khánh ngày 28/2/1946, Hoa kiều lại thống trị nền kinh tế Việt Nam trong nhiều thập niên sẽ tới. Qua liên hệ chân rết với Đài Loan, Hong Kong, Singapore và các cộng đồng Hoa kiều Đông Nam Á, các tài phiệt Hoa duy tŕ và phát triển một hệ thống kiểu tội-ác-có-tổ-chức toàn vùng.

Trên phương diện tài chính, Bloch-Lainé đưa ra hai kế hoạch gây nhiều tai tiếng.

Kế hoạch thứ nhất, qua Sắc lệnh ngày 17/11/1945, nhằm thu hồi tất cả giấy bạc 500 cũ. Số giấy bạc 500 do Nhật phát hành từ tháng 3 tới tháng 9/1945–mực in màu đen trên nền xám xanh–bị mất giá trị. Phần số giấy bạc 500 khác, do Pháp phát hành trước tháng 3/1945, chỉ c̣n lại 70% trị giá.( 41) Sáu ngày sau, thêm Nghị định giới hạn số tiền mỗi lần rút khỏi Ngân hàng không quá 2,000 đồng. Biện pháp này nhắm vào cả Việt Minh lẫn các Hoa thương, đồng thời cắt giảm sự lạm phát của đồng bạc Đông Dương. Tuy nhiên, phản ứng của cả Việt Minh lẫn người Hoa, đặc biệt là các cấp chỉ huy lực lượng chiếm đóng phía Bắc vĩ truyến 16, vượt ngoài dự đoán của d'Argenlieu, tạo nên nhiều vụ bạo động và không khí căng thẳng tại Hà Nội. Đầu tháng 12/1945, d'Argenlieu phải sửa lại Sắc lệnh ngày 17/11 này.

Kế hoạch thứ hai là nâng hối xuất đồng bạc Đông Dương từ 10 lên 17 quan (franc) Pháp, hiệu lực từ ngày 26/12/1945. Kế hoạch này thuần có tính cách chính trị, ít nhất theo lời Bloch-Lainé giải thích, đó là nhằm biểu lộ sự độ lượng của chính phủ Pháp với quân nhân và công chức, giữa lúc đồng franc đang bị mất giá khủng khiếp. Đồng thời, Bloch-Lainé cũng hy vọng khuyến khích họ gửi tiền tiết kiệm về mẫu quốc.( 42)

Nhưng người chống đối nêu ra rằng từ tháng 1 đến tháng 8/1946, số tiền gửi về Pháp chỉ được 470 triệu quan, trong khi chính phủ Pháp phải chi tiêu tới 17 tỉ quan tại Đông Dương và 10 tỉ tại Pháp (ngân sách của cả Bộ Pháp quốc hải ngoại chỉ được 16 tỉ quan). Trong sáu tháng đầu năm 1947, Pháp phải chi tiêu 10 tỉ quan (8.5 tại Đông Dương, 1.5 tỉ tại Pháp). Ví dù quân nhân có gửi một phần tư lương về nước, cũng chỉ được 1.7 tỉ quan (100 triệu đồng), và chính phủ sẽ bị lỗ 6.8 tỉ quan.( 43) Quyết định tăng hối xuất, theo một số nhân chứng khác, chỉ làm giàu cho các tay trục lợi qua những đường giây buôn lậu tiền giữa Sài G̣n, Hà Nội và Hong-kong.( 44) Ngoài ra, quyết định trên c̣n đặc biệt ưu đăi các tài phiệt đang muốn rút vốn đầu tư khỏi Việt Nam, đặc biệt là Ngân Hàng Đông Dương (mà Hội truyền giáo Ki-tô có cổ phần lớn). Để chuẩn bị cho nền tự trị tài chính của Liên Bang Đông Dương, các viên chức Pháp cũng nghiên cứu việc thiết lập một viện phát hành tiền, thay thế cho Ngân Hàng Đông Dương, v́ sắp măn hạn giao kèo, và cũng v́ các viên chức Ngân hàng này bắt đầu t́m cách chuyển vốn đầu tư qua các thuộc địa khác, như Djibouti và Maroc [Morocco].

Một vấn đề không kém gai góc khác là kế hoạch in tiền “cụ Hồ” của chính phủ VNDCCH, phát hành rộng răi ở miền Trung và miền Nam từ ngày 31/1/1946, rồi sau đó tiêu dùng rộng răi ở miền Bắc từ cuối năm 1946.( 45)

Về phương diện chính trị, d'Argenlieu cùng cộng sự viên khá bận rộn và bối rối trong việc thiết lập nền tảng pháp lư cho Liên Bang Đông Dương với 5 xứ Miên, Lào, Bắc, Trung và Nam Kỳ mà Tuyên ngôn ngày 24/3/1945 của Bộ trưởng Thuộc Địa Giacobbi đă công bố sau chiến dịch Meigo. Trước đ̣i hỏi thống nhất ba kỳ của Hồ Chí Minh cũng như đại đa số các lănh tụ đảng phái Việt, d'Argenlieu và Ủy viên Cộng Hoà Cédile bắt đầu nuôi dưỡng một kế hoạch biến Nam Kỳ thành xứ tự trị.

Việc Thủ tướng de Gaulle đột ngột từ chức ngày 20/1/1946 dường thúc đẩy d’Argenlieu xúc tiến nhanh hơn việc thực hiện kế hoạch này, đặt Paris vào thế chuyện đă rồi. Để làm gương mẫu cho dân tộc Việt Nam và gây tiếng vang trong dư luận quốc tế, từ ngày 3/11/1945, d’Argenlieu chọn Kampuchea làm thí điểm đầu tiên để khai sinh đứa con đầu ḷng của Tuyên ngôn 24/3/1945. Sáu ngày sau, vua Sihanouk đồng ư. Ngày 7/1/1946, Pháp và Kampuchea kư một Hiệp ước biến Kampuchea thành một xứ tự trị của Liên Bang Đông Dương. Trong khi đó, Cédile làm việc với một số lănh tụ miền Nam để thành lập Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ. Nhân dịp Tết Bính Tuất (Thứ Sáu, 1/2/1946), D’Argenlieu đọc thông điệp quan trọng về chính sách của “nước Pháp mới.” Theo d’Argenlieu, ước muốn độc lập là tự nhiên và hợp lư, nhưng chưa đúng lúc. Người An-nam-mít cần kinh nghiệm trên đường đến độc lập, và Pháp sẽ sẵn sàng trợ giúp. D’Argenlieu cũng bác bỏ những lời chỉ trích Pháp là thực dân, đế quốc. Riêng với Nam Kỳ, Linh mục/Cao Ủy nói thẳng là chẳng phải Pháp nhu nhược, không có chủ trương rơ ràng. Với Pháp, Nam Kỳ của người Nam Kỳ. Họ được quyền tự do lựa chọn tương lai, trong khuôn khổ và tinh thần cấp tiến của Tuyên Ngôn 24/3/1945. Pháp sẽ thành lập Hội đồng Tư vấn Nam kỳ cho người Nam Kỳ tự quyết định thể chế tương lai. Người Nam kỳ, dĩ nhiên, không chỉ có dân An-nam-mit và c̣n có Pháp kiều cùng các sắc dân thiểu số khác.( 46)

Rồi ngày 12/2/1946, trước khi lên đường về nước tham khảo ư kiến tân chính phủ Félix Gouin (31/1-2/6/1946)–một chính phủ “très troisième république” [rất Đệ Tam Cộng Ḥa]–d’Argenlieu kư nghị định thành lập Hội Đồng Tư Vấn Nam Kỳ. Những ngày kế tiếp, các cộng sự viên của d’Argenlieu, đặc biệt là Cédile, phát động rầm rộ phong trào Nam Kỳ tự trị trong vùng Pháp chiếm đóng. Đảng Nam Kỳ của nhóm Nguyễn Tấn Cường được công khai hoạt động, với cánh tay ngoại vi Mặt Trận B́nh Dân Nam Kỳ phụ trách việc an ninh tại các vùng Pháp chiếm đóng. Khi phái đoàn Quốc hội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà [VNDCCH] qua Paris thăm viếng thân hữu, Cédile cũng cử Đại tá Nguyễn Văn Xuân cầm đầu một phái đoàn qua Pháp vận động cho Nam Kỳ được tự trị. Đầu tháng 6/1946, Y sĩ Nguyễn Văn Thinh (1888-1946)Ô–từng quen biết Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở Paris trong hai năm 1919-1920, một trong những lănh tụ Đảng Lập Hiến và rồi Đảng Dân Chủ ở miền Nam–được cử làm Thủ tướng chính phủ Cộng Ḥa Nam Kỳ tự trị. Hai ngày sau, 3/6, Thủ tướng Thinh kư với Cedile một Hiệp ước tương tự như Hiệp Ước sơ bộ giữa Thủ tướng Hồ Chí Minh với Ủy viên Cộng Ḥa miền Bắc là Jean Sainteny gần ba tháng trước–nước Pháp nh́n nhận Nam Kỳ như “một xứ tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội, tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương và khối Liên Hiệp Pháp.”

Tưởng cũng nên ghi nhận thêm là từ mùa Hè 1945, de Gaulle cũng nghiên cứu kế hoạch bí mật tái sử dụng Hoàng tử Vĩnh San (1900-1945), tức cựu hoàng Duy Tân (1907-1916). Đầu tháng 10/1945, khi Sư đoàn 9 Bộ Binh thuộc địa lục tục xuống tàu qua Đông Dương, Hoàng tử Vĩnh San được đưa về Paris, và đặc cách lên cấp Tiểu đoàn trưởng (Thiếu tá). Nhưng các giới chức thuộc địa Pháp không tán thành chủ trương thống nhất ba kỳ mà Vĩnh San đề nghị, v́ hoàn toàn trái ngược với Tuyên ngôn ngày 24/3/1945, nên quyết định gửi cựu hoàng về lại Réunion. Nhưng ngày 14/12, de Gaulle tiếp kiến Vĩnh San, rồi mười ngày sau, cựu hoàng lên đường về Réunion chờ lệnh mới, v́ với de Gaulle, vấn đề cấp thiết lúc đó vẫn là quân sự. Chính v́ “nhân tố mới” này, ngày 28/12, d’Argenlieu đă viết một thư mật cho de Gaulle, đề nghị chấp nhân hai tiếng “độc lập” nhưng chỉ có nghĩa là self-government [tự cai trị] mà Hồ Chí Minh đă bí mật đồng ư. D’Argenlieu c̣n ủy thác Thiếu tá Paul Mus mang thư mật trên về Paris ngày 2/1/1946. Nhưng chẳng may Hoàng tử Vĩnh San đă bị tử thương trong tai nạn phi cơ từ ngày 26/12/1945 ở Trung Phi. Cái chết đột ngột này khiến nhiều năm sau, d'Argenlieu c̣n ngậm ngùi ghi nhận:

Nhân tố mới bỗng tan thành mây khói như trong một giấc mơ! ['Le fait nouveau' s'évanouissait en fumée tel un rêve!]( 47) 

Kế hoạch cấp bách mà chính phủ Pháp “mới” đặt lên hàng đầu–để thực hiện một Liên Bang Đông Dương với 5 xứ tự trị, trên cơ bản Tuyên ngôn ngày 24/3/1945–là việc thương thuyết với Trung Hoa để đưa quân ra Bắc. Nhưng chính phủ Trùng Khánh và quan Tướng Trung Hoa đang chiếm đóng Bắc Đông Dương không hợp tác chặt chẽ và độ lượng như chính phủ Attlee hay Tướng lănh Bri-tên tại miền Nam. Ngay đến đại diện Pháp là Sainteny từng bị lính Trung Hoa làm khó dễ ở phi trường Gia Lâm khi từ Côn Minh trở lại Bắc Bộ, rồi bị bắt giữ ít giờ trong ngày 16/10/1945; và cả hai lần chỉ được thoát nạn nhờ sự can thiệp của phái đoàn cố vấn Mỹ.( 48)

Để đạt được mục tiêu thay quân Trung Hoa tại phía Bắc vĩ tuyến 16, Pháp phải liên tục nhân nhượng nhiều quyền lợi lănh thổ, chính trị, kinh tế và di dân. Nguy hại hơn nữa là do áp lực Trung Hoa–và nhất là v́ sự an nguy của hơn 20,000 Pháp kiều tại miền Bắc, đă nếm đủ mùi vị cay chua, bi phẫn từ tháng 3/1945, trong cảnh huống của các con tin–d’Argenlieu bắt buộc phải đạt một hiệp ước với chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà [VNDCCH] của Hồ Chí Minh, một thực thể chính trị mà cả Pháp lẫn Trung Hoa đều chưa–hoặc đúng hơn, không muốn công nhận.

Chúng ta sẽ đi sâu vào diễn biến cuộc tái chiếm miền Bắc trong chương sau.

Vũ Ngự Chiêu

(*) Đây là một chương trong Luận án Tiến sĩ Sử học của Vũ Ngự Chiêu, đệ tŕnh tại Đại học Wisconsin-Madison hai thập niên trước (1984). Chương này đă được bổ túc thêm khi tác giả nghiên cứu về khía cạnh kinh tế của chiến cuộc Việt Nam tại Pháp trong hơn ba năm 1985-1988. Tác giả muốn thân ái gửi đến các học sinh, sinh viên Việt, những người chỉ được đọc những tài liệu tuyên truyền của nhiều hơn một thế lực tham chiến trong những cuộc chiến bi thảm từ 1945 tới 1989.

Tác giả cũng trân trọng cảm tạ Hội đồng Fulbright đă tài trợ, cùng sự giúp đỡ của quí ông Tổng Giám đốc Văn Khố Pháp, Trung tướng Chỉ huy trưởng Sở nghiên cứu lịch sử Lục quân Pháp, quí vị Giám đốc các Trung tâm lưu trữ Mỹ, Pháp và Việt Nam khác cùng nhân viên, đă tạo những điều kiện tốt đẹp trong những cuộc du khảo. Tác gi